Chương 1: Mùi Của Người Ở Lại
Bốn giờ sáng, Diễm Phụng thức dậy trong bóng tối của căn gác lửng. Cơ thể bà nhớ giờ chính xác hơn bất kỳ chiếc đồng hồ nào suốt mấy chục năm qua. Không một động tác thừa, bà gạt mép chăn cũ, thả hai chân chạm vào mặt ván gỗ mát lạnh rồi lần cầu thang bước xuống tầng trệt.
Bà bật ngọn đèn dây tóc mờ ở góc bếp, chụp chiếc nón lá rách che bớt chùm sáng vàng ệch để ánh đèn không rọi qua khe liếp. Bàn tay thô ráp của bà vặn van chiếc bếp ga nhỏ, châm ngọn lửa xanh liu riu dưới nồi nước nhôm. Nước vừa ấm, bà múc ra chậu nhựa, nhúng đôi bàn tay to bè, sạm nắng vào kỳ cọ thật kỹ rồi lau khô bằng tấm khăn vải mộc. Trước khi chạm vào chum mắm, tay người làm nghề phải sạch tuyệt đối, không được vướng chút mùi dầu mỡ hay tạp chất nào.
Cái chum sành màu đen bóng đặt ở góc bếp trệt, to bằng nửa thân người, đã ngự ở đúng chỗ này từ năm 1991. Bà đưa hai tay gỡ tấm vỉ tre cùng lớp vải màn phủ trên miệng chum. Mùi mắm đặc sánh lập tức bốc lên, choán ngợp gian bếp nhỏ ba mươi hai mét vuông. Đó không phải mùi hôi hay tanh nồng khiến người lạ dội ngược, mà là thứ mùi mặn sâu của muối hạt thô quyện chặt với vị ngọt thẳm của tôm đất lên men, hơi cay the nơi sống mũi như mùi đất ướt sau cơn mưa rào. Mùi hương ấy bà đã quen từ thuở lên tám trong chái bếp của mẹ ngày xưa ở Phú Vang, ngấm vào từng thớ thịt, từng nếp nhăn nơi khóe mắt.
Bà cầm lấy cây đũa cả bằng gỗ, thân đũa đã nhẵn thín và ngả màu đen kịt vì ngâm mắm qua năm tháng. Cắm đầu đũa sâu xuống đáy chum, bà bắt đầu khuấy theo chiều kim đồng hồ. Động tác đều tay, chậm rãi, nương theo độ sánh của mắm mà xoay tròn, tuyệt nhiên không vội vã. Mắm ruốc không ưa sự hấp tấp; ai nóng ruột thì mắm vữa. Ánh đèn rọi vào lòng chum soi rõ lớp mắm đặc sánh đang ở sắc tím than — dấu hiệu mắm đã gần chín, chỉ còn vài tuần nữa là ngấu hẳn. Bà cúi sát hít nhẹ một hơi, nghe mùi đằm dịu tỏa ra thì khẽ gật đầu.
Khuấy xong mẻ mắm trong chum, Diễm Phụng quay sang góc chạn lấy những hũ thủy tinh sạch bong đã xếp sẵn từ tối hôm trước. Bà dùng chiếc muôi gỗ múc mắm đã chín ngấu từ mẻ trước ra, lần lượt đổ vào hàng hũ chia làm hai loại: hai trăm gam và năm trăm gam. Bàn tay bà làm thoăn thoắt, không cần đo đếm hay ngắm nghía vạch chia, lượng mắm rót vào từng hũ chuẩn xác theo cảm giác bàn tay và con mắt nhà nghề. Mắm dẻo quánh, tím thẫm, vừa chạm ngấn cổ hũ là muôi dứt dạt, không vương vãi lấy một giọt ra ngoài. Đổ xong mười mấy hũ, bà lấy khăn miết sạch miệng từng hũ rồi vặn chặt nắp.
Khoảng trời vuông ngoài ô cửa thông gió chuyển dần sang màu xám tro. Con hẻm 47 bắt đầu thức giấc theo từng lớp tiếng động quen thuộc.
Tiếng nổ lách tách của chiếc xe máy cũ rồ ga ngoài đầu hẻm lớn mở đầu ngày mới. Liền sau đó là tiếng dép lẹp kẹp của chị Bông đẩy chiếc xe bánh mì lọc cọc ra khoảng sân chung. Cách đó vài căn, tiếng ông Lành ho khan khù khụ sau một đêm lạnh vọng qua vách tường vôi, rồi tiếng đứa nhỏ tầng hai nhà số 6 ré lên khóc đòi bú mẹ. Từng âm thanh va đập, đan cài vào nhau thành nhịp sống quen thuộc của con hẻm dài hơn trăm mét.
Diễm Phụng mở then cài cánh cửa gỗ sơn xanh tróc lở, bê khay hũ mắm bước ra chiếc bàn gỗ nhỏ kê ngoài khoảng sân chung cuối hẻm. Khoảng sân này là nơi hai mươi hai nóc nhà cùng chung đụng, lát gạch tàu cũ rêu phong dưới bóng cây trứng cá cằn cỗi. Bà đặt các hũ mắm lên bàn, không cần bảng hiệu hay lời rao, người trong hẻm ngửi mùi là tự biết tìm đến.
