Chương 1: Mái Tóc Mây Dưới Nắng Sớm
Cụ Cảnh Thuần Đức cẩn thận luồn hai bàn tay gân guốc qua nách người bạn đời, khẽ khàng đỡ cụ bà đứng dậy rồi chậm rãi dìu từng bước chân nhỏ nhắn qua bậu cửa gỗ lim bóng nhẫy. Khoảng sân thiên tỉnh nhà số hai mươi tám phố Hàng Lược đón sớm mai mùa thu năm Bảo Đại thứ mười ba bằng dải sương mỏng manh còn vương trên những nhánh lan kiếm và khóm trà mi đẫm nước.
— Trâm ơi, bước khẽ kẻo rêu trơn. Để tôi đỡ mình ngồi sang bên ghế mây này cho thoáng gió.
Giọng cụ Đức trầm ấm, run rẩy nhịp điệu của thời gian chín mươi sáu năm cuộc đời nhưng chưa từng vơi đi nét nâng niu dành cho vợ. Cụ bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm khẽ tựa vào bờ vai vững chãi của chồng, khóe miệng móm mém nở nụ cười đượm vẻ đài các của thiếu nữ khuê các Tràng An thuở nào. Khi cụ bà đã an tọa trên chiếc ghế mây êm ái kê sát bể cạn thả cá vàng, cụ Đức mới cúi mình tháo dải lụa bạch buộc lơi sau gáy bà.
Mái tóc bạc trắng như mây trời xõa xuống bờ vai gầy, thoang thoảng mùi hương bồ kết nướng quyện vỏ bưởi khô và lá sả thanh khiết. Cụ Đức mỉm cười, rút từ trong vạt áo the thâm ra một chiếc lược sừng trâu con con. Chiếc lược nhỏ chỉ chừng ba tấc, sắc đen tuyền như gỗ mun, lưng lược uốn cong hình vầng trăng khuyết nhưng hàng răng lược đã mòn vẹt, nhẵn thín sau bảy mươi lăm năm cọ xát vào dòng đời. Cụ nâng dải tóc bạc vào lòng bàn tay ấm nóng, từ tốn đưa từng đường lược nhẹ như mây bay gió thoảng.
— Đã bảo ông bao nhiêu bận rồi, mắt ông kèm nhem thế này cứ để tôi tự búi lấy, — cụ Trâm nghiêng đầu, ánh mắt lấp lánh ý cười hóm hỉnh. — Già ngót một thế kỷ rồi mà sớm nào cũng bắt vợ ngồi im cho chải đầu.
— Mắt tôi có mờ nhưng đường tóc của mình thì tôi nhắm mắt cũng lần ra được, — cụ Đức dịu dàng đáp, những ngón tay khéo léo gỡ nhẹ một mối tóc rối nơi chân tóc mai. — Suốt bảy mươi lăm năm qua, tôi đã thề trước tổ tiên là sớm nào còn thở thì sớm ấy còn chải tóc cho em.
Cụ Trâm khẽ thở dài một tiếng êm đềm, bàn tay nhăn nheo đồi mồi vỗ nhẹ lên mu bàn tay gân guốc của chồng — Tôi nhớ dạo mười bảy tuổi mới theo ông về căn nhà này, lạ nước lạ cái, sáng ra cứ bẽn lẽn ngồi khóc thầm bên giếng. Hôm ấy ông cũng cầm chiếc lược sừng này ra, vụng về chải tóc rồi bảo: “Về đây với anh thì cả đời không phải chịu một tiếng thở dài”. Lúc ấy răng lược còn nhọn hoắt, cào vào da đầu ram ráp thế mà giờ đã mòn vẹt cả rồi.
— Chiếc lược sừng mòn răng thì tình vợ chồng mình lại càng thêm dày dặn, — cụ Đức cười hiền hậu, mắt hấp háy niềm hạnh phúc thuần khiết.
