Chương 1: Đôi Vai Gầy Mùa Giáp Hạt
Nguyễn Thu Cúc ngồi bó gối bên chiếc bàn con bằng gỗ tạp xộc xệch, mười đầu ngón tay buốt cóng cẩn thận miết phẳng từng mép tờ tiền lẻ cũ kỹ. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn dầu Hoa Kỳ tù mù soi rõ khuôn mặt thanh tú nhưng xanh xao của người phụ nữ vừa tròn hai mươi sáu tuổi. Đôi vai Cúc so lại dưới lớp áo trấn thủ trần trám đã sờn rách, mái tóc đen dài được vấn gọn ghẽ sau gáy bằng chiếc cặp ba lá bằng nhôm xỉn màu. Sáng hôm qua, cô vừa làm lễ cởi dải khăn tang trắng, chính thức mãn tang chồng. Anh Thành mất sau một tai nạn sập giàn giáo ở công trường xây dựng cách đây tròn hai năm, để lại cho cô một món nợ thuốc thang cùng đứa con thơ dại. Nỗi đau xé ruột ngày nào giờ đã lắng sâu thành vết sẹo chìm nơi đáy tim, nhưng gánh nặng cơm áo gạo tiền thì mỗi ngày một đè nặng lên đôi vai côi cút.
Dưới bóng đèn dầu chập chờn, dăm tờ năm mươi đồng in hình thủy điện Trị An màu xanh xám hiện ra bên cạnh mấy tờ hai mươi đồng, mười đồng sờn mép, cùng bọc tiền hào lẻ nhàu nhĩ gom góp từ những lần nhận may vá thuê cho cánh cửu vạn bến chợ. Cả thảy số tiền ấy, cộng dồn với những đồng bạc dè xẻn suốt hai năm qua giấu kỹ dưới đáy hòm gỗ, gom lại vỏn vẹn chưa đầy một nghìn tám trăm đồng. Dạo gần đây, các tổ hợp may tư nhân mọc lên khắp các ngõ ngách phố cổ, người ta chuộng áo quần may sẵn tân thời, chẳng mấy ai còn đoái hoài mang quần áo rách đến thuê cô vá víu lấy vài hào tiền công. Ngoài phố, một bát phở bò mậu dịch hay phở tư nhân đã rục rịch lên giá nghìn rưỡi đến hai nghìn đồng. Mấy đồng bạc lẻ ít ỏi này, nếu chỉ để hai mẹ con ăn cháo rau cầm cự thì khéo chẳng thể vượt nổi qua những ngày rét mướt giáp hạt sắp tới, nói chi đến chuyện thuốc men lúc con ốm đau hay đường dài phía trước.
Một tiếng thở dài khẽ khàng tan vào làn sương lạnh. Cúc quay đầu nhìn về chiếc giường tre ọp ẹp kê sát vách tường tróc lở từng mảng vôi vữa. Dưới ánh đèn hiu hắt, bé Mây – đứa con gái nhỏ bốn tuổi – đang nằm co ro ngủ say như một chú mèo con. Khuôn mặt nó bầu bĩnh, đôi hàng mi dài khép chặt, thỉnh thoảng khóe môi chúm chím lại mấp máy theo một giấc mơ thơ dại nào đó. Con bé mặc chiếc áo len đỏ đan tay đã cộc cỡn, phần cổ và khuỷu tay sờn rách, tước ra từng sợi len xơ xác mà Cúc chưa kịp khâu lại. Chiếc chăn bông vỏ hoa con công qua bao mùa mưa ẩm đã xẹp lép và cứng đơ, chẳng đủ xua đi hơi lạnh buốt giá ngấm ngược từ nền đất nện. Mỗi đợt gió bấc thốc qua khe liếp, con bé lại vô thức rụt cổ sâu vào trong chăn, hai bàn tay nhỏ xíu nắm chặt lấy mép gối úa màu.
