Chương 13: Nắng Ấm Giếng Trời

Suốt nửa sau canh ba, Khiêm trằn trọc nơi chái đông, lắng tai nghe từng tiếng nấc nghẹn của thầy mình vọng lại từ gian tiền sảnh. Tiếng trán dập xuống nền gạch trước ban thờ tổ tiên trĩu nặng xót xa, như rút cạn bao u uất, lầm lạc tích tụ bấy lâu. Mãi đến khi tiếng gà gáy le te đầu ngõ xua bớt màn sương thu lạnh buốt, gian nhà trên mới chìm dần vào tĩnh lặng.

Khi tia nắng sớm đầu tiên lách qua khe liếp, Khiêm khẽ khàng trở dậy. Kéo then cửa bước ra, cậu ngỡ ngàng thấy gian tiền sảnh đã phong quang khác hẳn. Toàn bộ đống lược nhựa vỡ vụn, méo mó bốc mùi khét nồng nặc từng choán hết lối đi nay đã được dọn sạch bong không còn một mảnh. Nền gạch Bát Tràng đỏ au được quét tước tinh tươm, lau qua bằng nước lá sả thoang thoảng dịu nhẹ.

Bên khung cửa lim mở hé, bóng lưng đẫy đà của ông Cảnh Thuần Phúc đang cúi gập. Thầy cậu đã mặc chiếc áo cánh nâu sồng bình dị thay cho bộ sơ mi tây kệch cỡm mọi bận, hai ống tay áo xắn cao, cẩn trọng cầm mảnh vải bông ẩm lau từng góc cạnh chiếc bàn thợ đẽo sừng của ông nội. Động tác của ông run rẩy nhưng nâng niu đến thắt lòng, như thể đang dốc sức gột rửa từng vết nhơ lầm lạc.

— Thầy... — Khiêm khẽ gọi, giọng nghẹn lại nơi cổ họng.

Ông Phúc giật mình quay lại. Đôi mắt thâm quầng, đỏ hoe sau một đêm thức trắng, khóe mi vẫn còn đọng ngấn lệ. Nhìn thấy con trai, ông khẽ gượng gạo cúi mặt, giọng khàn đặc: — Khiêm đấy à con... Thầy quét dọn cho phong quang. Mấy thứ rác rưởi ấy... thầy dọn sạch cả rồi, đem vứt hết rồi con ạ.

Khiêm bước lại gần, đỡ lấy chiếc thau đồng từ tay cha. Cậu thấy bờ vai thầy run lên bần bật, vẻ tự phụ nôn nóng thường ngày đã hoàn toàn tan biến. Cậu dịu giọng thưa: — Để con bưng thau nước này ra giếng. Thầy rửa mặt mũi rồi ra hầu trà ông bà đi ạ.

Ngoài khoảng sân giếng trời, tiết thu trong vắt. Nắng mai rọi nghiêng qua giàn trà mi, tưới lên bể cạn làn ánh sáng vàng dịu ngọt ngào. Trên chõng tre quen thuộc, cụ Cảnh Thuần Đức và cụ bà Ngọc Trâm đã ngồi tựa bên nhau tự lúc nào. Cụ Trâm khoác chiếc áo bông chần màu vỏ đỗ, sắc mặt đã nhuận hồng trở lại, đôi mắt hiền từ đong đầy vẻ an nhiên. Cụ Đức ngồi cạnh, khẽ nắm lấy bàn tay gầy gò của vợ, một tay ân cần vuốt lại nếp áo cho bà.

Trông thấy cha mẹ, bước chân ông Phúc bỗng khựng lại. Cả người ông run rẩy, rồi chẳng màng đến bậc thềm đá xanh buốt giá, ông quỳ sụp xuống nền sân đánh “thịch” một cái khô khốc. — Thầy... U... — ông Phúc nghẹn ngào, hai hàng nước mắt tuôn rơi trên gò má xám ngoét. — Con có tội tày đình! Con nông nổi, mê muội nghe theo thói đời làm khổ thầy u, suýt nữa dâng cả cơ nghiệp tổ tông vào tay phường gian ác, khiến u ngất lịm, vét kiệt từng đồng bạc dưỡng già... Con bất hiếu, không xứng làm con của thầy u nữa!

