Chương 1: Hắc Thủy Bến Vạn Kiếp
Gió bấc rít từng hồi qua những khe đá nhọn hoắt của rặng Chí Linh, cuốn theo hơi nước buốt giá từ ngã sáu Lục Đầu Giang thốc thẳng lên mặt thành gỗ bến Vạn Kiếp. Tiết cuối đông năm Giáp Thân, vòm trời phương Bắc sà thấp, trĩu nặng một sắc xám chì u ám tựa hồ muốn đè bẹp cả dải non sông Đại Việt. Màn sương muối mịt mùng giăng mắc khắp mặt sông rộng lớn, biến hàng trăm chiến thuyền lung đồng và doanh lũy thủy binh dọc hai bờ tả hữu thành những bóng đen khổng lồ chập chờn ẩn hiện giữa làn hơi lạnh thấu xương tủy.
Dưới bến sông, không khí chuẩn bị chiến trận sục sôi như chảo gang đỏ lửa. Từng đoàn bè chở gỗ lim đen nhánh từ rừng sâu Ái Châu, Diễn Châu nối đuôi nhau ken đặc doi cát bồi ven bờ. Đây là những thân thiết mộc ngàn năm tuổi được triều đình ráo riết điều động bằng đường thủy để gia cố phòng tuyến. Trên bãi cạn, hàng chục lò rèn dã chiến đỏ rực than hồng, tiếng búa nện chan chát vào những mũi sắt bọc đầu cọc b*n r* muôn ngàn tàn lửa sáng lóa. Tiếng hò dô trầm hùng của hàng ngàn tráng đinh hòa cùng nhịp chày gỗ nện cọc thình thịch làm rung chuyển cả doi phù sa “Hò… dô… hây! Giữ vững cõi bờ, thề không lùi bước! Hò… dô… hây!”
Đứng sừng sững trên đỉnh kỳ đài cao hơn ba trượng dựng sát mép nước, Phó tướng thủy binh Trần Nhật Minh tựa như một cây tùng nghênh đón ngọn gió độc. Chàng tuổi vừa hai mươi sáu, thân hình vạm vỡ, rắn rỏi như được đúc bằng sắt nguội qua trăm ngàn trận đánh sông nước. Khoác trên mình bộ giáp thanh đồng viền bạc đã trầy xước phong sương, gương mặt ngăm đen dạn dày sóng gió của chàng toát lên vẻ cương trực, đôi mày kiếm rậm xếch ngược che chở cho ánh mắt sáng rực tựa sao mai. Bàn tay gân guốc khẽ tì lên chuôi thanh cổ kiếm “Trấn Nhạc” gia truyền bên hông — báu vật hộ thân mà phụ thân chàng trước lúc tuẫn tiết trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất đã trao lại, răn dạy chàng phải lấy máu nóng đền nợ nước.
Cánh tay áo bên phải của Nhật Minh xắn cao quá khuỷu, để lộ hai chữ “Sát Thát” khắc sâu vào da thịt bằng mực tàu đen thẫm. Từng nét khắc rướm máu năm nào nay đã liền sẹo gồ ghề, tựa lời thề nguyền khắc cốt ghi tâm trước họa xâm lăng cận kề của loài lang sói phương Bắc.
Sau Hội nghị Bình Than chấn động non sông, Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương đã chọn vùng Vạn Kiếp làm đại bản doanh thủy bộ tối mật. Nơi hội tụ của sáu dòng sông gồm sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính sông Thái Bình chính là yết hầu hiểm yếu che chắn mặt đông bắc của kinh thành Thăng Long. Quân lệnh ban xuống nghiêm minh như núi: trong vòng nửa tháng, toàn bộ trận địa cọc ngầm bọc sắt phải được cắm vững chắc theo đồ hình bát quái đón đầu ngọn nước triều, biến lòng sông sâu thành cửa tử chôn vùi chiến thuyền giặc Thát.
