Chương 3: Phong Kế Quay Ngược

Cần đòn bẩy bằng đồng của chiếc máy tự ghi áp suất vẫn còn rung lên bần bật như một dây cung vừa bật nảy. Dưới ánh sáng vàng vọt chập chờn của ngọn đèn bão đang phả ra làn khói đen khét lẹt, vệt rách toạc trên dải giấy sáp phơi bày một vết thương sâu hoắm, nham nhở muội than.

Khiêm nín thở, hai thái dương giật giật từng cơn buốt nhói. Bàn tay anh bấu chặt vào mép bàn gỗ sồi, các khớp ngón tay trắng bệch. Theo phản xạ nghề nghiệp của một chuyên viên đo đạc, anh lập tức nhào tới trụ áp kế thủy ngân Fortin gắn cố định trên vách đá phiến đối diện.

Dưới lớp ống thủy tinh bảo vệ, cột thủy ngân sáng loáng đang dao động dữ dội. Mặt khum thủy ngân hạ thấp xuống mức sáu trăm chín mươi tám milimét, rồi lại nhích lên một cách ngập ngừng, bất thường. Không hề có một cơn dư chấn địa chấn nào làm rung chuyển sàn đá dưới chân, cũng chẳng có tiếng sấm rền từ đèo xa. Chỉ có sự tĩnh lặng rợn người của trạm đá giữa đêm đen, và cái mùi khét của dầu hỏa bốc lên nồng nặc trong căn phòng vọng lâu đóng kín.

Khiêm đưa tay lên ngực áo kaki, gõ đầu ngón tay đếm nhịp giây: một, hai, ba... Mười nhịp thở trôi qua, lồng ngực anh mới dần bớt thắt nghẹn. Anh cắn chặt môi, rút chiếc khăn tay lau mồ hôi lạnh rịn đầy trán, tự trấn an rằng đây chỉ là một túi khí nén ngầm nào đó dưới hốc đá bazan vừa thoát hơi qua các khe nứt địa tầng.

Đêm ấy, Khiêm không thể chợp mắt lấy một phút. Anh ngồi chết lặng trên chiếc ghế tựa bên bàn trực, mắt dán chặt vào ngọn bấc đèn bão, lắng nghe từng tiếng tích tắc khô khốc của cỗ máy đồng hồ cơ học.

Trời rạng sáng không mang theo một tia nắng nào.

Khiêm đẩy cánh cửa chớp nhỏ của vọng lâu nhìn ra ngoài. Màn sương mù từ thung lũng sâu dâng lên cuồn cuộn, mịt mù tựa một bức tường sữa đặc quánh, nuốt chửng hoàn toàn rặng thông đỏ quanh trạm. Tầm nhìn bị bóp nghẹt chưa đầy ba sải tay. Toàn bộ trạm khí tượng như một hòn đảo đá cô độc bồng bềnh giữa biển mây trắng đục vô tận. Hơi nước buốt giá ép sát vào các ô kính, ngưng tụ thành từng vệt nước dài chảy ngoằn ngoèo tựa những giọt nước mắt lạnh tanh.

Nhiệt độ ngoài trời hạ xuống chỉ còn chín độ Bách phân. Độ ẩm không khí bão hòa một trăm phần trăm.

Đúng bảy giờ sáng, Khiêm khoác lại chiếc áo kaki bốn túi sờn gấu, cài kín cúc cổ áo, xỏ chân vào đôi ủng da cao cổ rồi cầm theo cuốn sổ nhật ký chuyên viên và chiếc bút chì ngòi sắt. Anh cần thực hiện ca kiểm tra lộ thiên định kỳ đầu tiên trong ngày.

Cầu thang sắt xoắn ốc dẫn lên tháp nóc trần lạnh buốt như băng. Khiêm đẩy nắp cửa sập bằng gỗ thông kiềng bọc tôn, bước ra khoảng sàn nóc bằng đá phiến lộ thiên ở độ cao một nghìn hai trăm năm mươi mét.

Gió rít qua tai anh từng đợt u u. Sương mù quất thẳng vào mặt Khiêm từng luồng ẩm ướt, làm mờ đặc tròng kính gọng đồi mồi. Anh tháo kính, dùng vạt áo lau vội rồi bước lại bệ đo khí tượng.

