Chương 1: Bước Lên Đỉnh Gió
Hai bàn tay Quách Minh Khiêm tê dại vì ghì chặt ghiđông chiếc xe thồ chất đầy rương hòm và khí cụ đo đạc. Bánh xe bọc sắt trượt khục một tiếng trên sống đá trơn nhẫy bùn đỏ, suýt hất cả người lẫn xe xuống triền dốc đứng của đèo Măng Đen. Khiêm nghiến chặt răng, dồn toàn bộ sức nặng cơ thể đẩy mạnh gọng xe về phía trước, hơi thở phả ra trắng xóa giữa màn sương mù đặc quánh. Chiếc đồng hồ quả quýt trong túi áo khoác kaki bốn túi chỉ năm giờ chiều muộn. Đã là những ngày cuối mùa mưa bão năm 1935. Ở độ cao 1.250 mét so với mực nước biển, cái lạnh buốt thấu xương của cao nguyên Kon Tum táp thẳng vào mặt, đọng thành những hạt nước li ti trên tròng kính gọng đồi mồi của anh. Khiêm đưa mu bàn tay quệt vội tròng kính, mắt dán chặt vào bóng dáng xám xịt của Trạm quan trắc khí tượng sừng sững trên đỉnh dốc. Anh chỉ mong nhanh chóng ghi nhận xong chu kỳ áp suất bão cuối mùa để kịp chuyến xe đò xuôi về Quy Nhơn nhận chân giảng viên trường kỹ nghệ, đoàn tụ cùng vợ và đứa con trai nhỏ bốn tuổi đang ngóng đợi.
Vừa đẩy xe qua cổng rào dây thép gai rỉ sét, một bóng người mặc áo nẹp vàng sẫm lao ra từ làn sương đục, họng súng trường chĩa thẳng vào ngực Khiêm.
“Đứng lại! Ai?”
“Tôi là Quách Minh Khiêm, chuyên viên khí tượng do tòa công sứ phái lên!” Khiêm quát to, rút vội tập giấy giới thiệu có dấu sáp đỏ trong túi áo ngực.
Gã lính khố xanh thở phào một tiếng khô khốc, hạ nòng súng nhưng ngón tay vẫn run lẩy bẩy trên vòng cò. Phía sau gã, ba người lính bản xứ khác đang tất tả buộc túm bao tải hành lý lên lưng ngựa, mặt mày ai nấy tái mét. Viên đội dẫn đầu bước xộc tới, hai mắt thâm quầng như kẻ mất ngủ triền miên. Chẳng đợi Khiêm mở lời, gã ấn mạnh chùm chìa khóa đồng nặng trịch cùng tập sổ công văn bọc vải dầu vào tay anh.
“Thầy lên rồi thì ký nhận cho chúng tôi rút!” Viên đội nói như hụt hơi, giọng nghẹn lại sau cuống họng. “Trời sắp sập tối rồi. Phải xuống chân đèo trước khi sương đóng cửa núi, chậm một khắc là bỏ mạng!”
Khiêm cau mày nhìn vẻ hoảng loạn khác thường của toán lính “Khoan đã, ông JeanLuc Mercier đâu? Biên bản bàn giao trạm trưởng bắt buộc phải có chữ ký của ông ấy.”
Viên đội khựng lại, da mặt co giật từng chập. Gã giật phắt tập hồ sơ trên tay Khiêm, lật vội trang giấy cộp dấu mộc đỏ của đồn binh “Quan trạm trưởng Mercier mất tích rồi! Đúng hai mươi mốt ngày trước, ông ấy vác ba lô đi thực địa quanh đỉnh đèo rồi bặt tăm. Chúng tôi sục sạo khắp vách đá bazan suốt nửa tháng trời chỉ thấy cái mũ bấc vỡ nát bên miệng vực. Lệnh công sứ bảo giao trạm lại cho thầy. Chúng tôi không ở lại cái ổ chết chóc này thêm một phút nào nữa!”
