Chương 1: Tiếng Máy Xuồng Đêm Nước Son
Cơn nhức buốt từ vết sẹo hõm sâu nơi mắt cá chân phải bất thần nhói lên, cắt ngang dòng suy tưởng của Giáo sư Sử Cẩm Vân.
Đầu ngòi bút bi trên tay bà khựng lại giữa trang sổ tay bạc màu, nơi những phương trình động học kháng thể và ghi chú về phản ứng phân cắt enzym còn dang dở. Bốn mươi năm trước, vết răng của con rắn chàm quạp trong cánh rừng cao su miền Đông đã cướp đi một mảng cơ thịt ở cổ chân bà; để rồi từ đó đến nay, cứ mỗi bận con nước son tháng Chín âm lịch từ thượng nguồn đổ về đỏ ngầu mé rạch cù lao Rồng, vùng tổn thương cũ lại nhức nhối như một chiếc phong vũ biểu mẫn cảm. Ngoài hiên nhà sàn, dòng sông Tiền đang cuộn sóng đục ngầu phù sa, đập dồn dập vào những gốc bần cổ thụ trồi rễ ngoằn ngoèo. Nước dâng nhanh đến mức chỉ còn cách mép ván sàn lót gỗ dừa đúng hai gang tay. Mùa nước nổi năm nay đến sớm, hung bạo và mang theo nỗi bất an truyền kiếp của xóm cồn nghèo: lũ về ngập bờ bãi, lũ rắn độc mất chỗ trú ngụ sẽ ồ ạt bò lên vườn tược, gầm giường tìm nơi khô ráo.
Bà Vân khẽ thở dài, đưa bàn tay nổi đầy gân guộc và những vết sẹo mờ do răng rắn sượt qua thời trẻ xoa nhẹ lên khớp chân. Đôi mắt một mí sau cặp kính lão đồi mồi vẫn giữ nguyên vẻ tinh anh, sắc lẹm của người cả đời đối mặt với những loài kịch độc. Bà với tay lấy cây gậy bằng gỗ ổi tiện nhẵn bóng dựng bên mép bàn, toan đứng dậy chốt lại cánh cửa liếp trước cơn mưa dông đang ràn rạt quất vào mái lá.
Đúng lúc ấy, một âm thanh chát chúa xé toạc màn mưa đêm.
Tiếng máy đuôi tôm của chiếc xuồng vỏ lãi gầm rú đinh tai nhức óc từ phía luồng sông cái lao thốc vào rạch bần. Tiếng chân vịt chém nước điên cuồng, rồi một tiếng rầm khô khốc vang lên khi mũi xuồng va thẳng vào bờ đất trơn trượt dưới chân cầu ván. Chưa đầy mười giây sau, tiếng bước chân bì bõm giẫm đạp trên bùn lầy cùng tiếng khóc lạc giọng của một người đàn bà dội ngược lên sàn gỗ “Chị Mười ơi! Cứu mạng cháu tui với chị Mười ơi! Thằng Út… thằng Út đứt hơi rồi!”
Bà Vân không chút hoảng loạn. Động tác của bà già tám mươi lăm tuổi dứt khoát đến kinh ngạc. Bà chống gậy gỗ ổi, bước nhanh ra bậu cửa, đẩy toang cánh liếp đón lấy luồng gió ẩm ướt nồng mùi phù sa. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ bóng đèn bão, bà Bảy Thiệt cả người ướt sũng, chiếc khăn rằn quấn cổ tuột xơ xác, hai tay đang ôm ghì lấy một đứa bé chừng mười tuổi mềm oặt như cọng bún. Nước mắt của người đàn bà bảy mươi hai tuổi hòa lẫn nước mưa, chảy ròng ròng trên những nếp nhăn in hằn lam lũ.
“Bảy Thiệt, bình tĩnh!” Giọng bà Vân trầm ấm, rành rọt mà vang lên đanh thép như một mệnh lệnh giữa tiếng sấm rền rĩ. “Đem thằng nhỏ lên đây. Đặt ngay ngắn lên chõng tre, đừng rung lắc mạnh!”