Mỗi cây cọc hạ xuống lòng sông là một tấc xương máu chở che cho xã tắc. Trọng trách đè nặng ngàn cân khiến Nhật Minh hiếm khi chợp mắt trọn một canh giờ. Cứ mỗi lần nhắm mắt lại giữa đêm trường thanh vắng, vết thương lòng sâu hoắm trong quá khứ lại cào xé tâm can chàng dữ dội. Năm năm trước, chỉ vì một thoáng sơ suất trong chuyến tuần thám nơi biên ải Lạng Sơn, phân đội trinh sát dưới quyền chàng đã rơi vào ổ phục kích của lũ gian tế câu kết với ngoại bang. Mười hai huynh đệ đồng sinh cộng tử vĩnh viễn nằm lại nơi hẻm núi tuyết dày, thây phơi nơi đất khách mà chàng bất lực không sao cứu vãn. Mối hận ấy, nỗi dằn vặt ấy đã tôi luyện nên một Trần Nhật Minh cẩn trọng đến khắc nghiệt, luôn sẵn sàng gánh vác mọi hiểm nghèo thay vì để thuộc hạ phải chịu rủi ro.
Chàng dõi mắt nhìn xuống những toán thợ lặn đang thoan thoắt bám dây bên các bè cọc. Tiếng hò dô vẫn vang rền, nhưng từng nhịp đập nơi lồng ngực chàng lại dấy lên một cảm giác bồn chồn khó tả.
“Bẩm Phó tướng! Phân đội ba ở tả ngạn đã hạ xong sáu mươi cây cọc lim xuống lạch nước sâu. Con nước sáng nay rút nhanh bất thường, rất thuận lợi để gia cố chân cọc!”
Một viên đội trưởng thủy binh từ dưới bến chạy vội lên kỳ đài bẩm báo, hơi thở phả ra làn khói trắng xóa giữa giá rét. Nhật Minh khẽ gật đầu, ánh mắt sắc bén vẫn dõi theo dòng nước đang cuồn cuộn sóng phù sa “Truyền lệnh cho anh em phải cẩn trọng gấp bội. Chân cọc phải cắm ngập sâu xuống cát ngầm ít nhất bảy thước, đầu bịt sắt hướng chếch góc ba mươi độ về phía thượng nguồn theo đúng thế trận Tiết chế đã truyền thụ. Bố trí cọc ngầm xen kẽ hình nanh sói, giữ khoảng cách đủ hẹp để chiến thuyền nặng của địch đâm trúng nhưng thuyền nan nhẹ của ta vẫn lướt qua an toàn. Sai lệch một tấc, thuyền giặc lướt qua không trúng, tội ấy chém đầu cũng không đền hết nợ giang sơn!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Viên đội trưởng vừa chắp tay lui bước, chân mày Nhật Minh bỗng khẽ nhíu lại. Ngọn gió bấc từ mỏm núi Phượng Hoàng thổi thốc qua mặt sông đột ngột đổi chiều, mang theo một luồng chướng khí lạ lùng xộc thẳng vào sống mũi.
Đó tuyệt nhiên không phải mùi bùn non ngai ngái quen thuộc của dòng Lục Đầu, cũng chẳng phải vị tanh nồng của tôm cá mùa đông. Mùi hương này nhớp nhúa, lợm giọng tựa mùi xác chết thối rữa lâu ngày trong hầm mộ tối tăm, lại pha lẫn vị khét lẹt của tro tàn và lưu huỳnh quái đản. Mùi xú uế đậm đặc bốc lên cuồn cuộn khiến cổ họng Nhật Minh cồn cào, dấy lên một nỗi bất an rợn người nơi đáy mắt.
“Mùi tử khí ở đâu bốc lên nồng nặc thế này?”
Nhật Minh lẩm bẩm, bước sát mép lan can gỗ, phóng tầm mắt nhìn về phía thượng nguồn sông Thương. Giữa màn sương mù xám đục cách bãi cọc chừng trăm trượng, một vệt nước đen ngòm như mực tàu đang cuồn cuộn trôi xuôi. Dòng nước nơi ấy sôi lên sùng sục, từng dải bọt đen nhờn nhợt kết thành từng mảng lớn nổi lềnh bềnh, quánh đặc như váng dầu hắc. Đi tới đâu, dải hắc thủy nuốt chửng màu nước phù sa hồng đỏ tới đó, bốc lên những làn hơi mỏng màu lam tím lờ lờ trên mặt sóng.
Cùng lúc ấy, một cảnh tượng hãi hùng đột ngột phơi bày trước mắt chàng. Từ trong dải nước đen quái đản, hàng ngàn, rồi hàng vạn con cá lớn bé điên cuồng lao ngoi lên mặt nước. Chúng quẫy đạp dữ dội, nhảy chồm chồm lên không trung như thể dưới đáy nước có ngọn lửa vô hình nung nấu thiêu đốt da thịt, rồi rơi rụng lả tả xuống mặt sóng. Chỉ trong chớp mắt, lũ cá ngửa bụng trắng bợt, trôi dạt la liệt tấp vào mạn bè gỗ và các chân cọc lim ven bờ.
