Chương 25: Bức Vách Vàng Mơ

Khói trầm thanh khiết từ ba nén hương trên bàn thờ gian chái vẫn lượn lờ từng vòng mỏng mảnh, vấn vít lấy làn hơi ấm nồng bốc lên từ bát phở bò nạm gầu mà Tuấn vừa kính cẩn dâng lên đồng đội Kiên. Đứng nép bên bậu cửa gỗ mộc mở rộng đón gió bấc, Cúc lặng đi trong một thoáng, lắng nghe trọn vẹn từng lời thầm thì nghẹn ngào của người lính phục viên gửi tới người bạn chiến đấu đã nằm lại nơi chiến hào Vị Xuyên. Trong đáy mắt cô, bóng lưng rộng lớn hơi gầy guộc của Tuấn dường như đã trút bỏ được nỗi trĩu nặng đè nén bấy lâu.

Cúc khẽ siết bàn tay nhỏ nhắn của bé Mây, rồi dịu dàng cất bước qua ngưỡng cửa đất nện ẩm mát. Tiếng bước chân khe khẽ của hai mẹ con kéo Tuấn quay đầu lại. Khi ánh mắt hai người giao nhau, Cúc bắt gặp đôi mắt đỏ hoe của anh, nhưng nơi đáy mắt ấy không còn là sự u uất, lạc lõng của một kẻ mang mặc cảm sống sót trở về, mà đã ngập tràn ánh sáng ấm áp, bình yên.

Cúc bước đến gần chiếc bàn thờ mộc mạc, hai tay nâng niu chiếc bọc vuông vắn gói bằng tấm vải điều đỏ thắm. Cô đặt chiếc bọc lên mép bàn thờ, cẩn thận gỡ từng nếp gấp phẳng phiu.

Bên trong tấm vải điều đỏ thắm là một gói trà sen bọc giấy bản màu ngà buộc lạt giang cánh sen, một cơi trầu không têm cánh phượng tinh tươm và một chiếc áo trấn thủ chần bông may bằng vải Tô Châu màu xanh cỏ úa được giặt giũ thơm mùi nắng, xếp nếp vuông vức.

“Anh Tuấn…” Cúc cất tiếng, giọng cô trong trẻo và dịu dàng như làn nước mát xua tan đi những giá buốt cuối đông. “Hôm nay anh làm lễ cúng anh Kiên, em sang muộn một chút vì tạt qua chợ Đồng Xuân tìm mua bằng được gói trà sen ướp hoa tươi của bà cụ hàng quen đầu phố Hàng Cót, lại xin thêm mấy lá trầu cay để dâng lên ban thờ anh ấy. Còn chiếc áo lính này… mấy hôm anh nằm viện, em thấy chiếc áo trấn thủ cũ của anh bị rách toạc ở bả vai, vải lót bên trong cũng sờn cả. Em về gom lại chút bông trắng tốt, đo cắt rồi chần lại từng đường chỉ cho thật dày dặn. Em lót thêm một lớp dạ ấm bên trong, để mai này trở trời, vai anh bớt buốt lạnh.”

Tuấn đứng sững, đôi bàn tay thô ráp chai sần khẽ run lên khi chạm vào lớp vải áo mềm mại ấm áp. Anh ngước nhìn Cúc, đôi môi mấp máy như muốn nói lời cảm ơn nhưng cổ họng nghẹn ứ, chỉ có ánh nhìn tha thiết, đong đầy ân tình thay cho vạn lời muốn nói.

Cúc chắp hai tay trước ngực, kính cẩn cúi đầu ba vái trước di ảnh người lính trẻ phố Hàng Đào mang nụ cười tươi tắn dưới vành mũ cối. Trong làn khói hương uốn lượn, lòng Cúc dâng lên một niềm cảm phục và biết ơn vô hạn. Người lính trẻ nằm lại nơi biên cương ấy đã chở che cho Tuấn trở về, để hôm nay, người đàn ông kiên cường ấy lại trở thành chỗ dựa vững chãi cho mẹ con cô giữa bao sóng gió cuộc đời.

Bé Mây nép sát vào vạt áo chần bông của mẹ, ngước đôi mắt to tròn đen láy nhìn lên di ảnh, rồi cất giọng líu lo ngây thơ “Bác Kiên ơi, bố Tuấn nấu phở thơm lắm đấy ạ! Bác về ăn bát phở nóng với bố Tuấn và mẹ con cháu nhé!”