Nhìn đôi gò má ửng đỏ vì nẻ rét của con gái, lồng ngực Cúc nhói lên một cơn đau thắt. Chiều nay dắt con ngang qua quầy mậu dịch cũ đầu phố, thấy người ta quây quanh chảo mỡ rán bánh thơm lừng, bé Mây cứ đứng ngập ngừng nhìn chằm chằm vào những chiếc bánh rán mật vàng óng rồi khẽ nuốt nước bọt. Nhưng con bé ngoan ngoãn và hiểu chuyện đến nao lòng. Nó không vòi vĩnh, không khóc lóc đòi mẹ mua, mà chỉ lặng lẽ nép sát vạt áo Cúc, ngước đôi mắt tròn xoe trong veo lên rồi líu lo “Mẹ ơi, mai mốt con lớn, con đi làm kiếm thật nhiều tiền mua bánh rán cho mẹ ăn nhé.”
Lời nói ngây thơ của con như một nhát dao khía thẳng vào lòng tự trọng và tình mẫu tử trong Cúc. Nước mắt chực trào nơi khóe mi nhưng cô vội cắn môi nén lại. Cô không thể để hai mẹ con tiếp tục sống lay lắt, héo mòn trong xó tối này. Cứ bấu víu vào mấy cuộn chỉ, manh áo vá qua ngày thì lấy gì đong gạo, lấy gì may cho con manh áo ấm khi mùa đông còn dài dằng dặc? Ngoài kia phố xá đang cựa mình mạnh mẽ, người ta bung ra buôn thúng bán bưng khắp các ngả đường. Cô có đôi bàn tay lành lặn, có sức vóc dẻo dai, lại mang trong mình vốn liếng nghề phở gia truyền của người cha quá cố, cớ sao phải chịu đầu hàng số phận?
Nghĩ đến đây, Cúc đứng dậy, bước khẽ đến bên chiếc hòm gỗ mun đặt ở góc buồng. Chiếc hòm là kỷ vật duy nhất mà cha cô – cụ Cần, người từng có gánh phở rong nức tiếng phố cổ một thời – để lại trước khi nhắm mắt xuôi tay. Cô cẩn thận mở chiếc khóa đồng hoen gỉ, nâng nắp hòm lên. Bên trong, ngoài mấy bộ quần áo cũ sờn, là cuốn sổ tay bọc bìa giấy xi măng ngả màu ố vàng cùng bọc vải nhung điều cất giữ bộ dao thái thịt bằng thép nhíp sắc lẹm. Cúc nâng cuốn sổ lên bằng cả hai tay, kính cẩn như đón nhận báu vật thiêng liêng nhất của đời mình. Từng trang giấy mở ra, nét chữ mực tím thanh thoát của cha hiện lên rành rọt, đưa cô trở về những tháng ngày ấu thơ theo gánh phở rong của cha khắp ba mươi sáu phố phường, khi sương sớm còn bảng lảng trên mặt hồ Gươm và tiếng rao đêm ngân dài xao xác.
Lời dạy của cha năm nào bỗng văng vẳng bên tai cô, ấm áp và trầm hùng: “Cúc này, nấu một bát phở cho người ta ăn no thì dễ, nhưng nấu để người ta nhớ cả đời, để bát phở thành cái tình cái nghĩa đất kinh kỳ thì khó lắm con ạ. Nước dùng phở bò chính là linh hồn, phải trong vắt như nước suối đầu nguồn nhưng ngọt sâu tận đáy họng. Vị ngọt ấy phải rút từ tủy xương ống bò ninh ròng rã suốt mười hai đến mười bốn tiếng, váng mỡ vàng ánh tự nhiên chứ tuyệt đối không được dùng đường hóa học hay lạm dụng thứ mì chính lợ cổ. Xương ống phải đập giập hai đầu, ngâm muối gừng cạo sạch tủy đen tanh nồng, luộc qua nước đầu rửa sạch bọt bẩn rồi mới ninh lửa liu riu, canh hớt bọt không được lơ là một khắc.”