“Cá… cá chết! Nhiều cá chết quá các anh em ơi!”
Tiếng la hét thất thanh vang lên xé toạc bầu không khí lao động hừng hực nơi bến sông. Hàng ngàn binh sĩ trên các bè cọc đồng loạt dừng tay chày, kinh hãi nhìn xuống dòng nước đang biến sắc. Những người thợ lặn dưới mép nước lập tức nhảy lùi lại lên bờ, mặt mũi ai nấy tái mét khi thấy từng đàn tôm cá chết nổi lềnh bềnh dạt vào chân mình.
Nhật Minh không chần chừ, chàng tung mình nhảy qua lan can kỳ đài cao vút. Mũi chân chàng điểm nhẹ lên đầu mỏm cọc gỗ bên mép nước, thân hình lướt đi nhẹ tựa cánh chim ưng rồi hạ mình êm ái xuống sàn chiếc thuyền chiến chỉ huy đang neo dưới bến “Mau, chèo thuyền ra mép bãi cọc ngầm!” Nhật Minh trầm giọng hạ lệnh, sát khí lạnh lẽo tỏa ra quanh người.
Chiếc thuyền lướt băng băng trên mặt nước buốt giá. Càng tiến ra xa bờ, mùi hôi thối càng nồng nặc đến nghẹt thở. Nhật Minh nghiêng mình nhìn xuống mép nước. Hàng ngàn con cá chép, cá mè to bằng bắp chân người lớn nổi phềnh, lớp vảy óng ánh thường ngày nay bong tróc loang lổ, để lộ từng mảng thịt tím đen thối rữa như bị nhúng qua vạc nước sôi tẩm độc. Mắt lũ cá lồi hẳn ra ngoài, đông đặc những vệt máu đen khô quắt. Ngay cả loài tôm càng xanh vùi sâu dưới đáy bùn và loài trai ốc bám trụ nơi ghềnh đá cũng co quắp ngoi lên, vỏ ngoài biến thành màu xám tro dị hợm, nứt toác từng kẽ mục rỗng. Dòng Lục Đầu Giang ngàn năm trù phú bỗng chốc hóa thành dòng sông chết chỉ sau một cái trở mình của ngọn gió đông.
“Phó tướng! Chuyện quái dị này là thế nào?” Người lính chèo thuyền run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập: “Nước sông ngọt mát quanh năm, sao bỗng chốc cá tôm chết trắng bụng? Phải chăng thần sông nổi giận vì chúng ta cắm cọc sắt đâm vào thủy mạch?”
“Câm mồm! Quân kỷ nghiêm minh, không được buông lời mê hoặc lòng quân!” Nhật Minh quát khẽ, giọng đanh như thép. Chàng trừng mắt nhìn người thuộc hạ: “Bao đời nay tổ tiên ta đánh giặc giữ nước đều thuận theo lẽ trời, thuận theo lòng dân. Quỷ thần nào lại đi hãm hại quân dân bảo vệ xã tắc? Mọi trò ma quỷ này đều bắt nguồn từ dã tâm hiểm độc của kẻ thù phương Bắc!”
Chàng rút con dao găm bằng bạc giắt nơi cổ ủng toan nhúng xuống thử độc. Nhưng khi lưỡi dao vừa chạm vào lớp váng đen mỏng manh trôi trên mặt sóng, mũi dao bạc chỉ khẽ rung lên rồi bám lại một lớp nhờn lạnh ngắt, không hề đổi sang sắc đen tuyền như độc thạch tín hay cỏ ngải thông thường. Trái lại, lớp màng dầu đen ấy bám riết lấy mặt kim loại, tỏa ra luồng khí lạnh buốt khiến những giọt nước đọng trên thân dao lập tức đông cứng thành những hạt băng nhỏ màu đen quánh. Điều đó chứng tỏ thứ tà vật hòa trong dòng nước vượt xa những loại độc chất mà phàm nhân hay dùng trong chốn giang hồ.
Đúng lúc ấy, một tiếng kêu thảng thốt từ phía cụm cọc ngầm số bảy xé toạc màn sương mù “Cứu… Kéo dây! Kéo dây mau lên!”
