Chương 20: Tàn Tro Trong Gió Sớm

Một tiếng rắc khô khốc xé toạc màn bụi mù. Khối xà gồ gỗ kiềng dài ngoẵng bổ xuống không đập trúng đầu Khiêm mà giáng sầm vào bờ đá phiến kiên cố của bệ quan sát, gãy gập làm đôi. Hàng trăm viên ngói đá sụp xuống theo đà va chạm, đổ rào rào phủ kín nửa thân người anh.

Khiêm ho sặc sụa, từng cơn co thắt từ lồng ngực bị chấn thương kéo theo vị máu tanh nồng trào lên khóe môi. Cát bụi và mạt đá li ti bám đầy những mảnh tròng kính vỡ vụn dưới chân. Anh nằm bất động vài giây, cố điều hòa nhịp thở đứt quãng trong khi chuỗi âm thanh ong ong chói gắt nơi màng nhĩ dần dịu đi, nhường chỗ cho những âm thanh thực tại của trần thế.

Mùi hôi thối, tanh tưởi của dịch nấm hữu cơ từng bóp nghẹt bầu không khí suốt nhiều ngày qua đã hoàn toàn biến mất. Giờ đây, tràn ngập khoang mũi Khiêm là mùi nồng khét của khí hydro cháy kiệt, mùi hăng nồng của dầu hỏa hòa lẫn bụi than và hơi tro tàn bốc lên từ lòng đất.

Khiêm dùng hai cùi chỏ rách toạc gạt phăng lớp ngói đá vụn đè nặng trên lưng, nghiến răng gượng dậy. Khớp gối bị kính cứa nhức buốt như muốn rụng rời, nhưng anh không bận tâm. Ánh mắt anh lập tức hướng về phía mép vực đông bắc.

Dưới miệng Khe Nứt Rỉ Máu, biển lửa nhiệt áp vẫn đang cuồn cuộn cháy đỏ rực. Sức nóng hàng ngàn độ Bách phân giam hãm trong hốc đá bazan kín đã biến nơi trú ngụ của thực thể cổ đại thành một lò luyện ngục đích thực. Khối hạch nấm trung tâm to bằng hai sải tay giờ chỉ còn là một khối than đen quắt queo, nứt toác thành từng mảng vụn dưới đáy vực. Toàn bộ mạng lưới sợi nấm đỏ rực từng bám chằng chịt vào vách đá bazan xốp đã bị thiêu rụi hoàn toàn, không còn lấy một mẩu rễ sống sót. Hàng ngàn túi bào tử nổ tanh tách như hạt lép ném vào chảo gang, hóa thành những tàn tro xám xịt vô hại, bị luồng khí nóng đối lưu cuốn tung lên trời cao rồi tan biến vào hư không.

Nơi mép đá chênh vênh và gờ dốc, tro bụi than đen phủ kín những gì còn sót lại của JeanLuc Mercier và Trần Hữu Thạc. Ngọn lửa cuồng bạo đã thiêu sạch lớp tơ nấm ô uế bám víu trên thi thể họ, trả lại sự yên nghỉ thanh sạch cho những mảnh xương tàn sau những ngày tháng bị giam cầm trong đau đớn. Tiếng hú hét, r*n r* ma quái rợn người từng vang vọng qua kẽ đá bazan đã câm bặt vĩnh viễn. Không gian chỉ còn lại tiếng nổ lép bép của những thanh củi mục tàn lụi.

“A Brâng!”

Khiêm chợt giật mình, nhớ tới người phụ tá bản địa. Nỗi lo sợ thắt nghẽn ruột gan khiến anh quên cả cơn đau buốt nơi xương sườn. Khiêm lảo đảo bò qua khoảng sân trạm ngổn ngang gạch vỡ và dầm thông gãy nát, vừa ho khan vừa gọi lớn “A Brâng! Chú em ở đâu?”

Đáp lại anh là sự tĩnh lặng của đống đổ nát bên góc tường phía nam. Khiêm dáo dác nhìn quanh, đôi mắt cay xè khói bụi bỗng bắt gặp một chuyển động yếu ớt dưới đống xà gồ trũng xuống cạnh chân tường buồng máy. Tấm biển trạm bằng gỗ kiềng khắc dòng chữ tiếng Pháp nặng trịch cùng một khối đá phiến sạt lở đang đè chặt lên hai chân của người phụ tá.

“Tôi... tôi ở đây, thầy Khiêm...”