Toán lính khố xanh chẳng buồn đợi Khiêm ký xong các mục. Viên đội th*c m*nh gót giày vào bụng ngựa, cả toán người lẫn súc vật vội vã tháo chạy thục mạng xuống con đường đèo trơn trượt, tiếng móng sắt gõ cuống cuồng trên nền đá rồi chìm nghỉm vào đáy vực mù sương.
Sự im lặng chết chóc lập tức nuốt chửng lấy khoảng sân đá phiến hoang lạnh. Chỉ còn tiếng gió rít từng hồi qua rặng thông đỏ, quẩn quanh các bức tường đá dày cộp của trạm khí tượng.
Bỗng một tiếng kim loại cạo sột soạt vang lên sau lưng.
Khiêm giật mình quay phắt lại. Cách bậc tam cấp vài bước chân, một người đàn ông bản địa đang đứng sừng sững trong sương lạnh tự lúc nào. Anh ta chừng hai mươi tám tuổi, vóc dáng săn chắc, ngực nở nang dưới tấm áo chẽn dệt sợi vỏ cây sờn rách, bắp chân vạm vỡ cắm chặt xuống nền đá phiến. Trên vầng trán gồ ghề hằn một vết sẹo mờ kéo dài đến tận chân mày, che chở cho đôi mắt sắc lạnh như chim cắt vùng rừng núi. Trong tay anh ta là một cây rựa phát nương bản rộng, lưỡi thép bóng loáng ánh lên vẻ cảnh giác gắt gao.
“Anh là A Brâng?” Khiêm hạ giọng hỏi, cố giữ ngữ điệu điềm tĩnh của một viên chức nhà nước. “Người phụ tá trạm ghi trong danh bộ?”
Người đàn ông không đáp ngay. Ánh mắt sắc bén của anh ta dò xét Khiêm từ cặp kính cận đồi mồi, chiếc áo khoác kaki bốn túi cho đến đôi ủng da cao cổ lấm lem bùn đất, rồi dừng lại ở ngực áo anh.
“Tôi là Brâng.” Giọng anh ta khàn đặc, cộc lốc như nhát búa nện vào đá. “Thầy Khiêm đến thay ông Tây lớn?”
“Phải. Từ nay tôi chịu trách nhiệm quan trắc tại đây.” Khiêm gật đầu, đưa tay toan kéo càng xe thồ vào hiên.A Brâng bỗng bước chéo một bước, chặn ngang lối đi, cây rựa trong tay hơi chúc xuống đất “Vào nhà thì vào ngay. Nhưng nhớ lấy một điều: chập tối buông xuống, cấm tuyệt đối không được bước ra mép vực đằng sau trạm.”
Khiêm khựng lại, chỉnh lại gọng kính “Tại sao? Bệ đo gió và vũ kế lật trên sàn nóc, cùng các mốc đo sát mép đá, tôi phải kiểm tra số liệu định kỳ mỗi canh giờ.”
“Sương đèo chiều nay đục khác thường.” A Brâng gằn từng tiếng qua kẽ răng, mắt liếc về phía thung lũng đang cuồn cuộn những đợt mây xám xịt bốc lên. “Gió mang mùi tanh. Ai ra mép đá giờ này, đá nó nuốt mất xác ráng chịu.”
Dứt lời, A Brâng quay lưng vác rựa đi thẳng vào cửa nách tầng trệt, không thèm ngoái đầu lại nhìn phản ứng của Khiêm.
Khiêm khẽ lắc đầu trước lời cảnh báo đầy vẻ dị đoan. Là một chuyên viên đo đạc, anh chỉ tin vào những gì biểu thị bằng con số, milimét thủy ngân và các định luật vật lý thực nghiệm.