Nhật Minh giật mình quay phắt lại. Cách thuyền chàng chừng ba mươi trượng, chiếc thuyền nan phụ trách đội thợ lặn trinh sát đang chao đảo kịch liệt giữa dòng nước xiết.
Theo quân quy nghiêm ngặt của thủy binh Vạn Kiếp, mỗi khi đóng xong một cụm cọc lim ngầm dưới đáy sông, bao giờ cũng phải cử ba dũng sĩ lặn sâu xuống lạch nước để kiểm tra độ bám của mũi sắt và phương hướng chân cọc. Mỗi người đều được buộc một sợi dây thừng bện vỏ gai quanh hông, đầu dây nối với mạn thuyền làm tín hiệu thông báo. Sáng nay, nhóm thợ lặn do Đặng Vũ — một dũng sĩ kiệt xuất vùng duyên hải Ba Chẽ, người có tài bơi lặn phi thường và nín thở dưới đáy nước sâu suốt hai tuần trà — trực tiếp dẫn đầu. Thế nhưng nén nhang đo giờ cắm trên mũi thuyền nan đã cháy rụi từ lâu mà mặt nước vẫn phẳng lặng như tờ, chưa thấy bóng người trồi lên.
“Có biến!” Nhật Minh nhún chân, thân hình vút qua làn sương mù, đáp thẳng xuống mạn thuyền nan. Cú tiếp đất vững như bàn thạch khiến chiếc thuyền chòng chành lập tức thăng bằng trở lại.
Người lính giữ dây trên thuyền mặt cắt không còn giọt máu, hai bàn tay túm chặt lấy ba sợi dây thừng đang giật liên hồi từng đợt yếu ớt, giọng lạc đi vì kinh hoàng “Báo… báo cáo Phó tướng! Cách đây nửa khắc, ba sợi dây bỗng giật dữ dội rồi chùng hẳn xuống! Thuộc hạ giật dây gọi nhưng không thấy tín hiệu đáp lại, đang kéo lên thì thấy nặng trịch như kéo phải đá tảng!”
“Kéo! Mau dốc toàn lực kéo lên!” Nhật Minh gằn giọng, bàn tay rắn rỏi lập tức chộp lấy sợi dây thừng lớn nhất ở giữa.
Vận chuyển “Thủy Long Kình” từ đan điền, Nhật Minh ghì chân xuống sàn thuyền rồi kéo mạnh. Từng dải bọt khí màu xám tím ùng ục trồi lên mặt nước kèm theo những bóng đen lờ đờ dưới đáy sông sâu. Sức nặng ngàn cân từ đáy nước dồn lên cánh tay gân guốc của chàng, nhưng bằng kình lực hùng hậu, chàng từng tấc từng thước lôi ba thân thể trồi lên mặt sóng.
“Roạt!” Mặt nước rẽ đôi, ba thân ảnh được kéo thốc lên khỏi dòng sông lạnh buốt.
Khi thân thể ba người lính lặn được đặt nằm sóng soài trên mặt sàn gỗ, toàn bộ binh sĩ xung quanh đồng loạt lùi lại, những tiếng hít sâu đầy hãi hùng vang lên nghẹn ứ nơi cuống họng. Cảnh tượng trước mắt rùng rợn đến mức một vị tướng từng dạn dày trận mạc như Trần Nhật Minh cũng phải lạnh toát cả sống lưng.
Hai dũng sĩ trẻ tuổi đã hoàn toàn tắt thở tự bao giờ. Thân thể họ co quắp lại như loài tôm bị nướng trên than hồng rực. Làn da đồng hun rắn rỏi của những người con miền biển nay biến thành một màu tím đen nhờn nhợt, những đường gân máu bầm đen nổi ngoằn ngoèo khắp lồng ngực và cổ tựa như rễ cây khô mục cắm sâu vào da thịt. Khủng khiếp hơn cả, lớp thịt nơi bắp chân và cánh tay họ mềm nhũn, rữa nát ra từng mảng lớn, chỉ cần va quẹt nhẹ vào mạn thuyền là da thịt đã bong tróc, để lộ những thớ cơ thâm xì bốc mùi hôi thối nồng nặc. Từ khóe mắt, lỗ tai và khóe miệng họ, từng dòng dịch đen nhờn nhụa rỉ ra, đông đặc lại giữa làn gió đông buốt giá.