Tiếng gọi “bố Tuấn” trong trẻo, tự nhiên bật ra từ miệng đứa trẻ bốn tuổi vang vọng khắp gian phòng tĩnh mịch, chạm thẳng vào nơi sâu kín nhất trong lòng Cúc. Sống mũi cô cay xè, một giọt nước mắt ấm nóng lăn dài trên má. Hai năm trước, khi chồng cô không may qua đời vì tai nạn sập giàn giáo, miệng lưỡi thế gian độc ác từng gieo rắc lên đầu cô cái án góa phụ “sát phu”. Cô từng nghĩ đời mình từ đây chỉ còn là những chuỗi ngày tăm tối, cắn răng ôm con lủi thủi qua kiếp người đầy định kiến. Nhưng lúc này đây, nhìn Tuấn nghẹn ngào ngồi thụp xuống ôm trọn bé Mây vào lòng, xoa đầu con bé bằng bàn tay vụng về chan chứa yêu thương, Cúc biết giông bão thực sự đã lùi lại phía sau cánh cửa.

Sáng hôm sau, sương sớm mùa đông giăng một màn mỏng manh như lụa bao phủ quanh bốt nước Hàng Đậu và những tán bàng cổ thụ rụng trơ cành khẳng khiu. Gió bấc vẫn thổi từng cơn hun hút qua các con ngõ sâu của phố cổ, nhưng trong lòng Cúc lại rộn rã một niềm vui khó tả.

Hôm nay, cô không phải thức dậy từ ba giờ sáng để nhóm bếp than tổ ong đỏ mắt nơi góc ngõ ẩm thấp, cũng không phải gồng mình gánh đôi thùng gỗ nặng trĩu trên đôi vai trầy xước. Hôm nay là ngày cụ Đoan hẹn bàn giao gian nhà cổ đầu phố Hàng Khoai.

Khi Cúc dắt tay bé Mây, cùng Tuấn bước tới trước ngôi nhà hai tầng cổ kính, cụ Đoan đã đứng đợi sẵn bên bậc thềm đá xanh. Cụ ngoài bảy mươi tuổi, dáng người cao gầy nho nhã, mặc chiếc áo bông trần cài khuy tết màu hạt dẻ, mái tóc bạc phơ búi gọn gàng sau gáy theo nếp nhà xưa. Ánh mắt cụ hiền từ, ánh lên nét đôn hậu của một nhà giáo từng gắn bó cả đời với mái trường Bưởi danh tiếng.

Thấy mẹ con Cúc và Tuấn bước tới, cụ Đoan nở nụ cười ấm áp, bước xuống hiên nhà “Bác đợi các cháu từ sớm. Mấy hôm chú Tuấn nằm viện, phố phường ai nấy vẫn chưa hết hả dạ khi công an tóm gọn được đám du côn và lão Tài tiệm Vạn Lộc, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Lưới trời lồng lộng, kẻ gian manh ắt phải chịu tội trước pháp luật, người lương thiện buôn bán chân chính thì trời phật chẳng bao giờ phụ lòng.”

Cụ Đoan đưa tay vào túi áo bông, rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau đúc theo lối mắt xích cổ xưa. Những chiếc chìa khóa to bản, sáng bóng ánh kim loại vàng sẫm, được xâu gọn trong một vòng sắt dày dặn. Cụ nâng chùm chìa khóa, trang trọng đặt vào lòng bàn tay mở rộng của Cúc.

“Cháu Cúc này,” giọng cụ Đoan trầm lắng, chan chứa niềm tin cậy, “Cụ Cần thân sinh ra cháu ngày xưa là một nghệ nhân phở có tiếng của đất kinh kỳ, một người giữ cái tâm sáng ngời với từng muôi nước dùng, từng thớ thịt bò. Gian nhà tầng trệt này, bác trao lại cho cháu và chú Tuấn. Cháu hãy thay người cha quá cố tiếp tục nhen nhóm lại ngọn lửa phở gánh truyền thống, giữ cho tròn chữ tâm, làm ăn đàng hoàng để tiếng thơm của phở phố Hàng Khoai vang xa mãi.”

Lòng bàn tay Cúc run run khép lại, cảm nhận rõ rệt độ nặng trịch và góc cạnh lành lạnh của chùm chìa khóa đồng. Nỗi xúc động dâng trào nơi lồng ngực khiến cô nghẹn ngào, chỉ biết cúi đầu thật thấp “Cháu… cháu đội ơn cụ nhiều lắm ạ. Cháu xin ghi nhớ từng lời dạy bảo của cụ. Chúng cháu nguyện dốc trọn lòng giữ gìn cái nếp nghề của cha cháu, không bao giờ làm điều gian dối, thất đức.”