Chiếc vũ kế lật hứng nước mưa đặt trên bệ đá vẫn nằm im lìm, phễu đồng chỉ đọng một lớp sương ướt sũng chứ không hề có lượng nước mưa tích tụ. Nhưng khi Khiêm quay sang giá đỡ phong kế Robinson, bước chân anh bỗng khựng lại.

Ba quả cầu rỗng bằng đồng mạ nickel của chiếc phong kế đang quay cuồng điên dại.

Trục thép xoay tít phát ra tiếng rít ken két chói tai, bánh răng truyền động bên dưới liên tục nhảy số. Thế nhưng, mắt Khiêm nhìn trừng trừng lên bầu trời sương mù phía trên đầu. Những dải mây xám chì rách tơi tả và luồng sương tầng cao rõ ràng đang trôi vun vút từ hướng đông bắc sang tây nam theo đúng trục gió mùa.

Vậy mà, cả ba chén đón gió bằng đồng lại đang xoay tít theo chiều ngược lại hoàn toàn!

Từng vòng quay đón gió cuộn tròn ngược chiều với luồng mây trên đỉnh đầu, như thể có một lực hút vô hình cực mạnh từ đáy vực phía đông bắc đang kéo ghì toàn bộ luồng khí quyển tầng sát mặt đất chui tọt vào lòng vách đá bazan xốp.

“Vô lý...” Khiêm lẩm bẩm, quai hàm bạnh ra. “Trái quy luật khí động học...”

Hiện tượng đảo lộn đối lưu này đi ngược lại toàn bộ kiến thức vật lý khí quyển mà Khiêm từng được đào tạo tại Hà Nội. Trong một khối khí quyển đồng nhất, không thể nào tồn tại sự nghịch chuyển vận tốc và hướng dòng khí đột ngột đến mức đối kháng trực diện như thế này ở cùng một bình độ sát mặt đất.

Anh vội vàng mở cuốn sổ tay chuyên viên bọc vải dầu. Ngón tay cứng đờ vì cóng lạnh kẹp lấy cây bút chì, ghi vội chuỗi số liệu: áp suất dao động ở ngưỡng bảy trăm linh một milimét, tốc độ gió tầng mặt đo được mười hai mét mỗi giây hướng nghịch trục mây trôi. Nét chữ sắt nhọn hằn sâu lên trang giấy ẩm. Khiêm đứng chôn chân trên nóc tháp giữa màn sương lạnh ngắt, trong lòng ngập tràn sự hoài nghi và bất an tột độ.

Cả ngày hôm ấy trôi qua trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở. Màn sương đặc quánh không hề tan đi mà càng lúc càng siết chặt lấy trạm đá. Dưới tầng trệt, A Brâng im lặng như một cái bóng, chỉ ngồi co ro bên bếp than cời dở, mắt đăm đăm nhìn vào khoảng tối của kho vật tư. Hai người hầu như không nói với nhau lời nào; sự nghi kỵ và căng thẳng bao trùm bầu không khí như một lớp màng vô hình.

Đến canh ba của đêm thứ hai, đỉnh đèo Măng Đen bỗng nhiên rơi vào một khoảng lặng chết chóc.

Gió ngưng bặt. Những ngọn thông đỏ ngoài vách đá rủ xuống bất động. Sự tĩnh lặng tuyệt đối đến mức Khiêm có thể nghe thấy cả tiếng máu chảy rần rật nơi màng nhĩ và nhịp kim giây khô khốc của chiếc đồng hồ quả quýt trong túi áo. Căn phòng vọng lâu kín như bưng, ngọn đèn bão đứng im phắc không một gợn khói.

Giữa lúc ấy, một âm thanh đanh thép, rợn người bỗng xé toạc không gian tĩnh mịch Keng! Keng! Keng!Tiếng chuông đồng cảnh báo dông cơ học trên nóc trạm bỗng tự động gióng lên từng hồi dồn dập.

Tiếng kim loại va đập gắt gỏng, điên cuồng, dội thẳng qua lớp trần đá xuống buồng trực.

Khiêm bật dậy như bị điện giật, chiếc ghế gỗ ngã ngửa ra sau sàn kêu một tiếng rầm.