Người duy nhất còn thoi thóp chút tàn hơi là Đặng Vũ. Toàn thân người trinh sát dũng cảm co giật dữ dội, hai hàm răng va vào nhau lập cập nghe rõ từng tiếng khô khốc. Mười đầu ngón tay anh cào cấu điên dại lên ngực áo, móng tay bấu rách da thịt tím ngắt. Đôi mắt anh trợn trừng, tròng mắt đỏ ngầu những tia máu vỡ vụn, khóe miệng sùi ra từng bọt mép màu đen sẫm tanh tưởi.
“Đặng Vũ! Tỉnh lại, Đặng Vũ!”
Nhật Minh quỳ một gối xuống sàn thuyền, áp chặt lòng bàn tay nóng rực vào phế kinh sau lưng thuộc hạ. Chân khí chí dương thuần hậu từ đan điền chàng ồ ạt rót vào kinh mạch người lính, cố gắng phong tỏa tâm mạch để giữ lại chút sinh cơ cuối cùng cho người huynh đệ.
Thế nhưng, nội lực vừa truyền vào tấc dạ, Nhật Minh bàng hoàng nhận thấy toàn bộ kinh mạch của Đặng Vũ đã bị một luồng khí tức âm hàn tột độ đóng băng hoàn toàn. Luồng tà khí ấy lạnh ngắt như hàn băng ngàn năm, vừa chạm phải chân khí thuần dương liền điên cuồng cắn nuốt, phản phệ ngược trở lại khiến đầu ngón tay chàng tê dại nhức nhối. Thứ hàn độc này không chỉ phá hủy thể xác mà dường như còn ăn mòn cả sinh lực nguyên bản của con người.
“Khụ… khụ… á!”
Được chân khí k*ch th*ch, Đặng Vũ đột ngột ưỡn cong người, nôn thốc ra một búng máu đen thẫm lẫn những mảnh vụn đen sì nhờn nhợt. Ánh mắt dại đi của anh lóe lên tia thần trí mong manh cuối cùng khi nhận ra gương mặt cương nghị của vị Phó tướng. Bàn tay run rẩy, tím bầm của Đặng Vũ túm chặt lấy ống tay giáp của Nhật Minh, móng tay cắm sâu vào lớp vải thô viền bạc. Anh th* d*c từng cơn đứt quãng, thanh âm the thé rít qua kẽ răng như tiếng cưa gỗ rỉ sét “Phó… Phó tướng… dưới… dưới nước…”
“Ta nghe đây! Có chuyện gì dưới đáy sông? Kẻ nào đã hãm hại các ngươi?” Nhật Minh ghé sát tai, giọng chàng trầm xuống nhưng chứa đựng nỗi căm phẫn ngút ngàn.“Không… không phải người… Thủy… Thủy quỷ… Rêu… rêu đen…” Đặng Vũ trợn trừng mắt nhìn lên vòm trời xám xịt, lồng ngực phập phồng run rẩy: “Cọc lim… cọc lim… mục… mục hết rồi… Giặc… giặc phá… trận…”
Chữ cuối cùng vừa thốt ra, một cơn co giật cực mạnh giật nảy thân thể Đặng Vũ lên khỏi sàn ván. Bàn tay đang bấu chặt tay áo Nhật Minh đột ngột buông thõng, đập mạnh xuống sàn thuyền. Đôi mắt mở trừng trừng không kịp khép lại, hơi thở tàn lụi dứt hẳn giữa làn sương lạnh buốt.
Không gian trên chiếc thuyền nan bỗng chốc đông cứng lại. Chỉ còn tiếng gió bấc gào thét từng hồi qua rặng lau sậy bên bờ và tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền những nhịp điệu thê lương, ai oán.
Nhật Minh từ từ buông tay khỏi lưng người lính. Từng khớp xương nơi bàn tay chàng siết chặt lại kêu lên răng rắc. Lời trăn trối của Đặng Vũ như từng nhát dao nhọn cứa vào lồng ngực chàng. Những dũng sĩ quả cảm này, mới sớm nay còn cười nói hào sảng chào chàng trước khi lặn xuống dòng nước xiết, vậy mà giờ đây đã vĩnh viễn nằm lại nơi đáy sông với thân xác chẳng còn nguyên vẹn.
Chàng khẽ vươn tay vuốt khép lại đôi mắt trừng trừng của Đặng Vũ, giọng nói trầm đục nén chặt cơn thịnh nộ “Đặng dũng sĩ, hãy yên nghỉ. Mối thù này, món nợ máu này của huynh đệ, Trần Nhật Minh ta thề trước hồn thiêng sông núi sẽ bắt lũ giặc đền bằng máu!”