Tuấn đứng bên cạnh cũng nghiêm cẩn nghiêng mình tạ ơn cụ Đoan. Cụ mỉm cười gật đầu, vỗ nhẹ lên vai Tuấn rồi thong thả quay gót bước lên cầu thang gỗ dẫn lên tầng hai, để lại không gian tầng trệt hoàn toàn cho gia đình nhỏ.

Cúc quay sang nhìn Tuấn. Anh khẽ gật đầu, ánh mắt khích lệ chan chứa niềm tin. Cúc bước lên bậc tam cấp, cẩn thận tra chiếc chìa khóa đồng lớn nhất vào ổ khóa sắt cổ điển treo trên then cửa. Một tiếng “cạch” khô giòn vang lên, then sắt bật mở. Tuấn đưa tay cùng cô đẩy mạnh hai cánh cửa gỗ lim dày dặn sang hai bên.

Cánh cửa lim mở toang, phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục của gỗ quý qua nhiều thập kỷ, đón trọn lấy luồng ánh sáng ban mai dịu nhẹ của một ngày đông hửng nắng.

Cúc dắt tay bé Mây, cùng Tuấn chậm rãi bước qua ngưỡng cửa gỗ lim cao gần một gang tay. Vừa đặt chân vào bên trong, một không gian khoáng đạt, tĩnh mịch lập tức mở ra trước mắt cô.

Gian tầng trệt rộng hơn hai mươi mét vuông, trần nhà cao vút với những hàng xà gồ bằng gỗ lim sẫm màu năm tháng đỡ lấy sàn gỗ tầng trên. Không khí bên trong khô ráo, thoang thoảng mùi ngói cổ và hương gỗ trầm mặc, khác hẳn với gian trọ chật chội, ẩm mốc chưa đầy mười mét vuông nơi ngõ sâu mà mẹ con cô từng chen chúc. Bốn bức tường bao quanh quét lớp vôi ve cũ màu vàng mơ đã ngả sang rêu phong, loang lổ vài vệt ố của thời gian, nhưng những mạch vữa và hàng gạch nung bên dưới vẫn vô cùng vuông vắn, kiên cố.

Phía cuối gian nhà là một khoảng giếng trời nhỏ lát gạch Bát Tràng đỏ au đã phủ lớp men thời gian mát rượi. Ánh nắng ban mai rọi thẳng từ trên cao xuống bể nước mưa bằng xi măng phủ rêu xanh, cạnh đó là một gốc ngọc lan cao vút vươn cành lá xanh mướt ra đón gió trời. Gió luồn qua giếng trời thổi nhẹ vào gian nhà, tạo nên một luồng sinh khí mát lành, thoáng đãng.

Nhưng điều khiến Cúc xúc động nhất, chính là phần hiên nhà phía trước. Khoảng hiên rộng rãi đua dài ra phía vỉa hè lát đá xanh, được nâng đỡ bởi hai cột gỗ lim tròn vững chãi. Mái ngói âm dương bên trên rợp bóng, che chắn trọn vẹn cả góc vỉa hè trước cửa.

Cúc đứng lặng giữa gian nhà, đưa mắt nhìn mái hiên kiên cố ấy. Một cảm giác bàng hoàng pha lẫn tủi hờn bấy lâu bỗng chốc vỡ òa. Mới chỉ tuần trước thôi, cô còn phải co ro gánh hàng dưới cơn mưa phùn buốt giá, đôi chân trẹo khớp ngã quỵ trên nền đường dốc Hàng Đậu, nước mắt chan hòa cùng nước mưa vì sợ lò than ngấm nước tắt lịm, sợ nồi nước dùng hỏng cả gia tài. Cô từng phải nơm nớp lo âu từng ngày trước sự dòm ngó, đe dọa của đám du côn đòi tiền bảo kê, từng uất nghẹn nhìn vũng dầu luyn bẩn thỉu hắt tung tóe trước chỗ ngồi mưu sinh.

Bao nhiêu cay đắng, nhọc nhằn, bao nhiêu đêm thức trắng vừa quạt than vừa nuốt nước mắt vào trong… giờ đây đã đổi lại được một mái nhà thực sự. Một gian quán đàng hoàng, có mái ngói che mưa che nắng, có cửa đóng then cài kiên cố, nơi mẹ con cô không còn phải sống kiếp tha phương bấp bênh đầu đường xó chợ.

Nước mắt Cúc trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má sương gió. Cô không kìm được tiếng nấc nghẹn ngào, hai bờ vai run lên bần bật.