Cụ buông lược xuống mặt chõng tre, quay người bưng lấy chiếc bát sứ men lam đựng chè sen long nhãn đang bốc khói nghi ngút trên chiếc kiềng than đun liu riu cạnh đó. Cụ Đức múc từng thìa nhỏ, cẩn thận kề môi thổi cho bớt hơi nóng rồi mới đưa đến trước miệng vợ — Nào, Trâm ăn một thìa cho ấm dạ. Gió heo may sớm nay se sắt lắm, ăn xong nhớ cài chặt hàng khuy áo bông kẻo phong hàn lại phạm vào ngực đấy.
Cụ Trâm ngoan ngoãn hé môi đón lấy vị ngọt thanh của hạt sen bùi ngậy và cùi nhãn sấy dẻo, ánh mắt tràn ngập vẻ an yên tựa đứa trẻ được chở che trong vòng tay mẹ. Nhìn vợ ăn ngon lành, cõi lòng cụ Đức dâng lên niềm ngọt ngào khôn tả. Với cụ, giữ được nụ cười bình thản của người bạn đời giữa những biến động dâu bể ngoài ngưỡng cửa chính là phúc phận lớn nhất đời thợ.
Sau khi chăm sóc vợ chu đáo và đỡ bà vào buồng trong nghỉ ngơi, cụ Đức mới thong thả khoác thêm chiếc áo cánh nâu sồng bước ra gian tiền sảnh. Tiếng then cài lách cách vang lên khô khốc khi cụ mở từng cánh cửa bức bàn gỗ lim của xưởng thủ công “Đức Ký”. Mùi dăm sừng hơ lửa than quen thuộc bốc lên ấm nồng, hòa cùng hơi thở ẩm ướt của rêu phong bám chặt chân tường số hai mươi tám phố Hàng Lược.
Cụ Đức nâng chiếc chổi lông gà quét sạch lớp bụi mỏng vương trên sạp gỗ trắc. Nơi ấy, những chiếc lược sừng trâu mộng đen tuyền bóng bẩy, những chiếc lược sừng hoa lý vân ánh ngọc mắt mèo được xếp ngay ngắn thành từng hàng ngay thẳng. Mỗi chiếc lược là kết tinh của mười hai công đoạn nhọc nhằn, từ hạ lóng, nướng than, ép phẳng cho đến cưa răng dạ và mài bóng bằng bột lá chuối khô.
Bên ngoài đường lát đá cuội xen gạch chỉ, người mua kẻ bán bắt đầu dập dìu qua lại. Tiếng chuông tàu điện Bờ Hồ vọng lại từng nhịp leng keng hoài niệm giữa làn gió thu se lạnh. Chợ phiên sớm mở ra, nhưng dòng người dường như chỉ lướt qua gian nhà cổ của cụ bằng những ánh nhìn xa lạ.Một cô thị dân trẻ tuổi trong tà áo dài tân thời màu mỡ gà, mái tóc uốn lọn kiểu Tây bồng bềnh bỗng dừng gót trước sạp hàng. Cụ Đức niềm nở khẽ gật đầu — Kính mời cô xem lược. Lược sừng trâu mộng này kỵ gió trừ tà, chải vào chân tóc thì đả thông kinh lạc, dưỡng cho tóc mây đen mượt tự nhiên…
Cô gái chẳng buồn nhìn kỹ những đường vân sừng tinh tế, chỉ bĩu môi liếc qua rồi hờ hững cất tiếng — Bác có bán thứ lược nhựa Tây răng đều tăm tắp, bóng lộn nhiều màu như ngoài chợ Đồng Xuân không? Lược sừng này nặng trịch lại đen sì sì, giá những mấy hào một chiếc, ai mà chuộng cho nổi! Bây giờ trên phố người ta toàn dùng lược nhựa, vừa nhẹ vừa rẻ, chỉ hai xu một chiếc mua đâu chả có!