Chàng đứng bật dậy, quay sang người lính giữ thuyền đang run lẩy bẩy “Đưa thi thể ba dũng sĩ vào am thờ ven sông, dùng vải sạch liệm kỹ, phong tỏa nghiêm ngặt khu vực ấy, tuyệt đối không cho bất kỳ ai chạm tay trần vào thi thể hay máu của họ! Ai dám làm trái quân lệnh, chém!”
“Tuân… tuân lệnh Phó tướng!”
Dứt lời, ánh mắt Nhật Minh chuyển hướng nhìn thẳng vào vùng nước xoáy sủi bọt đen ngòm nơi cắm cụm cọc ngầm số bảy. Lời trăn trối của Đặng Vũ như sấm sét nổ vang bên tai: “Cọc lim mục hết rồi… Giặc phá trận…”
Điều đó có nghĩa là gì? Cọc lim được triều đình điều động từ những cánh rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở thượng du Thanh Hóa, Nghệ An chuyển về bến Vạn Kiếp. Thân gỗ đặc quánh, nặng tựa đá tảng, thả xuống nước là chìm ngay tắp lự, rìu sắt chém vào chỉ bật ra tia lửa. Đầu mỗi cây cọc lại được bịt lớp vỏ sắt rèn dày dặn sắc bén. Loại gỗ lim ngâm dưới bùn nước trăm năm không hề mục rỗng ấy, cớ sao có thể mủn nát chỉ sau một đêm?
Trừ phi… kẻ thù đã dùng một loại tà thuật cực kỳ thâm độc!
Một nỗi căm hờn tột độ bùng lên trong huyết quản, khơi dậy vết thương lòng sâu hoắm năm xưa — ngày phân đội trinh sát dưới quyền chàng bị gian tế lừa vào cửa tử nơi ải Bắc, máu nhuộm đỏ dòng suối lạnh mà chàng bất lực không thể cứu vãn. Lần này, ngay tại đại bản doanh Vạn Kiếp, ngay dưới mắt Tiết chế Hưng Đạo Vương, chàng quyết không để vết xe đổ đau đớn ấy lặp lại thêm một lần nào nữa!
“Phó tướng! Ngài… ngài định làm gì?”
Viên đội trưởng vừa chèo thuyền tới hốt hoảng kêu lên khi thấy Nhật Minh bắt đầu tháo giáp trụ. Bộ giáp thanh đồng viền bạc được chàng cởi ra đặt ngay ngắn trên mũi thuyền. Dưới lớp giáp là bộ võ phục màu lam đen bó sát thân hình vạm vỡ, cơ bắp cuồn cuộn như đá tạc. Nhật Minh tháo thanh cổ kiếm Trấn Nhạc giao cho viên đội trưởng, chỉ giữ lại thanh đoản đao sắc bén bằng thép rèn giắt sau lưng.
“Ta phải đích thân xuống đáy sông xem rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra.” Giọng Nhật Minh đanh thép, không cho phép bất kỳ ai can gián.
“Không được đâu Phó tướng!” Viên đội trưởng biến sắc van nài: “Nước sông đầy độc khí hung hiểm, ba dũng sĩ lặn giỏi nhất vừa xuống đã mất mạng thảm khốc, ngài là rường cột chỉ huy bãi cọc, ngàn vạn lần không thể mạo hiểm!”
“Nếu ta không xuống, ai dám xuống?” Nhật Minh nhìn thẳng vào mắt viên đội trưởng, ánh mắt rực lửa cương nghị: “Bãi cọc Vạn Kiếp là yết hầu của Đại Việt, là sinh mạng của vạn quân dân sau lưng chúng ta! Nếu trận địa cọc ngầm bị hủy hoại, đại quân Thoát Hoan tràn qua biên ải, non sông này sẽ chìm trong biển máu lầm than! Chuẩn bị tời sắt và dây chão lớn cho ta!”
Hiểu rõ ý chí sắt đá của vị phó tướng trẻ tuổi, viên đội trưởng cắn răng tuân lệnh. Sợi dây chão bện bằng da trâu dẻo dai lập tức được buộc chặt quanh thắt lưng Nhật Minh, đầu dây nối vào chiếc tời sắt lớn đặt trên mạn thuyền chiến.