Buổi sáng trôi qua bình thường. Ba người khách quen lần lượt ghé lại lấy mắm, người đem về chấm thịt luộc, người kho cá cho bữa trưa. Đến chừng tám giờ, bà Loan từ đầu hẻm bước vào, dáng đi xăm xăm quen thuộc. Bà Loan mặc bộ đồ phi bóng màu tím Huế, tay kẹp cuốn sổ thu tiền điện nước, cất giọng sang sảng “Chị Phụng, lựa giùm tui hai hũ năm trăm gam ngon nhất nghen. Chiều nay tui đem qua Phú Nhuận biếu bà chị ruột, bả ăn quen mắm của chị rồi, mắm chợ bả chê lạt bét.”
“Để đó tui lấy cho.” Bà Phụng đáp gọn lỏn, với tay chọn hai hũ đượm nhất gói vào túi giấy trao sang.
Bà Loan vừa đi khuất thì ông Lành lững thững bước tới. Ông mặc chiếc áo thun ba lỗ ngả màu cháo lòng, miệng ngậm que tăm, tay bưng ấm trà nguội. Kéo chiếc ghế đẩu nhựa ngồi phịch xuống bên bàn mắm, ông nhấc chén trà con bà Phụng vừa rót, hớp một ngụm rồi tặc lưỡi “Nắng lên rồi đó bà Phụng. Mắm mẻ này coi mòi thơm dữ ha?”
“Đang vào độ chín, tuần sau mới đượm.” Bà Phụng buông một câu, mắt nhìn ra lối đi chung râm ran tiếng bước chân.Ông Lành gật gù, ngậm que tăm ngồi nhìn trời qua vòm lá trứng cá. Cuộc sống nơi đáy hẻm 47 cứ thế trôi đi, lặng lẽ và đều đặn như dòng nước chảy.
Chiều muộn, khi nắng quái rải những vệt vàng ệch trên mái tôn chắp vá, Diễm Phụng xách chiếc giỏ lát đi bộ ra đầu hẻm để lấy ký tôm đất đặt từ hôm qua ở chợ Bà Chiểu.
Đến khoảng tường gạch sát vách nhà số 1, bước chân bà khựng lại.
Trên mảng tường rêu phong vừa dán một tờ thông báo mới toanh, giấy trắng phẳng phiu nổi bật giữa những mảnh quảng cáo lem nhem. Dưới đáy tờ giấy là con dấu tròn đỏ chót của Ủy ban nhân dân Quận Bình Thạnh. Hàng chữ in hoa đậm nét đập thẳng vào mắt bà “THÔNG BÁO THU HỒI ĐẤT VÀ DI DỜI CƯ DÂN THEO DỰ ÁN CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ, MỞ RỘNG ĐƯỜNG PHAN VĂN TRỊ”
Phía dưới, dòng thời hạn ghi rõ ràng bằng mực đen sắc lạnh: Sáu tháng.
Diễm Phụng đứng sững giữa lối đi hẹp. Gió chiều từ mặt đường lớn thốc vào, thổi bay tà áo bà ba kẻ sọc xanh trắng của bà.
Bà đứng đọc từng dòng, từng chữ một. Bà không đọc to, hai hàng lông mày hoa râm cũng không hề nhíu lại. Người đàn bà gốc Huế quen giấu mọi sóng gió vào đáy mắt lặng tờ. Đọc xong, bà chầm chậm xoay người, đưa mắt nhìn ngược về phía lòng hẻm.
Đó là những mái tôn chắp vá qua bao mùa mưa nắng, những chậu cây nép mình trước bậc thềm của hai mươi hai nóc nhà. Xa tít cuối ngõ là chiếc bàn gỗ nhỏ của bà đang phơi mình ngoài sân chung, và sâu bên trong cánh cửa gỗ xanh kia là căn bếp nhà số 9 — nơi cái chum sành không thể di chuyển đang ngự trị. Cái chum sành nặng trịch ấy đã chôn chân ở góc bếp từ năm 1991, chứng kiến chồng bà ngã bệnh rồi nằm xuống, chứng kiến con Hạnh lớn lên từng ngày rồi đi xa. Nó đã trở thành một phần của nền nhà, của vách tường, không tài nào nhấc nổi.
Bà không nói gì với ai. Mấy người hàng xóm đi ngang qua chào hỏi, bà chỉ khẽ gật đầu rồi lặng lẽ ôm giỏ bước ngược vào trong bóng tối đang sẫm dần của con hẻm.
Bước vào gian bếp, Diễm Phụng khép then cửa lại. Căn nhà ba mươi hai mét vuông chìm trong ánh nhá nhem sực mùi mắm ủ.
Bà cúi đầu nhìn xuống đôi bàn tay mình. Lớp mắm ruốc dính từ sáng vẫn còn bám nơi khóe móng, vệt màu tím than khô lại trên các nếp khớp ngón thô ráp. Đôi bàn tay cả đời chỉ biết chà muối, đãi tôm, khuấy mắm nuôi con giờ đây buông thõng. Bà không rửa tay, cũng không cử động.
Bà đứng giữa bếp, tay dính mắm chưa rửa, mắt nhìn vào cái chum sành đen bóng — to bằng nửa người, đặt ở góc bếp từ năm 1991 đến giờ chưa nhúc nhích — và bà không biết phải bắt đầu từ đâu.
Chum Mắm Ruốc Đổi Màu Cuối Ngõ Hẻm