Dứt lời, cô gái quay ngoắt gót giày tây bước vội sang sạp hàng đối diện, để lại cụ Đức đứng lặng sau chiếc sạp gỗ. Cụ khẽ thở dài, bàn tay khô ráp run run chạm vào sống lưng mát rượi của chiếc lược sừng hoa lý. Những chiếc lược thủ công tinh xảo nằm trơ trọi, quạnh quẽ dưới vệt nắng thu vàng vọt xiên qua mái ngói âm dương. Làn sóng đồ nhựa tân thời ồ ạt tràn vào phố cổ, cuốn phăng đi sự kiên nhẫn của thị dân và đẩy cái nghề đẽo sừng gia truyền trăm năm vào cảnh chợ chiều ảm đạm.
Bỗng ngoài cửa vang lên tiếng bước chân dồn dập. Người con trai trưởng Cảnh Thuần Phúc rảo bước vào nhà, thân hình đẫy đà trong bộ sơ mi âu phục rộng thùng thình toát ra vẻ mệt mỏi. Gương mặt sầm sì dưới mái tóc hoa râm, đôi mắt thâm quầng vương đầy vẻ lo toan bực dọc. Nhìn sạp lược vắng ngắt không một bóng khách ghé mua, ông Phúc ném chiếc mũ phớt xám lên mặt bàn thợ, càu nhàu bực bội — Thầy xem đấy! Con đã nói rát cả cổ từ mấy tháng nay rồi mà thầy chẳng chịu nghe con! Cái nghề đẽo sừng già cỗi này giờ có gọt mòn cả tay, hít khói than sặc sụa cũng chẳng kiếm nổi vài đồng trinh đong gạo qua ngày. Thời buổi nào rồi mà thầy còn giữ cái nếp cổ hủ ấy?
Cụ Đức từ tốn ngước nhìn con trai, ánh mắt bao dung nhưng nghiêm nghị — Anh Phúc, nghề này là nghề tổ truyền bốn đời, nuôi sống cả họ Cảnh ta khôn lớn nên người. Miếng sừng trâu mang hơi thở của đất trời, cái tâm người thợ gửi vào từng răng lược làm sao đo đếm bằng vài ba đồng bạc phù du?
— Thầy cứ nói chuyện đạo nghĩa viển vông! — Ông Phúc gắt lên, đảo mắt toan tính nhìn quanh gian nhà ba gian cổ kính. — Người ta chuộng hàng Tây, chuộng đồ nhựa vừa bóng vừa rẻ. Cứ khư khư ôm cái sạp gỗ này thì chỉ có nước cả nhà dắt nhau chết đói. Con tính rồi, chi bằng dẹp phắt cái bàn thợ đẽo sừng này đi, cho người ta thuê mặt tiền mở tiệm tạp hóa Tây, vừa nhàn thân vừa thu tiền đồng bạc trắng mỗi tháng!
— Nhà này còn thầy và u anh, bàn thợ này không dẹp đi đâu hết, — cụ Đức điềm đạm buông từng tiếng rành rọt.
Bị cha khước từ dứt khoát, ông Phúc bực bội giậm chân, nét mặt thoáng hiện vẻ sốt ruột và hoảng hốt lạ thường. Ông ghé sát tai cụ Đức, buông một lời úp mở đầy bí hiểm — Thầy cứ bảo thủ mãi rồi sẽ thấy! Con sắp có một mối làm ăn lớn từ bên ngoài rồi, chuyến này mà trót lọt thì đổi đời trong chớp mắt, giải quyết sạch mọi nợ nần lo nghĩ! Lúc ấy thầy đừng hòng cản được con!
Chẳng đợi cha kịp cất lời gặng hỏi, ông Phúc vội vã chụp lấy chiếc mũ phớt rồi hấp tấp rảo bước ra ngõ, bóng dáng khuất nhanh sau màn sương sớm bảng lảng nơi đầu phố.
Cụ Đức đứng chôn chân bên bậc cửa lim, đôi lông mày bạc khẽ chau lại trong nỗi bất an mơ hồ. Ánh mắt cụ trĩu nặng nhìn sạp lược sừng trâu đen tuyền đang nằm im lìm, cô quạnh dưới ánh nắng thu hanh hao vừa chớm rọi qua hàng hiên rêu phong.
Chiếc Lược Sừng Trâu Chải Suốt Mùa Trăng