Cha cô từng tỉ mỉ dặn dò từng chút về nghệ thuật hương vị: “Gia vị tạo hương không bao giờ được làm ẩu: hoa hồi cánh dày, thảo quả nướng đập giập, quế chi cay nồng cạo sạch vỏ đen, gừng già nướng than hoa cho phồng rộp vỏ rồi đập dập, thêm vài con sá sùng khô rang vàng đáy chảo. Thiếu một thứ, quá một phân, nồi phở đều mất đi cốt cách thanh tao.”
Ký ức về mùi thơm nồng nàn của quế hồi quyện cùng vị ngọt béo của tủy xương sôi lục bục trên bếp than hồng như ùa về sưởi ấm gian phòng lạnh lẽo. Bao năm theo cha bôn ba khắp phố, đôi tay cô đã thuộc làu từng thớ thịt bắp hoa, gầu giòn, cách thái mỏng từng lát thịt bò tái, cách tráng từng mẻ bánh phở mềm mướt không bở vụn. Giờ đây, ngọn lửa nghề phở lại trỗi dậy mãnh liệt trong lồng ngực. Cúc cẩn thận gập cuốn sổ lại, cất bộ dao vào bọc vải, nhét xấp tiền tiết kiệm vào túi áo trấn thủ. Cô bước lại gần giường, kéo lại mép chăn hoa che kín cổ cho con gái, rồi khẽ khàng gài then liếp bước ra ngoài ngõ.
Gió lạnh phả thẳng vào mặt khiến Cúc khẽ rùng mình, mang theo cái rét ngọt buốt tận chân răng của những ngày giáp Tết năm 1989. Ngõ Hàng Khoai sâu hun hút, nền đất nện ẩm ướt sau cơn mưa phùn ban chiều. Cúc lần theo bóng tối ra đầu ngõ giáp mặt phố. Dưới mái hiên xiêu vẹo của ngôi nhà cổ thời Pháp, ánh đèn dầu tù mù từ quán nước chè xanh của bà Nhẫn vẫn le lói giữa màn sương đêm. Bà Nhẫn năm nay gần sáu mươi tuổi, người phố cổ gốc, lưng hơi còng, răng đen nhánh, lúc nào cũng nhai trầu bỏm bẻm. Quán nước của bà đơn sơ với chiếc bàn gỗ thấp, vài cái ghế đẩu mộc mạc, ấm tích bọc bao tải gai ủ chè xanh nóng hổi, cái điếu bát bằng gốm da lươn và chiếc hòm gỗ đựng thuốc lá Du Lịch, Tam Đảo, kẹo lạc. Góa chồng từ thời chiến tranh, các con đều đi làm ăn xa, bà sống thui thủi một mình nên thương mẹ con Cúc như ruột thịt.
Thấy bóng Cúc bước ra từ bóng tối, bà Nhẫn ngẩng đầu lên, nhổ bãi bọt trầu đỏ quạch vào chiếc ống bơ cắm cạnh chân bàn, cất giọng khàn đục âu yếm “Kìa Cúc! Đêm hôm rét mướt thế này không ôm con bé Mây mà ngủ, còn lần mò ra đây làm gì hả con? Gió bấc nó thổi trúng phong thì khổ thân!”
Cúc bước vào dưới mái hiên, ngồi xuống chiếc ghế con bên cạnh bà, chìa đôi bàn tay cóng buốt hơ trên chiếc hỏa lò ủ trấu ấm áp “Cháu chào u ạ. Đêm hôm thế này mà u vẫn chưa dọn hàng nghỉ sao u? Trời buốt thế này, u ngồi đây coi chừng đau nhức xương khớp đấy u ơi.”
