Chương 4: Đất Lở Cắt Đường
Từng giọt dịch lỏng màu nâu đỏ sền sệt rơi xuống phiến đá lạnh ngắt, phát ra những tiếng tách nhão nhoét. Làn khói mỏng bốc lên mang theo mùi tanh nồng của rỉ sắt ngâm máu ươn xộc thẳng vào cuống họng Khiêm, khiến anh buồn nôn dữ dội. Ngay trước mũi ủng da, bệ đá bazan xốp sủi bọt li ti ở nơi chất dịch chạm vào. Cần búa sắt của cỗ máy cảnh báo dông bỗng khựng lại, đập một tiếng “coong” nghẹn ngào rồi rơi vào im bặt tuyệt đối. Dây cót hãm cơ học vẫn đóng chốt, không một bánh răng nào chuyển động.
“Rút thôi, thầy Khiêm!” A Brâng giật mạnh vạt áo khoác kaki của Khiêm, bàn tay run rẩy ghì chặt cán rựa. “Mùi của hốc đá rỉ máu đấy... Gió độc sắp thốc lên rồi!”
Dưới ánh đèn bão chao đảo, Khiêm nhận thấy những sợi tơ mảnh mang sắc đỏ thẫm đang co rút vào kẽ rỉ sét của cột phong kế như lẩn trốn sức nóng. Một luồng gió buốt từ miệng vực đông bắc thốc ngược lên, cuốn theo hơi sương cay xè hất vào mặt hai người. Thấy luồng khí quyển chuyển động bất thường, Khiêm dằn nỗi hiếu kỳ khoa học xuống, xách đèn bão cùng A Brâng lao qua cửa sập, giật mạnh cánh cửa gỗ bọc kẽm và chốt chặt buồng trực tầng hai.
Đêm hôm ấy trôi qua trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng kim giây chiếc đồng hồ quả quýt đếm từng nhịp khô khốc trong túi áo hòa cùng tiếng gió rít qua vách đá bazan ngoài vực.
Đến rạng sáng ngày thứ ba, bầu trời Măng Đen đột ngột đổi sắc.
Màn sương đục ngầu bị khối không khí lạnh từ phía bắc nén chặt lại. Áp kế Fortin rung bần bật, cột thủy ngân tụt nhanh xuống mức 690 milimét thủy ngân. Không khí ngột ngạt khiến buồng phổi căng tức như bị bóp nghẹt.
Ầm!
Một vệt sét trắng lóa rạch ngang vòm trời, xé toạc màn sương mù ẩm ướt thành những mảng tơi tả. Tiếng sấm nổ vang rền như pháo lệnh dội thẳng vào đỉnh đầu. Cơn mưa dông hung hãn lập tức trút nước xối xả xuống đỉnh đèo ở độ cao 1.250 mét. Mưa như thác đổ nện ầm ầm vào mái ngói xám và các ô kính vọng lâu. Gió rít gầm rú, quất nghiêng ngả những rặng thông đỏ cổ thụ mọc chênh vênh bên bờ đá. Bọt nước bắn qua khe cửa sổ, mang theo hơi lạnh buốt giá ngấm vào từng thớ thịt. Khiêm bám chặt mép bàn quan trắc, nhìn màn nước nuốt chửng thung lũng giữa những lằn chớp nhấp nháy liên hồi.
Đúng lúc cơn cuồng phong dữ dội nhất, một chuỗi tiếng nổ trầm đục bỗng rền vang từ vách núi phía tây đèo Măng Đen Rắc... Ầm ầm ầm!
Nền đá phiến kiên cố dưới chân Khiêm chao đảo nhẹ. Chấn động từ lòng đất hất văng chiếc cốc nước men trên bàn rơi xuống sàn vỡ toang.
“Sạt lở rồi!” A Brâng từ cầu thang hớt hải lao lên, ngực phập phồng kịch liệt, đôi mắt mở to hoang dại. “Vách núi phía tây sập rồi, thầy ơi!”
Khiêm nhào đến mặt kính vọng lâu hướng tây, lau vệt hơi nước mờ đục. Trong một tia chớp kéo dài, cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt anh: hàng ngàn khối đất đá bazan, bùn lầy nhão nhoét và những thân thông khổng lồ đang cuồn cuộn trút xuống như thác lũ. Khối đất đá đổ sập vùi lấp hoàn toàn con đường độc đạo dẫn xuống chân đèo. Lối mòn duy nhất nối đỉnh đèo Măng Đen với vùng đồng bằng duyên hải đã biến mất dưới lớp đất đá dày cả chục thước.
“Đường đứt rồi...” Khiêm lẩm bẩm, môi khô khốc dù không khí bão bùng đang ẩm ướt đến tận cùng. “Chúng ta không thể xuống núi bằng đường bộ nữa.”