Anh hít một hơi sâu, đẩy rương đồ đạc qua cánh cửa gỗ thông kiềng nặng trịch tiến vào tầng trệt. Không gian bên trong tối tăm, sực nức mùi ẩm mốc xen lẫn mùi dầu hỏa, hóa chất pha chế cùng vị rỉ sét nồng nặc. Nền nhà lát những phiến đá bazan xám đen bản lớn, được nẹp dầm gỗ kiên cố để chống chịu rung chấn mùa bão gió. Khiêm châm một ngọn đèn bão, giơ cao rà soát khoang chứa vật tư. Nơi góc buồng máy phát điện dynamo đặt sừng sững bốn bình thép lớn nén khí hydro dùng để bơm bóng thám không, lớp sơn xám đã tróc vảy từng mảng nhưng van đồng khóa áp suất vẫn còn nguyên niêm phong chì. Cạnh đó là sáu can thiếc loại hai mươi lít chứa đầy dầu hỏa dự trữ cho đèn bão và bếp sưởi. Mọi thứ vẫn ngăn nắp, ngoại trừ lớp bụi ẩm bám dày và bầu không khí ngột ngạt đến tức ngực.
Khiêm xách túi tài liệu, men theo cầu thang gỗ dốc đứng bước lên phòng làm việc tầng hai.
Căn phòng có chiếc vọng lâu bán nguyệt nhô hẳn ra ngoài mép vực, lắp những ô kính dày kín gió chịu lực nhìn bao quát toàn bộ đỉnh đèo. Nhưng lúc này, bên ngoài khung kính chỉ là một bức màn sương mù xám xịt vô tận. Sương lạnh ép chặt vào mặt kính, ngưng tụ thành từng vệt nước ngoằn ngoèo chảy dài như những vết cào cấu. Đứng giữa căn phòng trống hoác, bốn bề chỉ có tiếng gió đèo rít qua khe cửa kẽ ngói, Khiêm bỗng cảm nhận rõ rệt sự cô độc tột cùng giữa đỉnh núi âm u. Cách biệt hoàn toàn với thế giới bên dưới chân đèo, xung quanh anh chỉ có rừng già nguyên sinh và vực thẳm sâu hun hút.
Nhịp tim bất giác đập nhanh hơn. Theo thói quen mỗi khi căng thẳng, Khiêm đưa bàn tay chai sần lên mặt bàn gỗ sồi, gõ nhẹ đầu ngón tay đếm nhịp giây: một, hai, ba, bốn... Nhịp đếm đều đặn giúp tâm trí anh lấy lại sự thăng bằng duy lý.
Khiêm bước tới góc phòng đặt bàn ghi chép số liệu khí tượng. Bên cạnh chiếc máy tự ghi áp suất barometer với dải giấy sáp phủ muội than là một ống trụ bằng đồng sáng bóng: chiếc áp kế thủy ngân Fortin. Đây là trái tim của trạm quan trắc, dụng cụ chính xác nhất để anh theo dõi biến động khí quyển của đỉnh đèo.
Anh rút cuốn sổ nhật ký trạm mới toanh, cúi xuống vặn nhẹ ốc ngà voi ở đáy áp kế để điều chỉnh mặt thoáng thủy ngân ngang bằng với đầu kim mốc.
Nhưng ngay khi mắt Khiêm nhìn ngang vạch chia độ trên ống đồng, sống lưng anh bỗng lạnh toát.
Cột thủy ngân bên trong ống thủy tinh đang rung rinh dữ dội. Nó không đứng yên ở mức cân bằng tĩnh, mà giật cục tụt xuống rồi lại dội ngược lên từng milimét một cách bất thường, bất chấp việc kim của chiếc phong kế trên nóc tháp lúc này vẫn nằm im lìm và ngoài trời chưa hề có dấu hiệu của một cơn giông. Khí áp không thể dao động hỗn loạn như một sinh vật sống th* d*c như thế.
Khiêm nín thở, ghé sát mắt hơn vào mặt kính áp kế.
Đúng lúc ấy, từ sâu dưới nền đá phiến của trạm—nơi tiếp giáp với vách đá bazan của lòng núi Măng Đen—vọng lên một âm thanh lạ lùng.
Đó không phải tiếng gió luồn qua khe gỗ, cũng chẳng phải tiếng róc rách của mạch nước ngầm. Âm thanh ấy trầm đục, nghẹn ứ và dằng dặc, nghe rõ mồn một như một tiếng thở dài thê lương vừa trút ra từ chính lòng đất đá lạnh buốt.
Bẫy Sương Trên Trạm Gió Măng Đen