Nói rồi, ông Phúc phủ phục xuống, dập đầu chạm trán sát mặt gạch lát sân giếng trời trong tiếng nấc xé lòng. Đứng bên mép hiên, Khiêm thấy sống mũi cay xè, nước mắt trào ra nơi khóe mi. Đã bao lâu rồi cậu mới thấy thầy mình trút bỏ lớp vỏ bọc tính toan, trở về làm đứa con thơ dại của ông bà?

Cụ Trâm khẽ nghiêng đầu nhìn chồng, khóe mắt ngân ngấn lệ. Cụ Đức không một lời trách móc. Người thợ già chín mươi sáu tuổi buông tay vợ, khoan thai đứng dậy bước xuống thềm. Đôi bàn tay khô gầy từng trải khẽ đỡ hai bờ vai con trai đứng lên. — Đứng lên đi, anh Phúc, — giọng cụ Đức trầm ấm, bao dung. — Cha mẹ sinh con ra, chẳng ai nỡ thấy con lầm đường mà bỏ mặc. Đồng tiền mất đi còn có thể chắt chiu kiếm lại, chứ tình nghĩa ruột thịt một khi đứt gãy thì ngàn vàng chẳng chuộc nổi. Con biết quay đầu, biết quý trọng mái ấm này, ấy là đã chuộc hết lỗi lầm rồi.

Cụ Trâm vẫy tay, giọng thủ thỉ êm như nhung: — Phúc ơi, lại đây với u. Đừng khóc nữa con. Tai qua nạn khỏi là phúc phận trời cho rồi. Từ nay, nếp nhà mình lại vuông tròn như cũ.

Ông Phúc run run bước lại mép chõng tre, nắm lấy bàn tay đồi mồi của mẹ già, gục đầu vào lòng cụ mà khóc nấc: — Đội ơn thầy u bao dung cho con... Từ nay con xin chừa đến già, chẳng dám tơ tưởng làm giàu xằng bậy. Con xin ở lại nhà, gánh vác mọi việc nặng nhọc, chăm lo xưởng thợ, phụng dưỡng thầy u suốt đời suốt kiếp!Khiêm vội bước vào chái bếp, bưng ấm trà sen mới ủ nóng hổi cùng bốn chiếc chén hoa lam ra đặt lên chõng tre. Cậu kính cẩn rót tuần trà đầu tiên, dâng lên ông bà nội rồi trao chén trà cho cha: — Con mời thầy xơi trà nóng cho ấm giọng ạ.

Ông Phúc đón chén trà bằng cả hai tay, ánh mắt nhìn Khiêm chan chứa nỗi hối hận và tình phụ tử sâu sắc. Những bàn tay chuyền nhau chén trà sớm mai, hương sen ngát dịu quyện trong hơi khói mờ ảo, hòa cùng ánh nắng vàng ruộm giếng trời, xua tan sạch bóng những u ám suốt bao ngày qua.

Sau tuần trà thanh thản, cụ Đức đứng dậy, bước lại gian tiền sảnh rồi ngoảnh lại bảo: — Khiêm, lại đây với ông.

Khiêm dạ ran, bước theo ông nội đến trước chiếc bàn thợ gỗ nghiến đã được lau chùi bóng loáng. Cụ Đức mở chiếc hộp gỗ bọc vải điều, cẩn trọng lấy ra phôi sừng mộng đực dáng vầng trăng khuyết. Dưới ánh sáng trong trẻo rọi từ cửa phố, thớ sừng trâu mộng đực cổ xưa ánh lên sắc hổ phách pha ánh lục kỳ ảo, những đường cưa phá răng thô hôm trước vẫn thẳng tắp, ngay ngắn.

