Chương 20: Bản Giao Ước Mùa Trăng
Tiếng bước chân khoan thai của người khách phương Tây xa dần ngoài ngõ lát đá cuội, để lại khoảng lặng êm đềm khắp nếp nhà số hai mươi tám phố Hàng Lược. Cụ Cảnh Thuần Đức đứng nơi bậu cửa dõi theo bóng chiếc xe tay khuất sau ngã ba Hàng Mã, lòng dâng lên từng đợt sóng bồi hồi. Sau chuỗi ngày giông bão suýt làm chao đảo cơ nghiệp tổ tông, đêm ấy, cụ cùng người vợ hiền thục trở mình trong niềm thanh thản, lắng nghe tiếng gió heo may ngoài giếng trời mà ngỡ như một giấc chiêm bao vừa bừng nở.
Sớm hôm sau, khi hồi chuông nhà thờ Cửa Bắc xa xăm ngân nga tan vào sương thu, giờ Thìn thong thả điểm trên chiếc đồng hồ quả lắc nơi gian giữa. Nắng sớm rọi qua khung cửa lim, xua đi làn hơi lạnh vương trên nền gạch chỉ. Maurice Laurent trở lại đúng hẹn, tay xách chiếc cặp da nâu sẫm, mực thước và tao nhã. Đi cùng ông khách phương Tây còn có bác tuần phố Đội Hưng, được cụ Đức nhắn mời sang làm chứng cho ngày trọng đại của xưởng nghề Đức Ký.
Maurice bước vào sân giếng trời, kính cẩn nghiêng mình chào hai cụ rồi mở cặp da, đặt lên bàn trắc hai tập giấy khổ lớn in song ngữ Pháp Việt rành rẽ. Cụ Đức cẩn thận lồng mục kỉnh, đọc từng dòng chữ mực đen ngay ngắn quy định rõ: xưởng Đức Ký nhận chế tác đúng một trăm chiếc lược sừng trâu mộng đực dáng trăng khuyết, chạm khắc hoa văn mây vờn trăng, hạn định ba tháng, mỗi chiếc giá ba đồng bạc hoa xòe. Từng điều khoản đều thể hiện sự tôn trọng dành cho người thợ thủ công An Nam, không hề có nét nào ép uổng.
Bác tuần phố Đội Hưng vuốt chòm râu con kiến, đọc kỹ một lượt rồi tấm tắc khen ngợi bản giao ước công minh, đoạn chấm bút ký trước một nét mực son làm chứng.
Cụ Đức nâng quản bút lông chấm mực tàu, nắn nót ký tên “Cảnh Thuần Đức” bằng nét chữ chân phương. Cụ trao quản bút cho con trai trưởng và cháu nội. Thấy bàn tay ông Phúc tuy run run xúc động nhưng ánh mắt đã ngời lên nét cương nghị, cụ Đức thầm mỉm cười nhẹ nhõm. Khiêm cũng trịnh trọng đề tên mình bên dưới, hoàn tất bản giao ước bằng sự đồng thuận của ba thế hệ.
Maurice mỉm cười hài lòng, mở chiếc hộp da mang theo, thong thả xếp từng cọc bạc hoa xòe sáng loáng lên mặt bàn gỗ trắc. Tiếng bạc va chạm lanh lảnh, tròn trịa giữa gian phòng tĩnh mịch.
Đúng một trăm đồng bạc Đông Dương tiền đặt cọc.
Sau những lời chúc tụng tốt lành, Maurice và bác tuần phố hân hoan cáo từ. Cụ Đức tiễn khách ra tận cửa rồi quay vào gian giữa, cẩn thận đếm ra đúng tám mươi đồng bạc hoa xòe xếp ngay ngắn vào chiếc khăn lụa điều. Cụ chậm rãi bước lại bên chõng tre, nơi cụ bà Ngọc Trâm đang lặng lẽ dõi theo với ánh mắt hiền từ như nước mùa thu.
Cụ Đức ngồi xuống bên cạnh vợ, khẽ nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn điểm đồi mồi của bà, nhẹ nhàng đặt bọc bạc vào chiếc tráp gỗ trắc khảm ốc quen thuộc: — Trâm ơi, số bạc dưỡng già hôm trước tôi mượn bà để trang trải cho anh Phúc, nay xưởng nghề gặp bạn tri âm, tôi xin hoàn trả đủ vào tráp cho bà. Bà nó cứ cất giữ lấy dưới đáy tủ chè để an lòng nhé.