Nhật Minh móc từ trong túi gấm bên hông ra một viên “Thanh Thảo Đan” ngậm chặt dưới cuống lưỡi. Đây là linh dược hộ tâm do danh y ban tặng trước khi xuất quân, có công hiệu thanh nhiệt giải độc, giữ vững tâm mạch trước chướng khí rừng sâu. Chàng hít một hơi dài, lồng ngực phồng lên như cánh buồm no gió. Vận chuyển “Thủy Long Kình”, chân khí cuồn cuộn chảy khắp kỳ kinh bát mạch, phong bế toàn bộ các lỗ chân lông trên cơ thể, chuyển sang trạng thái quy tức nội hô hấp của loài thủy tộc. Một làn khí mỏng màu lam nhạt bao bọc lấy làn da chàng, ngăn cách hơi lạnh giá buốt.
Nhật Minh ngậm thanh đoản đao ngang miệng, nhún mạnh hai chân trên be thuyền rồi lao vút cắm thẳng xuống lòng Lục Đầu Giang lạnh ngắt. Mặt nước rẽ ra một vòng xoáy nhỏ rồi khép lại, nuốt chửng bóng dáng chàng vào màn nước đen ngòm mịt mùng.
Vừa chìm sâu xuống nước, cảm giác đầu tiên ập đến là cái lạnh thấu tận xương tủy. Dòng nước đen mang theo thứ hàn khí âm tà rợn ngực, như hàng ngàn mũi kim băng điên cuồng đâm xiết vào lớp màng chân khí bảo hộ. Nước sông không chỉ lạnh giá của mùa đông mà còn ẩn chứa một luồng độc lực thâm độc, muốn len lỏi qua từng thớ thịt để đóng băng huyết mạch. Viên đan dược dưới lưỡi tan ra từng đợt vị đắng ngắt thanh lương, giúp chàng duy trì sự tỉnh táo giữa dòng nước kịch độc.
Nhật Minh mở mắt. Khác hẳn với làn nước phù sa trong trẻo thường ngày, tầm nhìn dưới đáy sông lúc này mờ mịt một màu lục đen quánh đặc. Những dải chất nhờn như dịch nhầy của loài bò sát trôi lơ lửng khắp nơi, bám dính vào da thịt mang lại cảm giác ngứa ngáy, bỏng rát râm ran. Dưới đáy nước, xác cá tôm nằm la liệt trên lớp bùn cát, nhiều con rữa nát chỉ còn trơ lại bộ xương trắng hếu dị kỳ. Khung cảnh hoang tàn tựa hồ một bãi tha ma chìm sâu dưới lòng sông.
Chàng khẽ vung hai tay, thân hình lướt đi thoan thoắt như loài rái cá, bơi thẳng về phía chân cọc ngầm số bảy.
Đáy sông Lục Đầu dần hiện ra trước mắt. Nơi đây, hàng chục cây cọc lim cắm sâu vào cát ngầm, xếp thành thế trận so le tầng tầng lớp lớp theo trận đồ bát quái. Thế nhưng, khi vừa bơi lại gần, cảnh tượng trước mắt khiến tim Nhật Minh thắt nghẹn lại vì kinh hãi.
Cây cọc lim đứng sừng sững giữa dòng nước xiết lúc này bị bao phủ từ gốc đến ngọn bởi một lớp rêu đen nham nhở, nhầy nhụa như một tổ đỉa đói khổng lồ. Từng sợi rêu đen mảnh như sợi tóc cử động uốn éo một cách ma quái ngược chiều dòng nước cuốn, bám chặt vào thớ gỗ lim. Kinh khủng hơn cả, nơi nào rêu đen bám vào, chất dịch từ thân rêu tiết ra làm sủi lên từng dải bọt khí tím tái, gặm nhấm thân gỗ lim rắn chắc thành những lỗ chỗ tổ ong đen ngòm.
Nhật Minh bơi sát lại gốc cọc, vươn tay rút thanh đoản đao nơi miệng, chém mạnh một nhát vào thân cọc.
“Phập!”
Lưỡi đao sắc bén chém ngập sâu vào thân gỗ một cách dễ dàng đến rợn người! Không hề có tiếng va đập đanh thép của gỗ lim ngàn tuổi, cảm giác truyền lại qua cán đao xốp xộp, mục nát như thể chàng vừa chém vào một khúc chuối mục ngâm bùn lầy!