Giọng A Brâng khàn đặc, đứt quãng vọng ra từ đống ngổn ngang.

Khiêm lao tới, quỳ sụp xuống bên cạnh. Gương mặt người phụ tá Mơ Nâm lem luốc muội than và bụi đá, bả vai trái bị đá cào rách toạc một mảng da áo bết máu, nhưng lồng ngực vạm vỡ vẫn phập phồng đều đặn. Cánh tay phải mang nẹp gỗ thông may mắn không bị va đập thêm, còn mười đầu ngón tay quấn chặt dây dù vẫn đang cố bấu vào mặt đất để chống đỡ sức nặng.

“Đừng cử động vội, để tôi đỡ ra!”

Khiêm nhặt lấy một đoạn gậy gỗ thông gãy còn chắc chắn, chêm sâu vào mép dưới của tấm biển gỗ kiềng rồi dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể tì mạnh xuống làm đòn bẩy. Cơ ngực bị dập nhói lên dữ dội, một ngụm khí nóng ứ nghẹn nơi cổ họng, nhưng Khiêm vẫn nghiến chặt hàm răng, dồn hết sức tàn bẩy bổng khối gỗ nặng cả tạ lên khỏi mặt đất.

“Rút chân ra mau!” Khiêm hét lên qua kẽ răng rướm máu.

A Brâng cắn răng chịu đau, dùng cánh tay trái lành lặn và hai khuỷu tay trườn mạnh về phía trước, thoát khỏi gọng kìm của đống gỗ đá ngay trước khi đoạn đòn bẩy gãy gập khiến tấm biển rơi ầm xuống nền sân.

Cả hai cùng ngã nhào ra nền đá phiến, th* d*c từng hồi. Khiêm vội vàng kiểm tra hai chân của A Brâng; trừ những vết bầm tím sâu và trầy xước rỉ máu do góc nhọn của phiến đá chèn ép, xương cẳng chân của người thanh niên Mơ Nâm vẫn nguyên vẹn, không bị gãy giập.

A Brâng ngửa mặt nhìn lên khoảng trời đen thẫm trên đỉnh đầu, đưa bàn tay trái quệt vệt máu bết nơi khóe mắt rồi bật cười thành tiếng. Nụ cười méo mó trên khuôn mặt đầy tro bụi và sẹo rách, nhưng ánh mắt anh sáng quắc, rực lên vẻ kiên cường bất khuất của đứa con đại ngàn “Thầy Khiêm... Chết hụt rồi... Con ma vách đá chết thật rồi!”“Nó không phải ma quỷ, nó là loài nấm độc,” Khiêm thở phào một hơi dài, mỉm cười mệt mỏi nhưng thanh thản lạ kỳ. “Và chúng ta đã đốt sạch nó rồi.”

Một luồng hơi ấm áp bất ngờ phả qua gò má Khiêm.

Nhiệt lượng kinh hoàng từ lò lửa nhiệt áp dưới đáy Khe Nứt Rỉ Máu bốc cao đã tạo nên một luồng đối lưu nhiệt mãnh liệt, xé toạc bức tường sương mù dày đặc từng bọc kín đỉnh Măng Đen suốt nhiều tuần qua. Màn sương độc màu chì cuộn tròn, loãng dần rồi tan biến vào hư không như bọt xà phòng vỡ. Những cơn cuồng phong gầm rú xé tai của trận dông bão cũng ngưng bặt hoàn toàn khi hoàn lưu cơn bão đã dời hẳn về các thung lũng xa xôi.

Thay vào đó, một luồng gió sớm khô ráo, the mát và trong lành từ các cánh rừng thông phía đông bắt đầu thổi ngược l*n đ*nh đèo. Không khí ngập tràn mùi nhựa thông non, mùi đất bazan ẩm và sự tinh khiết của cây cỏ rạng sáng — thứ hương vị mà Khiêm tưởng chừng cả đời này mình sẽ không bao giờ còn cơ hội hít thở lại.

Khiêm dìu A Brâng ngồi dậy, cả hai cùng tựa lưng vào chân bệ phong kế Robinson đã gãy gập cột đo. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát của trạm khí tượng, Khiêm đưa bàn tay run rẩy chạm vào túi áo ngực kaki sờn rách. Bàn tay anh chạm vào một vật kim loại tròn dẹt, mát lạnh nằm gọn gàng bên dưới nẹp vải.

Khiêm từ từ rút vật ấy ra.