Bà Nhẫn cười hiền hậu, vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của Cúc “Già rồi, khó ngủ lắm con ạ. Ngồi rốn thêm tí đợi chuyến xe ca chở hoa quả tươi từ mạn đê về, kiếm thêm đồng rau đồng muối. Mà mặt mày con sao bần thần thế kia, lại nghĩ ngợi chuyện thằng Thành à?”
“Dạ không u ạ. Anh Thành mất tròn hai năm, hôm qua cháu đã làm lễ cởi tang xong xuôi rồi. Đêm nay cháu sang tìm u... là có chuyện hệ trọng muốn nhờ u mở lối chỉ đường giúp mẹ con cháu.” Cúc ngập ngừng một thoáng rồi quả quyết nói tiếp: “Cháu tính kỹ rồi u ạ, không thể cứ ngồi nhà vá áo thuê mãi được. Người ta chuộng đồ may sẵn, cháu làm tối mắt tối mũi mà chẳng đủ tiền mua nổi nửa lạng thịt cho con bé Mây. Cứ thế này thì mẹ con cháu chết mòn mất. Cháu muốn dựng lại gánh phở rong của thầy cháu để đi bán u ạ.”
Bà Nhẫn tròn xoe mắt, nhìn chăm chú vào vóc dáng mảnh dẻ của Cúc rồi buông một tiếng thở dài đầy ái ngại:“Dựng lại gánh phở của cụ Cần à? Nghề phở nhà con nức tiếng đất kinh kỳ này thật, nhưng nhọc nhằn cay cực lắm con ơi. Con gái một thân một mình góa bụa, gánh nặng cả tạ trên vai, đội sương chan nắng từ ba bốn giờ sáng, liệu đôi vai con có kham nổi không?”
“Cháu kham nổi u ạ!” Ánh mắt Cúc bừng lên ngọn lửa quyết tâm. “Khổ mấy cháu cũng chịu được, miễn là con bé Mây có cơm ăn áo mặc, sau này được đi học đàng hoàng. Thầy cháu từng dạy, giữ trọn chữ Tâm thì nghề chẳng bao giờ phụ mình. Cháu chỉ xin u cho cháu mượn góc hiên này kê gánh bán sớm từ năm giờ đến chín giờ sáng, đêm gửi nhờ đôi quang gánh và thùng phở ở chái bếp nhà u. Cháu xin gửi tiền thuê chỗ mỗi tháng sòng phẳng ạ...”
Nghe đến chuyện tiền nong, bà Nhẫn lập tức sa sầm nét mặt, lấy tay đét nhẹ vào đùi Cúc một cái “Cha bố cô! Cô nói thế mà nghe được à? U thương cô như con gái ruột. Góc hiên này sáng sớm u đã mở hàng nước đâu mà bảo chiếm chỗ? Cứ mang gánh ra đây mà bán! Bán xong tống đồ vào cái chái bếp kia khóa lại là xong, tiền nong nỗi gì! Còn mở mồm nói chữ ‘tiền thuê’ nữa là u đuổi thẳng cổ về đấy nhé!”
Những lời mộc mạc chan chứa ân tình ấy khiến sống mũi Cúc cay xè. Giữa thị thành xô bồ thời mở cửa, một góc hiên nhà ấm áp tình người như của bà Nhẫn quý hơn vạn nén vàng. Cô xúc động nắm chặt bàn tay nhăn nheo của bà, nghẹn ngào cảm tạ. Bà Nhẫn thở dài, nét mặt bỗng chùng xuống, hạ giọng dặn dò “Ơn nghĩa gì thứ ấy. Nhưng u phải dặn trước điều này. Bây giờ buôn bán tự do, người ta giành giật nhau từng mét vỉa hè dữ dằn lắm. Đầu phố Hàng Khoai có tiệm phở Vạn Lộc của lão Tài, con biết chưa?”
