Chương 5: Lần Đầu Lên Tiếng

Bà Phụng khép cánh cửa gỗ, đứng lại bên bệ bếp. Qua khe liếp hở, bà thấy bóng con Hạnh vẫn ngồi dưới gốc cây trứng cá ngoài sân, chiếc túi xách kẹp chặt bên sườn. Câu nói của con gái như chiếc dằm mục cắm sâu vào thớ gỗ, không rách da toạc thịt nhưng nhức âm ỉ: “Mẹ bán mắm cả đời mà có gì?”

Bà không thở dài. Người già xứ Huế ít khi thở dài trước mặt người khác, càng không thở dài cho bản thân nghe. Bà với chiếc rổ tre, xả nước vào chậu nhôm rồi tỉ mẩn ngắt từng ngọn rau muống. Nước giếng mát lạnh làm dịu cảm giác nằng nặng nơi khớp ngón tay. Cơm trưa dọn ra chỉ có hai mẹ con. Hạnh và từng muỗng cơm lặng lẽ rồi lên gác lửng nằm quay mặt vào vách. Bà Phụng dọn mâm, rửa sạch hai đôi đũa cùng mấy chiếc bát rồi ngồi bên mép phản, mắt dõi ra lu nước mưa ngoài hiên.

Khoảng bốn giờ chiều, tiếng dép lẹp kẹp quen thuộc dừng trước bậu cửa. Bà Loan ghé nhà số chín, không mang theo chiếc làn nhựa hay mặc bộ đồ phi bóng màu tím Huế như mọi ngày. Trên tay người phụ nữ làm chủ tịch tổ dân phố là cuốn sổ bìa da sờn góc và chiếc bút bi gài nắp.

“Chị Phụng ơi,” bà Loan hạ thấp giọng, mắt liếc lên gác lửng rồi nhìn thẳng vào bà, “tối nay bảy giờ, tổ dân phố họp ở sân nhà số mười lăm bàn chuyện tờ thông báo giải tỏa đầu hẻm. Mọi hộ đều được mời qua đặng nghe phổ biến.”

Bà Phụng gật đầu, giọng bình thản “Dạ, tui biết rồi. Tối tui qua.”

Bà Loan quày quả bước sang nhà kế bên. Tiếng gõ cửa và tiếng gọi râm ran lan dần theo chiều dài con hẻm.

Gần bảy giờ tối, con hẻm bốn mươi bảy chộn rộn khác thường. Ánh đèn đường vàng vọt hắt bóng người đi lại rậm rịch. Diễm Phụng khép hờ cửa nhà số chín, bước sang sân nhà số mười lăm. Khoảng sân rộng chừng bốn mươi mét vuông lát xi măng mấp mô, đã kê sẵn mấy dãy ghế nhựa xanh đỏ mượn từ quán nước mía đầu ngõ.

Ông Lành đã ngồi ở hàng ghế đầu từ sớm, lưng hơi còng trong chiếc áo thun ba lỗ bạc màu, miệng ngậm que tăm tre quen thuộc. Thấy bà Phụng bước vào, ông gạt chiếc nón lá rách vành trên ghế bên cạnh xuống đất “Bà Phụng, qua đây ngồi nè.”

Bà Phụng lẳng lặng ngồi xuống cạnh ông, đưa mắt nhìn quanh. Cả hẻm hai mươi hai hộ thì tối nay mười lăm hộ có mặt, bảy hộ vắng. Đáng chú ý là nhà số hai và số ba đầu ngõ không một ai tới dự. Ông Lành ghé sát tai bà, thì thào “Hai nhà đó nhận giấy báo riêng của phường từ trước rồi. Họ muốn lấy tiền đền bù cho lẹ đặng dọn đi sớm, chẳng thiết tha gì chuyện hẻm này đâu.”

Bà Phụng không đáp, chỉ nhìn bóng đèn tròn treo lơ lửng dưới mái hiên tôn.

Bà Loan đứng trước mặt mọi người, lật giở cuốn sổ tay rồi cất giọng sang sảng. Bà mở đầu bằng việc đọc tóm tắt thông báo thu hồi đất của quận: mở rộng lộ giới đường Phan Văn Trị nhằm chỉnh trang đô thị, thời hạn di dời sáu tháng. Mấy hộ đầu hẻm gồm số một, số hai, số ba chắn ngay mặt đường sẽ mất nhà toàn bộ; riêng các hộ từ số bốn trở vào thì ranh giải tỏa chưa rõ ràng.

Vừa dứt lời, không khí trong sân lập tức chia rẽ.

Anh Tú nhà số bốn khoát tay nói lớn “Cái hẻm này vừa chật vừa tối, mùa mưa ngập lút mắt cá chân, sống khổ quá rồi. Tiền đền bù quận trả tính ra cũng khá. Tui tính gom tiền xuống Bình Dương mua mảnh đất cất mấy phòng trọ cho công nhân thuê, tháng tháng có tiền vô cho khỏe thân. Chống đối làm chi!”

Mấy người trẻ tuổi phụ họa theo, tiếng bàn tán tính toán nổi lên lao xao.

Ở góc sân đối diện, chị Bông nhà số một ngồi co ro trên ghế sứt góc, hai cánh tay ôm chặt lấy đứa con gái nhỏ đang ngủ gật trên đùi. Chị cúi gằm mặt, tay siết chặt bàn tay con. Mất căn nhà đầu hẻm là mất chỗ đặt chiếc xe đẩy bán bánh mì mỗi sáng, hai mẹ con góa bụa biết đi đâu về đâu.