Cụ Trâm rưng rưng nhìn chồng, những ngón tay mềm mại khẽ siết lấy bàn tay cụ Đức, khóe mắt hằn sâu nếp nhăn cười lấp lánh: — Ông nó cứ cả nghĩ. Tiền của tôi hay của ông thì cũng là mồ hôi nước mắt chắt chiu cho con cháu. Anh Phúc biết hối cải quay đầu, xưởng mình lại đỏ lửa, ấy mới là món của cải quý nhất trần đời, bạc vàng nào sánh đặng.Cụ Đức nhìn nụ cười đôn hậu của vợ, lòng ấm sực như uống một chén trà gừng ngọt lịm. Hai mươi đồng bạc hoa xòe còn lại, cụ trao trọn vào tay con trai trưởng: — Hai mươi đồng này, thầy giao anh Phúc làm lộ phí và đặt cọc thu mua sừng trâu mộng loại một. Việc tìm sừng tốt quyết định một nửa hồn cốt chiếc lược, trăm sự trông cậy vào mắt nhìn và cái tâm của anh.
Ông Cảnh Thuần Phúc đón lấy bọc bạc bằng cả hai tay, giọng nghẹn ngào nhưng dứt khoát: — Con xin vâng lời thầy u. Con sẽ lặn lội tìm bằng được những búp sừng trâu mộng đực bánh tẻ thượng hạng, thớ mịn óng và không chút rạn nứt mang về cho xưởng!
Ngay trưa hôm ấy, ông Phúc thắt lại dải thắt lưng, khoác tay nải nâu hăm hở xuất hành về các vùng chợ phiên xứ Đoài, xứ Bắc. Cụ Trâm cũng chẳng chịu ngồi yên an dưỡng. Dù cụ Đức hết mực khuyên can, cụ bà vẫn vui vẻ ra góc bếp nổi lửa, bắc chiếc nồi đồng lớn đun nước bồ kết, lá sả cùng rễ bạch chỉ. Khói thơm thảo mộc bốc lên nghi ngút, lan tỏa khắp gian nhà cổ, chuẩn bị sẵn nồi nước ủ phôi sừng cho mềm thớ trước khi đưa lên bàn thợ.
Ở gian tiền sảnh phong quang, cụ Đức cùng Minh Khiêm bắt tay vào việc. Tiếng cưa dạ rọt rẹt, tiếng dũa sắt rền rĩ nhịp nhàng lại vang lên đều đặn từ sớm mai cho tới lúc sập tối. Mùi dăm sừng hơ than hoa ấm nồng quyện với hương bồ kết ngạt ngào, quét sạch tàn dư u ám của chuỗi ngày ôm nợ trước đây, trả lại cho ngôi nhà số hai mươi tám sức sống rạo rực của một lò nghề trứ danh.
Đến khi bóng chiều bảng lảng buông xuống giếng trời, Khiêm cẩn thận mở cuốn sổ giấy bổi, trải trước mặt ông nội bản phác thảo chi tiết hoa văn cho chiếc lược sừng mộng hoa của bà nội.
Trên mặt giấy, từng nét mực tàu thanh thoát hiện lên hình tượng những dải mây bồng bềnh cuộn tròn ôm ấp vầng trăng khuyết tao nhã. Khiêm đã kết hợp nét chạm lộng nơi đình chùa cổ kính với dáng vẻ mềm mại của mây trời xứ kinh kỳ, tính toán từng đường lượn sao cho vừa nâng đỡ sống lược vững chãi, vừa tôn lên vẻ thanh tú, duy mỹ.
Khiêm kính cẩn thưa: — Thưa ông nội, chỉ còn hơn tuần nữa là đến đêm rằm tháng Tám, vừa tròn đại lễ mừng thượng thọ cửu tuần lục của ông, lại đúng dịp kỷ niệm ngọc hôn bảy mươi lăm năm của ông bà. Cháu muốn dốc hết tâm lực cùng ông chạm khắc đồ án mây vờn trăng này lên phôi sừng gia bảo, để ông tự tay cài lên mái tóc mây của bà nội.
Cụ Đức ngắm nhìn từng nét vẽ tỉ mỉ của cháu đích tôn, lòng tràn ngập niềm tự hào và xúc động khôn nguôi. Ngọn lửa bách nghệ của tổ tiên đã thực sự tìm thấy người gìn giữ xứng đáng.
Đêm thu buông xuống phố cổ. Ánh trăng đầu tháng bàng bạc, non tơ lọt qua khoảng giếng trời, rọi một vệt sáng trong veo lên chiếc chõng tre và những khóm trà mi đẫm sương.
Cụ Đức khẽ khàng bước ra thềm hiên, nâng phôi sừng mộng hoa dáng trăng khuyết lên trước tầm mắt. Dưới ánh trăng ngà dìu dịu, chất sừng hổ phách ánh lên sắc ngọc mắt mèo xanh biếc pha vàng kim huyền ảo, trong trẻo tựa hồ chắt lọc tinh hoa của đất trời. Bàn tay người thợ già siết nhẹ lấy bờ sừng mát rượi, đôi mắt quắc thước ngời lên niềm kiên định thiêng liêng. Cụ thầm nhủ sẽ dồn trọn vẹn tâm lực của một đời người, khắc họa nên kiệt tác mây ôm trăng tuyệt mỹ nhất để dâng tặng người vợ tào khang suốt bảy mươi lăm năm đồng cam cộng khổ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