Cụ Đức đưa ngón tay miết nhẹ dọc sống lưng phôi lược, rồi trao sang tay Khiêm: — Cháu ngắm xem, sau giông bão, thớ sừng có đổi khác chăng?

Khiêm đón lấy phôi sừng, cảm nhận độ mịn màng, ấm áp lạ thường truyền qua lòng bàn tay. Cậu chăm chú soi từng đường thớ, khẽ thưa: — Thưa ông, sừng trâu mộng ngậm sương gió cả trăm năm, dù đất trời nồm ẩm hay hanh hao thì cốt sừng vẫn dẻo dai, bền chặt, chẳng hề biến dạng như thứ lược nhựa hôm qua.

Cụ Đức mỉm cười, đôi mắt sáng lấp lánh niềm vui: — Phải lắm. Đạo làm người hay nghề đẽo sừng cũng vậy. Thứ gì làm vội, chạy theo thói xốc nổi bên ngoài thì chóng tàn, dễ vụn. Chỉ có cái tâm ngay thẳng, chịu qua lửa than thử thách, được chuốt gọt bằng đức nhẫn nại mới sáng trong vĩnh cửu. Giông gió qua rồi, lòng người cũng sáng ra. Giờ là lúc ta dồn toàn tâm toàn ý để cưa răng, chuốt dáng cho xong chiếc lược tặng bà nội cháu.

Cụ Đức với chiếc cưa thép nhỏ, nhóm lại lò than hoa gáo dừa. Mùi dăm sừng hơ lửa ấm nồng lại bắt đầu lan tỏa khắp gian nhà số hai mươi tám Hàng Lược, hòa cùng tiếng kéo cưa nhịp nhàng, mang lại sinh khí rộn rã cho xưởng thủ công cổ truyền.

Thời gian khoan thai trôi về chiều muộn. Ánh tà dương mùa thu nhuộm vàng rực rỡ mặt đường lát đá cuội phố Hàng Lược. Gió heo may thổi lay động những giò phong lan nơi giếng trời và làm xao xác hàng cây cổ thụ ngoài ngõ.

Khiêm đang ngồi bên mép bàn thợ, dùng lá duối khô miết nhẹ sống lược sừng theo lời ông dặn, bỗng nghe tiếng bánh xe lạo xạo dừng lại trước cửa. Cậu ngẩng đầu nhìn ra. Một cỗ xe tay sơn đen bóng loáng đỗ xịch trước thềm đá xanh. Từ trên xe, một người đàn ông ngoại quốc chừng bốn mươi lăm tuổi bước xuống. Ông ta có vóc dáng cao lớn, phong thái lịch thiệp, khoác bộ âu phục bằng dạ xám thanh nhã, mái tóc nâu uốn lượn ôm lấy gương mặt chữ điền với bộ râu quai nón tỉa gọn gàng.

Người khách ngoại quốc dừng chân bên bậc cửa gỗ lim, ánh mắt xanh sâu thẳm hướng thẳng vào gian xưởng Đức Ký. Giữa bóng chiều chạng vạng, vệt nắng hoàng hôn rọi xiên qua khung cửa, chiếu thẳng vào phôi sừng mộng hoa đang đặt trên khay gỗ trắc.

Khoảnh khắc ấy, Khiêm thấy bước chân người khách sững lại. Đôi mắt xanh của ông ta mở to, dán chặt vào vệt sáng óng ả đang tỏa ra từ chất sừng cổ xưa. Dưới ánh hoàng hôn vàng sánh như mật của đất Tràng An, đường vân mắt mèo xanh pha vàng kim trên dáng trăng khuyết bỗng lóe lên rực rỡ, huyền ảo khôn cùng, khiến người đàn ông phương Tây không kìm được một tiếng thở dài thảng thốt giữa chiều tà phố cổ.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.