“Dạ, cháu có nghe phong phanh. Tiệm phở to lắm, trước là cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh, sau lão Tài mua lại rồi tự đứng ra kinh doanh.”
“Đúng rồi đấy! Lão Tài bụng phệ ấy vốn xuất thân mậu dịch viên chuyên tuồn hàng chợ đen thời bao cấp, tính tình hám lợi, nham hiểm có tiếng. Phở của lão nấu thì đầy mì chính, nước dùng toàn mỡ bò ngấy lợ, nhưng lão có tiền, lại bao bọc cho cả đám lưu manh bến chợ do thằng Hải Búa cầm đầu. Lão coi khu Hàng Khoai này là lãnh địa của riêng lão. Con mở gánh phở vỉa hè, nếu phở ngon, đông khách, coi chừng lão dở trò ma mãnh chèn ép đấy. Phải hết sức cẩn thận, biết nhịn cho lành, nghe chưa con?”
Nghe nhắc đến bọn bảo kê bến chợ hung hãn và lão Tài Vạn Lộc, lòng Cúc thoáng gợn lên nỗi bất an. Nhưng nghĩ đến manh áo len rách chỉ và giấc ngủ co ro của đứa con thơ, ý chí mưu sinh trong cô lại bừng lên mạnh mẽ “Cháu ghi nhớ lời u dặn. Cháu buôn thúng bán bưng nhỏ lẻ, lấy công làm lãi, lại bán phở thanh cảnh gia truyền phục vụ người lao động sớm, chắc người ta cũng chẳng nỡ dồn ép mẹ con cháu đến đường cùng đâu u nhỉ...”
“Ừ, mong là vậy. Ở hiền thì trời Phật che chở cho,” bà Nhẫn thở dài, rồi mỉm cười đôn hậu, với tay lấy gói kẹo lạc bọc trong giấy báo nhét vào túi áo Cúc. “Cầm về cho con bé Mây dỗ ngọt nó. Sáng mai dậy sớm chuẩn bị đồ nghề đi, cần nồi niêu xô chậu gì cứ ới u một tiếng.”
“Cháu cảm ơn u nhiều lắm ạ. Thôi u dọn hàng sớm rồi vào ngủ cho ấm, cháu về phòng chuẩn bị nốt đây u.”
Từ biệt bà Nhẫn, Cúc quay về phòng trọ, lòng nhẹ nhõm như vừa trút bớt được tảng đá đè nặng ngực bấy lâu. Dưới ánh đèn dầu chập chờn, cô bước ra góc sân chung múc từng gáo nước từ chiếc bể xi măng rêu phong, rồi lôi đôi thùng gỗ cùng chiếc đòn gánh tre đực của cha từ gầm chái hiên ra cọ rửa. Đôi thùng phở này do chính tay cha cô đóng bằng gỗ thông già dày dặn, mộng gỗ khít rịt, bọc đai sắt chắc chắn quanh thân. Một thùng chia làm nhiều ngăn: ngăn dưới lót tôn dày cách nhiệt đặt lò than tổ ong ủ ấm nồi nước dùng; ngăn trên đặt nắp vung, muôi múc và các âu sành đựng gia vị. Thùng còn lại dùng xếp bát men sứ Hải Dương, ngăn kéo nhỏ đựng đũa tre, thìa nhôm, dao nhíp thái thịt và góc thoáng đựng rổ hành hoa tươi.
