Chương 2: Cây Kim Áp Kế
Tiếng thở dài nghẹn ứ dưới lòng đất đá dứt hẳn, để lại một khoảng lặng buốt giá bao trùm căn phòng vọng lâu. Khiêm khựng người, hai tai căng ra hết cỡ, bàn tay siết mép bàn gỗ sồi đến trắng bệch các khớp ngón. Anh lập tức quỳ xuống nền đá phiến xám nẹp dầm gỗ, áp tai vào khe nứt. Chỉ có sự im lìm lạnh ngắt của bazan truyền qua da thịt.
Lồng ngực Khiêm phập phồng sau lớp áo khoác kaki bốn túi sờn gấu. Bộ não duy lý lập tức tìm kiếm cơ chế vật lý: rất có thể vỉa bazan xốp bên dưới trạm có hang ngầm thông gió ra sườn đèo; khi nhiệt độ đêm tụt dốc, luồng khí đối lưu bị nén qua khe hẹp sẽ r*n r* tựa tiếng người thở dài. Đó hoàn toàn là hiệu ứng khí động học tự nhiên.
Trấn tĩnh lại, Khiêm đứng dậy phủi bụi nơi đầu gối ủng da, lau chiếc kính gọng đồi mồi bám sương. Ca trực khí tượng đêm đầu tiên trên đỉnh đèo Măng Đen bắt đầu lúc tám giờ tối.
Căn phòng vọng lâu tầng hai chìm trong ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn bão treo trên giá sắt. Bên ngoài, sương mù dâng cao, quánh đặc như khối chì lỏng ép chặt vào những ô kính chịu lực, xóa nhòa ranh giới giữa bầu trời và vực thẳm. Trạm khí tượng trơ trọi như một chiếc lồng sắt bị bỏ quên trên độ cao một nghìn hai trăm năm mươi mét.
Không gian tĩnh mịch đến rợn người, chỉ vang lên tiếng động từ chiếc máy tự ghi áp suất barometer trên bệ gỗ sồi. Trống quay đồng hồ bọc dải giấy sáp phủ muội than nhích từng milimét chậm chạp. Đầu kim sắt nhọn hoắt cào sột soạt đơn điệu lên mặt sáp, để lại một đường rạch trắng mảnh như tơ. Tiếng kim rạch đều đặn, khô khốc vang lên giữa bốn bức tường đá, cọ vào màng nhĩ Khiêm từng đợt buốt nhức, làm tăng cảm giác ngột ngạt khó tả.
Cạnh máy tự ghi, bộ đếm cơ học của đồng hồ đo gió nhả từng tiếng tích tắc đanh gọn. Nhịp điệu khô khan ấy chạm vào dây thần kinh căng thẳng của Khiêm. Bất giác, ngón tay anh đặt lên mặt bàn, gõ nhẹ đếm nhịp: một, hai, ba, bốn...
Mỗi nhịp gõ lại kéo Khiêm chìm vào vũng lầy tội lỗi ba năm trước tại trạm thủy văn Sông Ba. Đêm ấy, mưa như trút nước. Khiêm tính toán sai số biểu đồ đỉnh lũ quét, nhầm lẫn một con số khiến đỉnh lũ bị ước tính thấp hơn thực tế tới ba mươi phân. Anh không phát lệnh báo động đỏ kịp thời. Bức tường nước đỏ ngầu ập xuống quét phăng chòi đo mốc nước hạ nguồn, cướp đi sinh mạng người thợ phụ bản xứ. Bản án lương tâm biến thành chứng mất ngủ kinh niên, khiến anh trở thành kẻ tôn sùng con số đến mức cố chấp. Trong những đêm thức trắng tại Hà Nội, Khiêm từng dằn vặt trải lòng toàn bộ nỗi ân hận sâu kín ấy với bạn học cùng khóa Trần Hữu Thạc. Giờ đây, Thạc cũng bặt vô âm tín hai tháng trên dải đèo này, để lại Khiêm đơn độc giữa bóng ma quá khứ.
Cảm giác tội lỗi cào xé khiến cuống họng Khiêm đắng ngắt. Trằn trọc không thể ngồi yên, anh xách đèn bão xuống tầng trệt kiểm tra hệ thống van khóa của bốn bình nén khí hydro và kho dự trữ để trấn an tâm trí.
Đôi ủng da bước nhẹ trên từng bậc cầu thang gỗ dốc đứng. Xuống đến chiếu nghỉ tầng trệt, không khí nồng nặc mùi tro than ẩm ướt lấn át cả mùi dầu hỏa. Dưới ánh sáng mờ ảo từ bếp than sắp tàn, Khiêm sững sờ thấy bóng lưng vạm vỡ của A Brâng đang lom khom sát bậu cửa chính bằng gỗ kiềng nặng trịch. Trên tay người phụ tá là chiếc bát sành đựng đầy tro bếp mịn. A Brâng cẩn trọng bốc từng nhúm tro xám, lén rải thành một dải vòng tròn khép kín quanh bậu cửa chính, bao bọc mọi khe hở tiếp giáp với chân tường đá bazan. Cạnh chân anh ta, cây rựa phát nương cắm ngập mũi vào một khúc gỗ thông.
Khiêm bước xuống sàn đá, cất tiếng “Anh A Brâng, anh đang làm cái gì thế này?”
A Brâng giật mình, vung tay khựng lại giữa không trung. Quay ngoắt lại, ánh mắt sắc bén như chim cắt của anh ta lóe lên tia cảnh giác trước khi nhận ra Khiêm. Vết sẹo mờ kéo dài từ trán xuống chân mày giật giật.
“Thầy Khiêm... sao thầy không ở trên phòng trực?” A Brâng hạ giọng khàn đặc.
