Chương 5: Bước Chân Trong Kho

Khiêm khựng người trong tích tắc khi luồng khí ẩm buốt thốc thẳng vào sống mũi. Mùi tanh tưởi của mủ rễ cây mục rữa hòa lẫn máu ươn xộc vào cuống họng khiến dạ dày anh cuộn thắt dữ dội. Bằng phản xạ sinh tồn, Khiêm nghiến chặt răng, lao cả bả vai về phía trước, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể th*c m*nh vào cánh cửa gỗ thông kiềng dày cộp.

Rầm!

Cánh cửa va mạnh vào khung đá phiến. Luồng gió rít bên ngoài như một bàn tay vô hình cố giằng lại, khiến then sắt rung bần bật dưới lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi của Khiêm.

“A Brâng, cài then! Mau lên!” Khiêm gằn giọng qua kẽ răng, lồng ngực thắt lại vì lạnh.

A Brâng lập tức lao tới, cây rựa kẹp bên sườn, hai bàn tay gân guốc chộp lấy thanh gỗ chốt ngang dày hai tấc sập mạnh vào hai ngàm thép chôn sâu trong tường đá. Tiếng then gỗ trượt khít mang lại một khoảng lặng nghẹt thở. Cả hai tựa lưng vào cánh cửa đóng chặt, lồng ngực phập phồng, hơi thở phả ra thành những làn khói trắng đục trong căn phòng ẩm mốc của tầng trệt.

Bên ngoài, tiếng gió đèo gầm rít như muốn cào xé vách đá. Tuyến đường mòn độc đạo phía tây đã bị chôn vùi dưới hàng ngàn khối đất đá bazan; cáp điện tín đứt lìa rơi xuống vực sâu. Trạm khí tượng Măng Đen ở độ cao 1.250 mét giờ đây là một pháo đài trơ trọi giữa biển sương hoang vu, hoàn toàn bị tước đoạt mọi mối liên hệ với thế giới bên ngoài.

Khiêm đưa tay quệt ngang giọt nước mưa còn đọng trên gọng kính đồi mồi, cố gắng lấy lại sự tỉnh táo duy lý của một chuyên viên quan trắc. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo này, hoảng loạn đồng nghĩa với tự sát. Điều cấp thiết nhất lúc này không phải là tuyệt vọng tìm kiếm đường rút lui, mà là kiểm soát chính xác từng nguồn tài nguyên sinh tồn còn lại trong trạm.

“Đường đã đứt, cứu viện sẽ không thể tiếp cận trong nhiều ngày tới,” Khiêm trầm giọng, đưa mắt nhìn ngọn đèn bão đang bập bùng trên chiếc bàn gỗ nẹp đồng. “Chúng ta phải kiểm kê nghiêm ngặt toàn bộ trang thiết bị dự trữ ở tầng trệt. Từ lương thực, dầu hỏa cho đến kho hóa nghiệm. Phải biết rõ ta còn những gì để giữ trạm.”

A Brâng lau vệt nước mưa trên trán, vết sẹo mờ nơi chân mày giật giật theo từng nhịp thở dồn: “Thầy nói phải. Nhưng kho vật tư nằm sát vách sau lưng trạm, nơi gần miệng vực bazan nhất. Cẩn thận vẫn hơn.”

Khiêm nhấc ngọn đèn bão, vặn to bấc để ánh lửa vàng quét rộng hơn qua khoảng tối nhờ nhờ. Anh bước qua gian hành chính, hướng về cánh cửa gỗ dẫn vào kho chứa vật tư nằm sâu ở góc đông bắc tầng trệt. Nơi này vốn lưu trữ dụng cụ sửa chữa cơ khí, các kiện hàng hóa nghiệm và đặc biệt là nguồn dự trữ chiến lược của trạm.

Thế nhưng, vừa bước tới ngưỡng cửa kho, bước chân Khiêm bỗng khựng lại. Tim anh đập dồn dập nơi màng nhĩ.

Trên nền đá phiến lạnh ngắt, dải tro bếp mịn mà A Brâng cẩn thận rải quanh bậu cửa để phát hiện vật lạ bò vào nhà đã bị dẫm nát vụn.

Lớp tro trắng xám tơi xốp không còn nguyên vẹn mà hằn sâu những vết kéo lê nham nhở, dính bết chất dịch bùn màu đỏ sẫm. Dấu vết ấy không mang hình dáng bàn chân người hay móng vuốt thú rừng; nó tựa như một vệt trườn nặng nề của một búi rễ cây khổng lồ nhớp nhúa bị kéo lết qua nền đá. Đáng sợ hơn, vệt dịch đỏ sẫm ấy bắt nguồn từ phía cầu thang dẫn lên tháp quan sát, trườn ngoằn ngoèo qua khoảng sân gạch rồi đâm thẳng vào khoang chứa bốn bình nén khí hydro.

“Thầy Khiêm... nhìn bậu cửa kìa...” A Brâng thì thào, giọng khàn đặc run rẩy. Anh nâng cây rựa lên ngang ngực, mắt trừng trừng nhìn vệt trườn nhầy nhụa đang bốc lên làn khói mỏng thoang thoảng mùi lưu huỳnh.

Khiêm nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt. Anh giơ cao lồng đèn, soi từng tấc đất dọc theo vệt dịch bùn đỏ. Chất lỏng chưa kịp khô, vẫn đang sủi bọt li ti trên các khe nứt của đá bazan lát nền, xèo xèo ăn mòn lớp tro bụi mịn.

Nén chặt nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt lồng ngực, Khiêm bước chậm rãi vào trong kho. Mùi ẩm mốc hòa cùng mùi kim loại hoen rỉ bao trùm không gian chật hẹp.