Nước giếng mùa đông buốt như kim châm, ngấm vào da thịt làm mười đầu ngón tay Cúc đỏ ửng, tê dại. Nhưng cô không hề thấy mệt. Dùng nùi xơ mướp khô và tro bếp mịn, cô tỉ mẩn cọ rửa từng kẽ gỗ của đôi thùng, đánh sạch từng vết cáu bẩn bám trên lớp tôn đáy lò. Mùi gỗ thông già ngấm nước tỏa ra hương thơm ngai ngái quen thuộc, đánh thức những ký ức thiêng liêng về người cha quá cố. Lau rửa xong đôi thùng, Cúc nâng chiếc đòn gánh tre đực lên – gia tài quý giá nhất mà cha để lại. Chiếc đòn gánh được đẽo từ thân tre đực già đanh, ngâm bùn ao ròng rã suốt hai năm rồi đem gác bếp hun khói rơm vàng óng. Thân đòn uốn lượn hình cánh cung mềm mại, hai đầu thắt nút mấu tre chắc nịch giữ chặt dây quang. Qua bao năm tháng dầm dãi nắng mưa, bề mặt tre đã lên nước bóng lộn, ngả màu nâu sẫm như sừng, dẻo dai và đằm chắc lạ thường.
Cúc dùng chiếc khăn bông sạch nhúng nước ấm, cẩn thận lau từng tấc trên thân đòn gánh tre. Từng vết mòn vẹt nơi điểm tựa vai như vẫn còn in dấu sự hy sinh, nhọc nhằn của cha suốt cả một đời bươn chải nuôi cô khôn lớn.
“Thầy ơi...” Cúc thì thầm trong bóng đêm, khóe mắt ngân ngấn nước. “Thầy ở chín suối linh thiêng phù hộ cho con gái. Con quyết không làm nhục cái nghề của thầy, con sẽ nuôi con bé Mây khôn lớn nên người...”
Khi mọi thứ đã được cọ rửa sạch bong, xếp gọn gàng vào một góc phòng, tiếng chuông đồng hồ từ phía nhà thờ Cửa Bắc vọng lại điểm ba tiếng khô khốc. Đã ba giờ sáng. Khâu chuẩn bị đồ nghề cho buổi mở hàng rong mưu sinh đầu tiên đã tinh tươm. Cúc bước tới, cúi người lồng đôi mấu tre vào hai đầu dây quang của đôi thùng gỗ rỗng. Dù bên trong chưa có nồi nước dùng nặng trĩu cả mấy chục cân ninh từ xương ống, chưa có hàng chồng bát men sứ cùng thịt bò bắp hoa, bánh phở, nhưng đôi thùng gỗ thông già vốn dĩ đã có sức nặng đáng kể. Cô hít một hơi sâu, ghé bờ vai mảnh khảnh của mình vào điểm uốn cong của chiếc đòn gánh tre đực, rồi từ từ đứng thẳng người dậy.
Tiếng dây quang ken két siết vào mấu tre vang lên trong đêm vắng. Trọng lượng của đôi thùng gỗ đè ập xuống vai Cúc. Cảm giác đau nhói lập tức truyền từ khớp xương vai lan dọc sống lưng. Đôi chân cô lảo đảo, phải gồng hết sức mới giữ được thăng bằng trên nền đất ẩm. Đôi vai này vốn hai năm qua chỉ quen cầm kim sợi chỉ, nay phải gánh gồng cả một cơ nghiệp mưu sinh, gánh cả sự sống còn của hai mảnh đời côi cút. Dưới ánh đèn dầu leo lét, Cúc cảm nhận rõ từng thớ thịt đang oằn mình chống đỡ sức nặng của chiếc đòn gánh. Gió ngoài kia lại rít lên từng hồi dữ dội, đập vào liếp cửa nghe như tiếng gầm gừ của dòng đời bão táp. Nhìn về chiếc giường tre nơi bé Mây vẫn co ro ngủ say trong manh áo sờn rách, ngực Cúc thắt lại nghẹn ngào.
Chiếc đòn gánh tre đè nặng lên vai tựa như sức nặng của cuộc đời, khiến Cúc không khỏi thắt lòng tự hỏi, liệu đôi vai gầy guộc này có gánh nổi tương lai của hai mẹ con giữa dòng đời Đổi Mới muôn vàn bão dông.
Quán Phở Gánh Phố Hàng Khoai Năm Tám Chín