Chương 21: Nắng Rọi Măng Đen

Tiếng bước chân gấp gáp giẫm lên sỏi đá rào rào, kèm theo tiếng gọi thất thanh xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của đỉnh đèo “Thầy Khiêm ơi! Quan trạm ơi! Có ai còn sống không?!”

Khiêm giật mình, theo phản xạ siết chặt các đầu ngón tay bỏng rát quấn băng gạc, nén cơn đau buốt nơi lồng ngực vừa bị chấn thương dập cơ để gượng đứng dậy. Lưng anh tựa chặt vào chân bệ phong kế Robinson đã gãy gập, đôi mắt không còn cặp kính gọng đồi mồi nheo lại, căng thẳng nhìn trừng trừng xuống khúc quanh ngổn ngang bùn đất. Ngồi sát cạnh anh, A Brâng cũng giật nảy mình, tay trái ghì chặt chiếc vòng đồng của Plang vào ngực, cánh tay phải nẹp gỗ thông ép sát hông, ánh mắt cảnh giác quét nhanh qua từng bụi cây rừng còn đẫm sương sớm.

Từ mép dốc sạt lở, ba bóng người mặc áo nẹp chàm, đầu đội nón chóp bọc vải kaki của lính khố xanh lăm lăm súng trường Mousqueton, cùng bốn người phu mở đường vác cuốc xẻng lấm lem bùn đỏ vừa th* d*c vừa trèo lên sân trạm. Người đi đầu là một viên cai đội đứng tuổi, khuôn mặt sạm đen nhễ nhại mồ hôi.

Vừa đặt chân lên nền đá, chứng kiến khung cảnh trạm khí tượng tan hoang như một bãi chiến trường với tháp vọng lâu sụp đổ, ngói đá phiến vỡ vụn và mặt sân đá cháy đen ngùn ngụt khói than, viên cai đội chết sững. Chiếc xẻng sắt tuột khỏi tay người phu đi sau, rơi xuống đất kêu một tiếng “keng” chói gắt.

“Trời đất quỷ thần ơi... Đổ nát hết cả rồi...” Viên cai đội lắp bắp, rồi chợt nhìn thấy hai bóng người tả tơi bên bệ đá, ông ta thảng thốt reo lên: “Kia rồi! Còn sống! Thầy Khiêm với chú phu trạm vẫn còn sống!”

Toán lính và phu mở đường lập tức ùa tới. Người lính cứu thương vội vã đặt hòm thuốc bằng tôn xuống nền đá phiến, nhanh chóng lấy bông gạc và cồn iốt sát trùng vết rách sâu bết máu trên bả vai trái của A Brâng, rịt bột thuốc rồi băng ép cẩn thận. Khiêm khẽ xua tay từ chối sự săn sóc có phần vồn vã, chỉ để người lính dùng dải vải thô nẹp giữ lồng ngực dập rạn và lau sạch bụi than trên hai cùi chỏ, khớp gối trầy xước. Mùi cồn the nồng hòa vào luồng gió núi se lạnh khiến Khiêm tỉnh táo hẳn.

Viên cai đội quệt mồ hôi trán, giọng vẫn chưa hết bàng hoàng “Mưa bão xé đứt cáp điện tín suốt mấy ngày đêm, đất đá trên đỉnh đèo lại sạt lở vùi lấp cả đoạn đường chữ chi. Tòa công sứ dưới Kon Tum nghe tiếng nổ vang rền từ đêm qua cứ ngỡ cả trạm khí tượng đã trôi tuột xuống đáy vực như ông trạm trưởng Mercier rồi! Chúng tôi phải huy động bốn mươi phu nổ mìn dọn đá suốt hai ngày một đêm mới khai thông được một lối mòn tạm thời qua bãi sạt lở để leo lên đây.”

Nghe đến đó, Khiêm hít một hơi thật sâu. Lồng ngực dù đau thắt theo từng nhịp thở nhưng đã tràn ngập dưỡng khí the mát của rừng thông. Chuỗi ngày trạm khí tượng rơi vào cảnh cô lập tuyệt đối trước nanh vuốt của sương độc đã chính thức chấm dứt.

Dưới sự hỗ trợ của toán phu, Khiêm cẩn trọng lần từng bước chân quay lại buồng máy phát điện tầng trệt. Căn phòng kiên cố với nền đá phiến và dầm gỗ thông kiềng vẫn đứng vững sau cơn chấn động của vụ nổ nhiệt áp. Trên chiếc hòm sắt góc tường, tập sổ nhật ký quan trắc bọc vải dầu của Khiêm vẫn còn nguyên vẹn, từng dòng ghi chép về cột thủy ngân áp kế Fortin, độ ẩm và các chỉ số khí áp không hề suy suyển. Nằm ngay bên cạnh là cuốn sổ bìa da cá sấu ghi lại tội ác điên rồ của JeanLuc Mercier — kẻ từng nhẫn tâm đẩy các phu trạm vào màn sương để thử nghiệm cơ chế ký sinh của Huyết Ty Nang trước khi tự rước lấy cái chết thảm khốc dưới miệng vực.

Khiêm ngồi xuống bên bệ đá phẳng, rút mẩu bút chì ngòi sắt nắn nót hoàn thiện biên bản hiện trường cuối cùng. Bằng ngôn từ khúc chiết, chuẩn mực của một chuyên viên khoa học, anh vạch trần toàn bộ sự tha hóa và tội ác tàn độc của vị tiền nhiệm người Pháp; đồng thời, Khiêm dành những dòng trang trọng nhất để xác nhận sự hy sinh anh dũng của người bạn học chí cốt Trần Hữu Thạc: Chuyên viên Trần Hữu Thạc đã kiên cường bám trụ đài khí tượng cho đến hơi thở cuối cùng trước tai biến tự nhiên dị thường tại đèo Măng Đen.