Chàng lột một mảng rêu đen ra. Bên dưới lớp vỏ gỗ, lõi cọc lim đã hoàn toàn rỗng toác, biến thành một khối mùn cưa đen ngòm mủn nát, bị dòng nước xiết xói mòn cuốn trôi từng mảng lớn. Ngay cả mũi sắt bọc cọc nặng tới ba mươi cân, vốn được tôi luyện qua lò than ngàn độ, lúc này cũng bị rỉ sét ăn mòn loang lổ, lớp sắt dày mủn ra như bánh đa ngâm nước, gãy gập sang một bên!
Một cây cọc ngầm uy dũng có thể đâm thủng đáy chiến thuyền bọc đồng của giặc, nay chỉ cần một cú va chạm nhẹ của thuyền nan cũng đủ gãy vụn thành trăm mảnh củi mục!
Nhật Minh căm phẫn tột cùng. Đây tuyệt đối không phải là hiện tượng tự nhiên, mà là một loại tà độc cực kỳ tàn bạo nhằm triệt hạ phòng tuyến Lục Đầu Giang! Kẻ địch mưu toan biến toàn bộ bãi cọc ngầm Vạn Kiếp thành củi mục vô dụng trước khi chiến thuyền của Thoát Hoan tràn tới! Nếu không phát hiện kịp thời, khi đại quân giặc ập vào, rừng cọc sẽ sụp đổ, thủy quân vỡ trận, kinh thành Thăng Long ắt rơi vào nguy khốn!
Chàng nhanh chóng móc sợi xích sắt từ thắt lưng ra, quấn chặt lấy đoạn cọc lim bị gãy mục rồi giật mạnh dây thừng liên lạc ba lần.
Trên mặt nước, tiếng tời sắt lập tức quay rít liên hồi. Sợi dây chão căng như dây đàn, kéo bổng Nhật Minh cùng khúc cọc lim mục rỗng trồi lên khỏi mặt nước.
“Ào!”
Nhật Minh phá nước vọt lên, hai tay bám chặt mạn thuyền chiến, nhổ búng nước đen lẫn bọt thuốc ra khỏi miệng. Chàng hít một hơi dài không khí trong lành của trần gian, lồng ngực phập phồng dữ dội. Hơi lạnh độc khí vẫn còn bám riết nơi chân lông, nhưng ý chí kiên định đã giúp chàng áp chế tà lực.
“Mau! Kéo khúc cọc lên boong thuyền!” Nhật Minh quát lớn, giọng khản đặc vì hơi lạnh và độc khí.
Bốn người lính lực lưỡng lập tức ghé vai quay tời, kéo khúc cọc lim dài chừng một trượng lên sàn thuyền. Khúc gỗ rơi bịch xuống sàn ván, nước đen từ thân cọc róc rách chảy ra, bốc mùi hôi thối nồng nặc và tanh tưởi đến lợm giọng.
Toàn bộ binh sĩ trên thuyền chiến xúm lại. Khi nhìn thấy cây cọc lim vốn rắn như thép nay bị rêu đen gặm nhấm rỗng ruột, mục nát như bùn lầy, mặt ai nấy đều xám ngoét không còn một giọt máu.
“Trời ơi… cọc lim ngàn năm… sao lại ra nông nỗi này?”
“Gỗ lim ngâm nước hóa đá, cớ sao lại mủn ra như tro tàn thế này?”
Những tiếng xì xào kinh hãi rộ lên, nỗi hoang mang tột độ lan nhanh như dịch bệnh trong ánh mắt của những người lính dạn dày. Ai nấy đều hiểu rõ, bãi cọc này là niềm hy vọng lớn nhất của quân dân Đại Việt để chặn đứng hạm đội hùng hậu của giặc Nguyên Mông. Nếu cọc lim hóa thành củi mục, lấy gì để cản bước quân thù?
“Tất cả trật tự!”
Nhật Minh hét lên một tiếng tựa sấm sét giữa trời đông, trấn áp toàn bộ tiếng ồn ào trên boong thuyền. Thân hình chàng ướt sũng nước sông đen ngòm, mái tóc dài xõa ướt bết vào vầng trán cương nghị. Chàng bước tới trước khúc cọc lim mục nát, cúi người xuống.
Khi Nhật Minh vừa đặt tay lên khúc cọc mục nát, một làn khói tím mờ ảo bốc lên từ lòng sông, kèm theo tiếng còi ma quái the thé rợn người vọng lại từ màn sương mịt mùng phía hạ lưu.
Trấn Ải Giang Sơn: Hồn Lửa Vạn Kiếp