Bốn bình thép nén khí hydro dùng để bơm bóng thám không đứng sừng sững ở góc tường, xếp thành một hàng ngay ngắn cạnh sáu can thiếc chứa dầu hỏa loại hai mươi lít. Khiêm tiến sát lại, cúi đầu kiểm tra tỉ mỉ từng chi tiết cơ khí. Vỏ bình thép dày đúc chịu áp lực cao vẫn còn nguyên vẹn, lớp sơn xám chống rỉ chưa hề bị móp méo, các chốt niêm phong bằng chì và van xả áp suất bằng đồng thau vẫn đóng chặt theo đúng quy chuẩn an toàn.

Thế nhưng, khi ngọn lửa đèn bão hắt ngang thân bình thép thứ hai, da đầu Khiêm tê rần.Bám chặt trên bề mặt kim loại lạnh buốt không phải là rêu mốc thông thường, mà là một mạng lưới sợi li ti dày đặc màu huyết dụ. Chúng đan cài chằng chịt vào nhau như một tấm mạng nhện đỏ rực, vươn những giác hút siêu nhỏ như đầu kim găm sâu vào từng kẽ ren kim loại của van áp suất. Dưới ánh sáng lờ nhờ, những sợi huyết dụ ấy đang co giật nhè nhẹ từng nhịp tuần hoàn kỳ dị, tựa như những mạch máu đang co bóp để hút lấy hơi lạnh ngưng tụ trên vỏ bình thép.

Khiêm run rẩy rút chiếc bút chì ngòi sắt trong túi áo, khẽ chạm đầu kim loại vào một túm sợi nấm. Ngay tức khắc, búi sợi đỏ co rúm lại, tiết ra một giọt d*ch nh*n màu nâu đỏ bốc mùi tanh nồng quen thuộc.

“Là nấm ký sinh...” Khiêm lẩm bẩm, giọng anh lạc đi giữa tiếng gió rít qua khe vách. “Nó không phá hủy vỏ thép... Nó bị thu hút bởi áp suất ngưng tụ và kim loại lạnh...”

Chưa kịp để Khiêm kiểm tra tiếp các can dầu hỏa, một thanh âm kinh hãi bất ngờ xé toang bầu không khí ngột ngạt của trạm đá.

Cộc! Cộc! Cộc!

Tiếng va đập khô khốc, dồn dập vang lên từ phía trên đầu họ. Âm thanh xuất phát từ phòng vọng lâu tầng hai — chính xác hơn là từ những ô kính chắn gió chịu lực quay mặt ra vách đá bazan dựng đứng phía đông bắc.

Cộc! Cộc! Rầm!

Tiếng đập mỗi lúc một dồn dập, điên cuồng như có người đang dùng cả bàn tay hoặc thân mình nện thình thịch vào mặt kính, tuyệt vọng đòi mở cửa vào trong. Nhưng điều phi lý đến rợn gáy là phía sau lớp kính đó là khoảng không hun hút của miệng vực sâu hàng trăm mét. Ở độ cao chênh vênh của đỉnh đèo Măng Đen, không một sinh vật sống nào có thể lơ lửng giữa lưng chừng trời để đập cửa như thế.

“Trời đất ơi...” A Brâng lảo đảo lùi lại một bước, hai mắt dại đi vì kinh hoàng. “Ngoài kính... ngoài kính là vực thẳm... Ai đang đứng ngoài đấy?”

“Đi lên!” Khiêm quát khẽ để dằn lại cơn run rẩy nơi đầu gối. Anh siết chặt quai xách đèn bão, quay phắt người lao nhanh về phía cầu thang.

Hai người bước dồn dập trên từng bậc gỗ thông kiềng, tiếng ủng da dộng lên sàn bậc thang vang dội giữa ngôi nhà đá u uất. Không khí trên tầng hai buốt giá hơn hẳn, gió bão quất từng đợt dữ dội làm rung lắc toàn bộ hệ thống khung dầm gỗ.

Vừa đặt chân vào buồng vọng lâu, một cảnh tượng hãi hùng đập thẳng vào mắt Khiêm.

Gió xoáy bên ngoài rít lên từng hồi chói tai qua các khe đá bazan rỗng, tạo thành những tiếng hú u u tựa hồ dàn còi hơi khổng lồ. Và trên bề mặt tám ô kính chịu lực nhìn ra mép vực, hàng chục xúc tu màu huyết dụ mảnh như sợi chỉ đang bò lổm ngổm. Chúng luồn lách qua các mép nẹp gỗ bị gió ép cong vênh, trườn bám trên mặt thủy tinh dày, quẫy đạp điên cuồng và cào ken két lên lớp kính chắn gió như móng tay sắt cào xé trong cơn giãy giụa.

Rắc!

Dưới sức ép khủng khiếp của luồng gió quẩn và sự xâm lấn của mạng sợi đỏ, ô kính trung tâm vọng lâu bắt đầu rạn nứt. Những đường rạn hình mạng nhện lan nhanh trên mặt kính, phát ra tiếng kêu răng rắc rợn người.

Khiêm nén chặt hơi thở, nâng cao ngọn đèn bão bước sát lại gần khung cửa nứt toác. Ánh lửa vàng hắt xuyên qua lớp thủy tinh mờ đục vì sương lạnh và những vệt nứt chằng chịt, soi rọi vào khoảng không sâu hàng trăm mét bên ngoài.

Và ở đó, lơ lửng ngay sát mép kính, một gương mặt người nhợt nhạt trắng bệch như xác chết ngâm nước đang ép chặt vào khung cửa. Đôi mắt kẻ đó đã rỗng hoác không còn tròng mắt, ngập đầy những búi sợi nấm màu đỏ sẫm đang ngoe nguẩy rỉ máu, miệng há hốc bất động giữa màn sương mù cuộn sóng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.