Bà Bảy Thiệt lảo đảo bước qua bậc cửa, run rẩy đặt đứa cháu nội nằm dài trên chiếc chõng tre giữa gian nhà chính. Đứa trẻ nhắm nghiền mắt, da dẻ tái nhợt như tàu lá chuối héo, lồng ngực chỉ còn thoi thóp những nhịp thở gián đoạn.
“Sao không chở nó ra trạm y tế xã?” Bà Vân vừa hỏi vừa nhanh tay kéo sợi dây dù treo chiếc đèn măngsông xuống sát mặt chõng, ánh sáng trắng xanh lập tức phủ rọi toàn thân đứa trẻ.
Bà Bảy Thiệt ngã quỵ xuống sàn gỗ, hai bàn tay run bần bật bấu chặt lấy mép chõng tre, giọng nghẹn lại trong tiếng nấc uất nghẹn: “Tui chở tới rồi… Tui gõ cửa trạm xá từ chập tối lận chị Mười! Nhưng bác sĩ trực nói kho thuốc sạch bách rồi, trên Viện ngoài tỉnh đã phát lệnh ngừng cấp cái loại huyết thanh một triệu hai từ cả tuần nay! Họ biểu tui thuê tắc ráng vượt sông lớn đưa nó lên bệnh viện đa khoa trên thành phố mà mua loại thuốc ngoại gì đó… Ba mươi sáu triệu một mũi lận chị Mười ơi! Nhà tui vét sạch bồ lúa cũng không kiếm đâu ra mấy chục triệu… Đò giông bão thế này qua sông Tiền thì thằng Út chết dọc đường mất thôi!”
Bà Sử Cẩm Vân siết chặt các khớp ngón tay trên đầu gậy gỗ ổi. Lồng ngực bà thắt lại một nhịp đau nhói, không chỉ vì căn bệnh suy tim tuổi già, mà vì sự phẫn nộ tột cùng trước cái tên Viện Nghiên cứu Động vật độc Miền Nam – nơi bà đã cống hiến trọn bốn thập niên cuộc đời – nay lại nhẫn tâm khóa chặt kho sinh phẩm cứu mạng bà con nghèo vì những toan tính thương mại hóa tàn độc.
Nhưng lúc này không phải là lúc để bà nổi giận. Trước mắt bà là một sinh mạng đang trượt dần về cõi chết.“Bảy nín khóc đi, giữ yên hai tay thằng nhỏ cho tôi,” bà Vân nói, giọng trầm tĩnh và dứt khoát trấn an tâm lý người nhà đứa trẻ.
Bà kéo cao ống quần ướt sũng của thằng Út lên quá đầu gối. Bàn tay già nua nhưng chuẩn xác của vị giáo sư đầu ngành lướt nhẹ dọc theo ống chân đứa bé. Ngay phía trên mu bàn chân trái, hai chấm tròn nhỏ li ti như đầu kim châm ẩn dưới lớp bùn non hiện ra. Vết thương phẳng lì, tuyệt nhiên không hề có dấu hiệu bầm dập, không sưng phù, cũng không rỉ một giọt máu hay hoại tử mô thịt xung quanh. Một người không am hiểu y khoa nhìn vào sẽ lầm tưởng đó chỉ là vết gai quẹt vô hại.
Thế nhưng, ánh mắt sắc sảo của bà Vân lập tức đanh lại.
Bà cúi sát xuống, ngón tay nhẹ nhàng lật mở mi mắt của thằng Út. Hai mí mắt trên của đứa trẻ sụp xuống nặng nề, hoàn toàn mất khả năng co kéo tự chủ; nhãn cầu lờ đờ, đồng tử đã bắt đầu có dấu hiệu giãn nhẹ. Khi bà ấn ngón tay vào lòng bàn tay thằng bé, những ngón tay nhỏ thó buông thõng, cơ bắp mềm nhũn, hoàn toàn mất phản xạ đối kháng. Miệng đứa trẻ hé mở, đờm dãi ứ đọng nơi cuống họng phát ra những tiếng khò khè đứt quãng vì các cơ thành hầu họng đã bắt đầu tê liệt.