Chợt nhớ ra điều then chốt, da đầu Khiêm tê rần “Cáp đường dây!”Không đợi A Brâng đáp, Khiêm lao xuống tầng trệt, chạy vào phòng hành chính nhỏ đặt cạnh kho hóa chất. Trên chiếc bàn mộc mạc là chiếc máy truyền tin điện tín thô sơ đế gỗ nẹp đồng — phương tiện liên lạc duy nhất nối trạm với tòa công sứ Kon Tum.
Khiêm ngồi thụp xuống ghế, bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh vội bật nguồn pin, đặt ngón tay lên cần gạt gõ Morse. Anh bấm dồn dập, gõ ra chuỗi tín hiệu khẩn cấp báo cáo sự cố sạt lở núi và tình thế hiểm nghèo của trạm.
Lách cách... Cạch... Cạch...
Cần sắt nảy lên nảy xuống đều đặn dưới lực ấn của Khiêm. Nhưng chiếc kim điện kế vẫn nằm im lìm ở vạch số không, chết chóc và trơ trơ như một khúc gỗ mục. Khiêm nghiến răng gõ lại lần thứ hai, rồi lần thứ ba, ngón tay chai sần tấy đỏ vì va đập vào chốt thép. Tuy nhiên, đáp lại sự khẩn thiết của anh chỉ là những tiếng lách cách khô khốc của lò xo cơ học vang lên trong căn phòng ẩm mốc.
“Vô ích thôi, thầy Khiêm...” Giọng A Brâng vang lên sau lưng, trầm buồn và nặng trĩu. “Dây cáp treo men theo sườn đèo dốc đứng. Đất đá lở ở vách tây đã quật gãy cột gỗ. Cáp đứt lìa rơi xuống đáy vực rồi.”
Cánh tay Khiêm từ từ hạ xuống, buông lỏng trên mặt bàn sắt lạnh ngắt. Dây cáp đứt, đường mòn sạt lở. Trạm khí tượng Măng Đen ở độ cao 1.250 mét chính thức rơi vào trạng thái cô lập hoàn toàn giữa biển sương và rừng già hoang vu. Không viện binh, không tiếp tế, không một lối thoát hiểm khả thi nào trong bán kính hàng chục cây số đường rừng.
A Brâng bước chậm rãi về phía kho dự trữ ở góc tầng trệt, dùng đầu rựa chọc nhẹ kiểm tra từng bao gạo và thùng thịt hộp khô xếp trên giàn gỗ cao.
“Lương thực chỉ còn đủ ăn dè sẻn trong mười ngày,” A Brâng nói, vết sẹo mờ kéo dài từ trán xuống chân mày giật giật liên hồi. “Nhưng đáng sợ nhất không phải là hết gạo. Trận sạt lở này xé toang các hốc đá bazan cổ. Hơi đất bốc lên tanh nồng nghĩa là mùa gió độc đã bắt đầu sớm hơn mọi năm rồi.”
A Brâng quay lại nhìn thẳng vào Khiêm, giọng đanh lại đầy vẻ van nài lẫn cảnh báo “Thầy Khiêm, nghe tôi một lần. Phải lấy đinh, ván thông và bao tải gai bịt kín toàn bộ các cửa thông gió thông xuống tầng hầm và hang nứt dưới nền trạm ngay lập tức! Đêm nay, khi gió đèo đổi hướng, thứ bên dưới vực sẽ theo kẽ đá mà chui lên tìm người sống đấy!”
Khiêm nhìn người phụ tá bản địa, sự cố chấp thường ngày của một chuyên viên đo đạc dường như vơi đi trước hiểm nguy đang hiển hiện. Anh gật đầu “Được. Đi lấy búa và đinh sắt trong kho ra đây. Chúng ta gia cố toàn bộ cửa ngách tầng trệt.”
Hai người bắt tay vào việc trong sự khẩn trương ngột ngạt. Tiếng búa nện chan chát lên những tấm ván gỗ thông kiềng, đinh sắt đóng ngập vào khung cửa sổ và các ô chớp thông gió tầng dưới. Mồ hôi hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng trên trán Khiêm, làm mờ cả tròng kính đồi mồi.
Mãi đến khi thanh gỗ cuối cùng được đóng chặt chéo ngang cánh cửa ngách hậu, hai người mới mệt mỏi buông búa, kéo nhau quay trở vào gian nhà chính tầng trệt để châm lại bếp than sưởi ấm.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc Khiêm vừa bước chân qua ngưỡng cửa, một luồng gió ẩm buốt giá từ cánh cửa chính bị chấn động rung lắc làm bật chốt cài hé mở bất thình lình thốc mạnh vào mặt anh.
Không khí đặc quánh lại trong tích tắc. Lẫn trong hơi nước lạnh lẽo của cơn bão vừa ngớt là mùi tanh tưởi nồng nặc đến rợn người — thứ mùi tựa hồ mủ cây rừng mục rữa nhiều năm hòa lẫn với máu tanh ươn thối lùa qua khe cửa khép hờ, báo hiệu thứ gì đó dưới đáy vực bazan đang trỗi dậy.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