“Tôi xuống kiểm tra kho khí hydro và cửa nẻo.” Khiêm giơ cao đèn bão soi vào dải tro mịn. “Rải tro bếp quanh cửa ra vào để làm gì? Tro ẩm chỉ tổ làm bẩn sàn đá.”
A Brâng né tránh ánh mắt Khiêm, cúi xuống rải nốt nhúm tro cuối cùng rồi đứng thẳng dậy, bàn tay nắm chặt chuôi rựa “Người Kinh các thầy chỉ tin mấy cái ống đồng với giấy mực. Rừng Măng Đen mùa này khác lắm. Đêm xuống, sương trên đèo có miệng ăn người đấy.”
“Miệng ăn người?” Khiêm nhíu mày. “Anh nói hàm hồ gì vậy?”
“Thằng Brâng này không hàm hồ.” A Brâng gằn từng tiếng, bước tới gần Khiêm. “Trong sương có thứ đang rình rập trạm này. Nó trườn qua các kẽ đá, bò qua gầm sàn. Tro bếp mịn này là thứ duy nhất người rừng dùng để nhận biết vật lạ bò vào nhà. Có thứ gì chạm qua, dấu vết sẽ in rành rọt trên tro. Thầy không phòng ngừa, sáng mai thức dậy có khi mất xác chẳng ai hay.”Anh ta chùng giọng u uất “Ông Tây lớn trước đây cũng cười như thầy, bảo tôi dị đoan. Rồi cuối cùng ông ấy biến đi đâu? Đúng hai mươi mốt ngày rồi, trạm này chỉ còn sót lại cái mũ bấc vỡ nát bên miệng hốc đá!”
Nhắc đến Mercier, không khí tầng trệt như đông cứng lại. Nhưng tư duy duy lý không cho phép Khiêm lùi bước trước sự sợ hãi vô căn cứ.
“Anh A Brâng, nghe tôi này.” Khiêm nghiêm giọng. “Sương mù chỉ là hơi nước ngưng tụ khi nhiệt độ không khí hạ thấp xuống dưới điểm sương. Vùng đèo cao một nghìn hai trăm năm mươi mét, chênh lệch nhiệt độ lớn nên sương đậm đặc là lẽ tự nhiên. Còn quan trạm trưởng Mercier mất tích, nhiều khả năng do trượt chân xuống vực trong đêm. Không có ma quỷ nào cả, và sương mù tuyệt đối không có miệng ăn người. Đừng gieo rắc sự hoang mang.”
A Brâng nhìn trân trân vào Khiêm, môi nhếch nụ cười chua chát “Thầy học nhiều chữ, thầy tin cái đầu của thầy. Nhưng rừng già có luật của nó. Thầy cứ ngồi trên vọng lâu mà đếm kim đi. Đêm nay, nhớ đóng chặt mọi then cài.”
Dứt lời, A Brâng lầm lũi quay về góc buồng máy phát điện dynamo, chui vào chiếc võng dù cạnh những can thiếc dầu hỏa rồi trùm kín tấm chăn chiên rách, cắt đứt cuộc đối thoại.
Khiêm siết quai đèn bão, quay gót bước lên cầu thang. Dù miệng vừa thốt ra những lý lẽ khoa học đanh thép, cảm giác lạnh gáy vẫn bám riết lấy đốt sống lưng anh như một bàn tay buốt giá chạm vào da thịt. Mồ hôi lạnh rịn ướt một mảng sau gáy áo kaki.
Trở lại phòng làm việc trên vọng lâu, Khiêm đặt ngọn đèn bão xuống góc bàn, cài then cửa cẩn thận.
Anh kiểm tra lại các khung kính bán nguyệt chịu lực. Tám ô kính dày đều đã được gài chốt thép chắc chắn, nẹp gỗ kiềng đóng chặt. Bên ngoài, sương mù vẫn đặc quánh như sữa vôi ép chặt vào mặt kính im lìm. Căn phòng hoàn toàn kín gió.
Khiêm kéo ghế ngồi xuống, nhìn dải giấy sáp của chiếc máy tự ghi áp suất. Trống quay vẫn nhích từng ly vô cảm. Đầu kim sắt vẫn cào những vệt trắng đơn điệu, biểu thị mức khí áp ổn định ở ngưỡng bảy trăm linh hai milimét thủy ngân. Tiếng sột soạt khô khốc vang lên đều đặn, ru ngủ sự cảnh giác trong lòng Khiêm.
Anh thở phào một hơi, thầm nhủ mọi bất an chỉ do thần kinh mỏi mệt sau chặng đường dài.
Nhưng đúng khoảnh khắc Khiêm vừa buông lỏng hai vai, ngọn lửa vàng bên trong chiếc đèn bão trên bàn đột ngột chao đảo dữ dội.
Ngọn lửa uốn éo, chập chờn rồi bốc lên một làn khói đen khét lẹt, dù các cửa kính quanh vọng lâu đều đang then cài chặt chẽ và không khí trong phòng không hề có một gợn gió lay.
Cùng lúc ấy, một tiếng rít kim loại sắc nhọn xé toạc màn đêm tĩnh mịch: xoẹt!
Khiêm giật bắn mình, mắt trừng trừng nhìn xuống mặt bàn.
Cần đòn bẩy bằng đồng của chiếc máy tự ghi áp suất bỗng giật nảy lên một cú điên loạn. Đầu kim sắt nhọn hoắt đâm sầm xuống, vạch một đường răng cưa sâu hoắm rách toạc cả mặt giấy sáp phủ muội than từ trên xuống dưới, tựa như toàn bộ ngọn núi Măng Đen vừa hứng chịu một cú chấn động bí ẩn truyền thẳng lên từ đáy vực sâu.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