Gấp tập hồ sơ dày dặn lại, Khiêm trao nó cùng chùm chìa khóa đồng nặng trịch vào tay viên cai đội “Toàn bộ sự thật về vụ mất tích của Mercier và sự hy sinh của cậu Thạc đều nằm trong tập hồ sơ này. Nhờ bác chuyển tận tay Tòa công sứ và Nha Khí tượng Đông Dương. Mầm họa trong hốc đá đã bị tiêu diệt sạch, tôi xin bàn giao lại phế tích này cho đồn lính khố xanh tiếp quản.”

Viên cai đội nghiêm cẩn đón lấy chùm chìa khóa, cúi đầu bày tỏ lòng kính trọng trước sự kiên cường của hai người sống sót.Trước khi rời trạm, Khiêm rút từ xắc cốt ra tờ phiếu công tác của Sở. Anh đặt bút ký xác nhận toàn bộ số công nhật cùng khoản phụ cấp nguy hiểm đặc biệt bằng đồng bạc Đông Dương cho A Brâng. Số tiền này không chỉ đủ để người phụ tá trang trải cuộc sống mà còn dư dả chuộc lại mảnh rẫy đầu buôn cho người chị gái góa bụa.

Khiêm trao tờ giấy có dấu mộc đỏ cho người đồng đội, mỉm cười ấm áp “Cầm lấy đi chú em. Đây là công sức và xương máu của chú em suốt những ngày sinh tử. Hãy chuộc lại rẫy nương, lo cho chị gái thật tốt.”

A Brâng nhận tờ giấy, bàn tay run run ép chặt chiếc vòng đồng gia bảo của Plang vào ngực. Đôi mắt sắc như chim cắt giờ đây ngân ngấn lệ nhưng ánh lên vẻ thanh thản diệu kỳ “Ơn thầy Khiêm lớn hơn ngọn núi này... Thằng Brâng này đưa thằng Plang về nhà rồi, buôn làng sẽ làm lễ bỏ mả đàng hoàng cho em tôi yên nghỉ.”

A Brâng chìa bàn tay trái lành lặn ra. Khiêm siết chặt lấy bàn tay thô ráp, chai sần của người con núi rừng. Không còn khoảng cách giữa viên chức nhà nước và phu trạm bản địa, chỉ còn lại sự gắn kết thiêng liêng giữa hai người anh em đã cùng nhau bước qua lằn ranh cái chết.

“Nhất định thầy phải về buôn uống với tôi ghè rượu cần ngon nhất đấy!” A Brâng cười rạng rỡ, hàm răng trắng bóng nổi bật trên khuôn mặt sạm nắng.

“Chắc chắn rồi. Tôi sẽ về buôn.” Khiêm gật đầu dứt khoát.

Khiêm bước ra mép đèo lộng gió ở độ cao 1.250 mét, phóng tầm mắt nhìn khắp đại ngàn Tây Nguyên.

Mặt trời đã lên cao. Ánh nắng rực rỡ của mùa khô đổ vàng như mật xuống những triền thông đỏ, sưởi ấm từng thớ đá bazan nứt nẻ. Màn sương mù ẩm mốc màu chì bọc kín đỉnh đèo suốt nhiều tuần qua đã tan biến không còn một dấu vết. Không còn tiếng chuông dông cơ học gõ loạn, không còn mùi tanh tưởi của nấm ký sinh hay thứ âm thanh giả giọng rợn người phát ra từ vách đá. Trật tự tự nhiên thuần khiết đã trở lại ngự trị trên đỉnh Măng Đen.

Cơn đau thắt nơi lồng ngực Khiêm dường như dịu hẳn. Đứng giữa luồng gió the mát tinh khôi, bóng ma u uất về sai số ba mươi phân nước lũ tại trạm thủy văn Sông Ba ba năm trước đã hoàn toàn tan rã. Anh không còn là kẻ trốn chạy quá khứ trong những đêm dài mất ngủ. Bằng tri thức thực nghiệm duy lý và lòng quả cảm, anh đã bảo vệ được người cộng sự, giải thoát cho những linh hồn mắc kẹt và chiến thắng nỗi sợ hãi nguyên thủy.

Khiêm ôm chặt tập nhật ký đo đạc vào lòng. Dưới chân đèo, con đường đất đỏ rực rỡ dưới nắng đã hiện rõ qua từng tán cây rừng, dẫn thẳng về bến xe đò xuôi miền duyên hải Quy Nhơn. Ở đó có biển xanh sóng vỗ, có người vợ hiền cùng đứa con trai bốn tuổi đang ngóng đợi, và bục giảng trường kỹ nghệ đang mở rộng cửa đón anh về.

“Đi thôi thầy Khiêm!” Tiếng A Brâng giục giã, vang vọng đầy sức sống ở đầu lối mòn tạm.

“Đi thôi!” Khiêm mỉm cười đáp lại, bước chân nhẹ nhõm lạ thường.

Dưới ánh nắng ban mai rực rỡ xua tan bóng ma sương lạnh, hai bóng người sóng bước xuôi dốc đèo Măng Đen, bỏ lại sau lưng tàn tích hoang tàn nhưng sạch bóng tử khí để trở về với trật tự của sự sống và tương lai bình yên.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.