Chiếc vòng đồng gia bảo bản dẹt, chạm trổ hoa văn hình ngọn sóng uốn lượn đặc trưng của người Mơ Nâm lấp lánh mờ mờ dưới ánh lửa tàn, bề mặt còn vương một vệt muội than mỏng.

A Brâng sững sờ. Toàn bộ cơ thể người phụ tá như đông cứng lại, nụ cười trên môi tắt ngấm, đôi mắt mở to dán chặt vào vật thể nằm trên lòng bàn tay Khiêm.

“Cái này... là của thằng Plang...” Giọng A Brâng run rẩy, nghẹn lại nơi cuống họng.

“Tôi tìm thấy nó trong khe nứt đá bazan, ngay cạnh hốc hạch nấm mẹ dưới đáy vực,” Khiêm nói chậm rãi, giọng trầm ấm và đầy tôn trọng. Anh cẩn thận đặt chiếc vòng đồng vào lòng bàn tay lành lặn của A Brâng, rồi khẽ khép những ngón tay thô ráp của người phụ tá lại. “Em trai chú em... cậu ấy đã nằm lại ở nơi đó suốt hơn một năm qua. Cậu ấy không hề biến mất hay bỏ rơi gia đình. Giờ đây, ngọn lửa đã giải thoát cho Plang. Chú em hãy đưa cậu ấy về buôn làng.”

A Brâng run rẩy siết chặt chiếc vòng đồng thau vào giữa lồng ngực mình. Từng thớ cơ bắp trên khuôn mặt sạm nắng giật giật dữ dội. Rồi những giọt nước mắt nóng hổi trào ra từ khóe mi sâu hoắm, lăn dài qua những vết sẹo cũ và lớp tro bụi đen nhẻm, rửa sạch những u uất, đau đớn đè nặng trong tâm can người anh trai suốt bao tháng ngày ròng rã.

A Brâng không khóc to thành tiếng. Người con của núi rừng Tây Nguyên chỉ ghì chặt kỷ vật của người em trai đoản mệnh vào ngực, bả vai rung lên bần bật trong sự giải thoát nghẹn ngào “Plang ơi... Anh tìm thấy mày rồi... Anh đưa mày về rẫy cũ buôn mình đây...”

Ngồi bên cạnh, Khiêm im lặng đưa mắt nhìn ra khoảng không bao la ngoài vách đá. Một cảm giác nhẹ bẫng kỳ lạ lan tỏa khắp lồng ngực anh, xua tan đi sự đè nén buốt nhói của những vết thương thể xác. Ba năm trôi qua kể từ buổi chiều kinh hoàng tại trạm thủy văn Sông Ba, bóng ma mặc cảm tội lỗi về ba mươi phân nước lũ làm chết người thợ phụ từng là gông cùm siết chặt tâm hồn anh mỗi đêm mất ngủ. Nhưng giờ đây, khi cùng A Brâng vượt qua lằn ranh sinh tử, dùng toàn bộ tri thức khoa học và lòng can trường để cứu sống người đồng đội này, gánh nặng u ám ấy dường như đã tan biến theo lớp tàn tro bay vào gió sớm.

Anh đã chuộc lại món nợ của lương tâm. Anh đã giữ trọn vẹn lời hứa đưa cả hai cùng sống sót bước qua đêm đen.

“Về buôn...” Khiêm khẽ vỗ nhẹ lên bờ vai lành lặn của A Brâng, giọng nói đượm vẻ ấm áp chân thành. “Nhất định tôi sẽ cùng chú em uống cạn ghè rượu cần đầu buôn ăn mừng tai qua nạn khỏi.”

A Brâng gạt vội nước mắt, ngước nhìn Khiêm, gật đầu thật mạnh “Uống! Thằng Brâng này đãi thầy ghè rượu ngon nhất của già làng!”

Khi hai người cùng ngước nhìn về phía chân đèo xa xăm, luồng ánh sáng hồng cam rực rỡ đầu tiên của buổi bình minh mùa khô bắt đầu le lói xé toang rặng mây mù nơi đường chân trời, dát một vệt vàng ấm áp l*n đ*nh đèo hoang tàn.

Nhưng ngay giữa khoảnh khắc thanh bình hiếm hoi ấy, từ phía khúc quanh con đường mòn sạt lở ngổn ngang đất đá dưới chân dốc bỗng vọng lên tiếng bước chân giẫm trên sỏi đá gấp gáp, kèm theo tiếng gọi thất thanh xé toạc không gian tĩnh mịch.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.