“Bị cắn lúc nào? Ở đâu?” Bà Vân gặng hỏi, giọng sắc như lưỡi dao mổ.
“Dạ… lúc chạng vạng tối, nó ra mé vườn bần kéo lưới cá linh dính chân bờ rào… Nó la nhói một cái rồi thôi, tưởng cá ngát đâm, ai dè về tới nhà chừng nửa tiếng sau là hai mắt díp lại, chân tay bủn rủn rồi thở không ra hơi…” Bà Bảy Thiệt lập cập đáp, ánh mắt tuyệt vọng nhìn chăm chú vào từng nét mặt của người phụ nữ già đối diện.
“Đúng là nó rồi. Cạp nia Nam Bộ,” bà Vân lẩm bẩm, thanh âm trầm xuống đầy căng thẳng. “Nọc độc tiền synap cực mạnh. Chất độc thần kinh đang bẻ gãy các liên kết dẫn truyền thần kinh cơ từ ngọn chi lên đến cơ hoành. Thằng bé không đau nhức tại chỗ, nhưng chỉ mười lăm đến hai mươi phút nữa thôi, liệt cơ hô hấp hoàn toàn sẽ khiến phổi nó ngừng thở.”
Căn nhà sàn bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, chỉ còn tiếng gió dông rít qua khe liếp và tiếng sóng sông Tiền đập ầm ào dưới chân cọc gỗ. Bà Bảy Thiệt nghe đến bốn chữ “cạp nia Nam Bộ” thì rụng rời chân tay, mặt cắt không còn giọt máu. Ở miệt cù lao này, ai chẳng biết loài rắn khúc đen khúc trắng ấy là lưỡi hái tử thần; người lớn bị cắn còn khó qua khỏi miệng lỗ, huống chi một đứa trẻ mười tuổi mảnh khảnh. Trạm xá đã từ chối, đường vượt sông đi bệnh viện tỉnh thì bão bùng bít lối, giá thuốc ngoại nhập ba mươi sáu triệu đồng là một bản án tử hình treo lơ lửng trên đầu gia đình cùng quẫn.
Bà Bảy run rẩy sụp lạy sát ván sàn: “Chị Mười ơi… cả xóm cù lao này coi chị như Bồ Tát sống… Xin chị cứu lấy cháu tui!”
Bà Vân không đáp lời van xin ấy bằng những câu an ủi suông sẻ. Bà quay ngoắt người lại, cây gậy gỗ ổi gõ cộc cộc trên sàn nhà từng bước dứt khoát hướng thẳng về phía gian buồng trong. Tuổi tám mươi lăm cùng nhịp tim suy yếu khiến bước chân bà có phần nặng nhọc, nhưng bờ lưng gầy guộc vẫn thẳng tắp như thân đước giữa rừng ngập mặn.
Bà bước vào góc buồng tối, đến trước chiếc tủ gỗ lim đóng kín then cài. Bàn tay nhăn nheo mở khóa, kéo ra chiếc hộp bảo ôn chuyên dụng màu bạc bằng kim loại sáng loáng. Nắp hộp bật mở phả ra một làn hơi lạnh buốt giá từ các thanh gel giữ nhiệt âm sâu.
Giữa lớp đệm m*t chống sốc vô trùng, trơ trọi một lọ thủy tinh nhỏ cỡ ngón tay cái chứa lớp dung dịch trong vắt không một gợn vẩn đục, bên trên dán nhãn niêm phong kiểm định nội bộ của Viện cùng chữ ký giám sát viết tay của chính bà.
Đó là lọ huyết thanh kháng nọc rắn cạp nia tinh khiết duy nhất còn sót lại – lọ sinh phẩm dự phòng cá nhân cuối cùng mà bà mang theo ngày rời khỏi viện nghiên cứu về nương náu chốn cù lao. Nhìn giọt thuốc trong suốt phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo, Giáo sư Sử Cẩm Vân siết chặt ngón tay, biết rằng thời khắc bà buộc phải dấn thân vào trận chiến sinh tử cuối đời đã điểm.
Giọt Kháng Độc Che Chở Xóm Cù Lao