Thấy đám thanh niên nhao nhao đòi nhận tiền sớm, ông Lành rút que tăm ra khỏi miệng, vỗ mạnh tay xuống đầu gối “Mấy người khoan tính cua trong lỗ! Tui hỏi bà con một câu: hẻm mình xưa nay họp hành gì cũng có giấy tờ đàng hoàng, cớ sao chuyện giải tỏa lớn bằng trời này mà chưa hề có biên bản họp tổ dân phố lấy ý kiến cư dân như thủ tục quy định? Bỏ qua bước này mà dán tờ giấy bắt người ta đi trong sáu tháng là không đúng luật!”

Mọi ánh mắt dồn về phía bà Loan. Bà chủ tịch tổ dân phố lật lật cuốn sổ rồi xác nhận:“Chuyện này chú Lành nói trúng. Tui làm chủ tịch tổ dân phố đây mà chưa hề nhận được giấy triệu tập hay ký vô biên bản làm việc nào của phường với quận ráo trọi. Không ai gửi giấy triệu tập, không ai họp với tui hết.”

Khoảng sân xáo động hẳn lên. Những tiếng chất vấn, cãi cọ nổ ra to nhỏ.

Anh Tú lại gạt đi “Thôi mấy bác ơi, mình thấp cổ bé họng, chống cũng không được gì đâu. Tiền họ trả cũng tạm, thôi đi cho sớm khỏe, lằng nhằng chi mất công thiệt thân!”

Diễm Phụng ngồi im lìm suốt nửa đầu buổi họp, hai bàn tay đặt phẳng trên vạt áo bà ba sờn cũ. Từng lời nói thực dụng của anh Tú, từng cái siết tay bất lực của chị Bông đều lọt trọn vào mắt bà.

Khi anh Tú vừa dứt câu, Diễm Phụng chậm rãi đứng dậy.

Bà không giơ tay xin phép, cũng không rào đón dài dòng “Tui muốn nói một điều.”

Cả khoảng sân chợt im bặt. Mọi người đều quay lại nhìn sang bà Phụng. Xưa nay người trong hẻm quen thấy bà lầm lũi bên chum mắm, hiếm khi lên tiếng ở chỗ đông người, nay thấy bà đứng thẳng lưng cất tiếng, ai nấy đều ngạc nhiên.

Bà Phụng nói chậm, chất giọng xứ Huế nhẹ tênh “Nếu họ làm sai thủ tục thì mình có quyền phản biện. Không phải để chống đối, mà là để làm cho đúng. Nếu con hẻm này tới ngày phải giải tỏa, tui chấp nhận dọn đi, nhưng phải đi đúng cách, đàng hoàng. Cái chum sành của tui muối mắm hơn ba mươi năm ở hẻm này. Tui không xin ai giữ con hẻm cho riêng tui, tui chỉ xin làm đúng quy trình cho bà con nhờ.”

Khoảng sân lặng đi một lúc. Không một ai cất tiếng phản bác.

Chị Bông ngẩng đầu lên đầu tiên, đôi mắt ngấn nước, khẽ gật đầu về phía bà Phụng. Rồi một người ở nhà số bảy lên tiếng: “Chị Phụng nói chí phải! Phải làm cho đúng luật!” Những tiếng đồng tình lần lượt rộ lên, xua đi vẻ cam chịu ban nãy.

Giữa những tiếng ồn ào bàn tán, mùi hương tôm muối thoảng qua trong trí nhớ kéo Diễm Phụng trôi về một buổi chiều năm 1991.

Hôm ấy trời Sài Gòn nắng gắt, chiếc xe ba gác chở đồ từ xóm trọ cũ đỗ trước đầu hẻm bốn mươi bảy. Ông Sơn với bà hì hục khiêng cái chum sành đen sì to bằng nửa người vào nhà số chín. Cánh cửa gỗ sơn xanh hẹp té, chiếc chum lại nặng trĩu tay, hai người khiêng chật cả lối đi. Đặt được chum xuống góc bếp, ông Sơn ngồi bệt xuống nền xi măng, mồ hôi ướt đẫm lưng áo thợ hồ, cười khà khà: “Cái chum nặng hơn mình tưởng nhiều nghen bà!”

Từ ngày đó đến giờ, chiếc chum sành chưa từng nhúc nhích khỏi góc bếp trệt, qua bao mùa mưa ngập và qua cả đêm ông Sơn xuôi tay.

Buổi họp kết thúc bằng việc bà Loan ghi nhận ý kiến để làm việc lại với phường. Mọi người tản mác ra về.

Trên con đường hẻm nhá nhem bóng tối, ông Lành đi bên cạnh Diễm Phụng. Ông ngậm que tăm mới, nhìn sang bà rồi nói khẽ “Tui chưa thấy bà nói nhiều vậy bao giờ.”

Bà Phụng không trả lời. Bà bước chân qua bậc thềm, đẩy cánh cửa gỗ bước vào gian nhà số chín rồi gài then lại.

Trong bếp, bóng tối đặc quánh bao trùm. Chỉ có cái chum sành phản chiếu chút ánh đèn hẻm lọt qua khe cửa — đứng đó, đen bóng, im lặng như bà vẫn im lặng suốt mấy mươi năm qua.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.