Chưa kịp định thần, cánh cửa thông xuống tầng trệt đã bị giật tung. A Brâng lao vọt lên cầu thang, gương mặt người đàn ông Mơ Nâm xám ngắt dưới ánh đèn, đôi mắt mở to hoang dại, hai bàn tay gân guốc ghì chặt chuôi cây rựa phát nương. Vết sẹo mờ từ trán xuống chân mày anh ta giật giật liên hồi.

“Thầy Khiêm! Chuông báo... chuông báo vách đá!” A Brâng th* d*c, giọng khàn đặc run rẩy.

“Không thể nào! Chuông chỉ reo khi có bão lớn hoặc dông sét đánh qua kim thu lôi!” Khiêm gắt gỏng, chụp lấy chiếc đèn bão trên bàn. “Trời đang lặng gió hoàn toàn!”

“Đừng lên, thầy ơi! Nó đang gọi đấy!” A Brâng giơ rựa cản đường, hàm răng va vào nhau lộp cộp.

“Tránh ra!”

Khiêm gạt tay A Brâng, đẩy tung cửa sập, lao thẳng lên tháp nóc trần. A Brâng chần chừ nửa giây rồi cũng nghiến răng bám sát theo sau, lưỡi rựa sáng loáng vung lên thủ thế.

Gió đêm vẫn đứng im phắc. Màn sương đục ngầu cuộn tròn bao bọc lấy nóc trạm như một lớp mạng nhện khổng lồ.

Thế nhưng, ngay trên bệ đá lộ thiên, cỗ máy cảnh báo dông bằng đồng thau đang rung lên bần bật. Cần búa sắt gõ liên hồi vào vành chuông đồng: cheng, cheng, cheng!

Khiêm nhào tới, rọi thẳng luồng sáng đèn bão vào hộp máy.

Mắt anh trợn tròn kinh ngạc. Chốt thép của dây cót hãm cơ học vẫn đang đóng chặt! Bánh răng ngắt lực không hề nhả ra. Không có bất kỳ một xung lực cơ học nào từ bộ dây thiều truyền tới, nhưng cần búa sắt vẫn nảy giật cục từng nhịp điên loạn như thể bị một lực hút vô hình kéo giật liên tục.

Cùng lúc đó, một làn hơi lạnh buốt từ mép vực thốc ngược lên mặt Khiêm.

Đó không phải là mùi ẩm ướt của cỏ cây sau mưa, mà là một mùi tanh nồng lợm giọng, xộc thẳng vào cuống họng tựa như mùi rỉ sắt ngâm trong máu ươn lâu ngày.

A Brâng lùi lại một bước, đưa tay bịt mũi, giọng run bần bật “Mùi này... Đúng là mùi của hốc đá rỉ máu...”

Khiêm cố nén cơn buồn nôn đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Lý trí khoa học gào thét trong đầu anh, đòi hỏi một lời giải thích bằng cơ chế vật lý. Anh siết chặt quai xách chiếc đèn bão, bước nhanh lại gần lan can đá phiến bảo vệ của tháp nóc trần.

“Đứng yên đó, A Brâng!” Khiêm ra lệnh, giọng đanh lại để che giấu nỗi sợ.

Khi Khiêm rọi luồng sáng đèn bão qua lan can nóc trạm xuống khoảng không mịt mù phía ngoài vách vực, ngọn lửa vàng yếu ớt chỉ soi thấy những mỏm đá bazan đen trũi lởm chởm và vực thẳm sâu hun hút không đáy.

Đúng lúc ấy, một âm thanh rất khẽ lọt vào tai Khiêm giữa tiếng chuông đồng rền rĩ Tách... Tách...

Âm thanh nhão nhoét rơi xuống ngay mép đá.

Khiêm giật mình, hạ thấp ngọn đèn rọi xuống chân. Mũi ủng da của anh chỉ cách mép gờ đá một khoảng gang tay. Ngay trước mũi giày, một vệt dịch lỏng màu nâu đỏ sền sệt đang từ từ nhỏ giọt từ trên thanh xà ngang kim loại của cột phong kế xuống bệ đá ngay dưới chân anh, từng giọt nhớp nháp bốc lên một làn khói mỏng lượn lờ trong sương lạnh.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.