Bé Mây thấy mẹ khóc, vội buông tay chạy lại, ôm chặt lấy chân Cúc, ngơ ngác ngước nhìn “Mẹ ơi… sao mẹ lại khóc thế ạ? Nhà mới đẹp thế này cơ mà mẹ?”

Một bàn tay to lớn, ấm áp khẽ đặt lên vai Cúc. Tuấn đứng sát bên cô, ánh mắt anh dịu dàng bao bọc, giọng anh trầm xuống, mộc mạc mà chứa chan sức mạnh “Đừng khóc nữa em. Mọi khổ ải, cay đắng qua hết rồi. Từ nay, em và con đã có một mái nhà vững chãi. Anh hứa, chừng nào anh còn sống, anh sẽ không để bất kỳ ai làm tổn thương mẹ con em nữa.”

Cúc ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh nhìn kiên định của Tuấn. Cô khẽ gật đầu, đưa tay quệt vội giọt nước mắt trên khóe mi, nở một nụ cười rạng rỡ qua làn nước long lanh. Đúng vậy, cô khóc không phải vì đau đớn, mà vì niềm hạnh phúc tột cùng của một khởi đầu mới đang hé rạng.

Đến trưa, Tuấn quay về xóm trọ xách sang mấy món đồ nghề quý giá nhất của Cúc. Cúc cẩn thận mở chiếc làn mây đan cũ kỹ đặt trên chiếc bàn gỗ thông mộc mạc giữa phòng.

Đầu tiên, cô lấy ra cuốn sổ tay chép bí quyết nấu phở của người cha quá cố. Cuốn sổ bọc bìa giấy xi măng màu nâu đã sờn rách bốn góc, từng trang giấy bãi bằng ngả vàng chi chít những dòng chữ mực cửu long nắn nót ghi lại tỉ lệ phối trộn gia vị, thời gian ninh xương và độ lửa cho từng mùa. Kế đó, Cúc nâng niu chiếc bọc vải nhung điều đỏ thắm, nhẹ nhàng mở ra bộ dao thép nhíp gia bảo. Những con dao bài, dao bản mỏng được rèn thủ công từ thép nhíp xe Zin ba cầu, lưỡi dao sắc lẹm, sáng bóng loáng không một vết gỉ sét.

Cúc đặt cuốn sổ tay và bộ dao ngay ngắn giữa mặt bàn gỗ, như thể đang thỉnh rước linh hồn và tâm huyết cả đời của cha về ngự trị tại gian nhà mới này.

Tuấn bước lại gần, rút chiếc thước gỗ gấp của người lính công binh từ túi quần kaki, bắt đầu ngắm nghía khắp các góc nhà. Anh nhìn Cúc, cất giọng bàn bạc “Cúc này, anh tính thế này em xem có tiện không nhé. Gian nhà này rộng rãi, nhưng việc bố trí các khu vực phải thật khoa học thì bán hàng mới nhanh và an toàn.”

Cúc mỉm cười, chăm chú lắng nghe: “Anh cứ tính đi, việc bếp núc em rành, nhưng việc sắp đặt cho chắc chắn, ngăn nắp thì anh là bộ đội, anh tính toán bao giờ cũng chu toàn hơn em.”

Tuấn chỉ tay về phía góc trái sát giếng trời:“Bếp lò than tổ ong ủ nồi nước dùng nhất định phải đặt ở góc này. Ở đây thoáng khí, anh sẽ đục một lỗ thông hơi dẫn ống khói tôn thẳng lên khoảng giếng trời ra ngoài, khói than sẽ không bao giờ quẩn vào gian quán phía trước làm cay mắt khách. Quan trọng hơn, anh sẽ dùng gạch chỉ và vữa chịu nhiệt xây một bệ bếp kiên cố cao chừng bảy mươi phân, vừa vặn tầm tay em đứng cầm muôi chan nước phở, em không phải cúi gập lưng như hồi bán gánh vỉa hè nữa.”

Nghe Tuấn nói, Cúc thấy lòng rộn lên một niềm xúc động sâu xa. Anh để ý từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, nhớ cả việc cô thường hay bị đau nhức lưng mỗi khi phải khom người múc nước từ thùng gánh.

Tuấn lại bước ra phía cửa, chỉ tay vào khoảng không gian sát mái hiên “Còn bàn chế biến, nơi em đứng thái thịt bò, chần bánh phở và bày bát, chúng ta sẽ kê áp sát vào khung cửa sổ lớn nhìn ra hiên. Chỗ này vừa đón trọn ánh sáng tự nhiên ban ngày, khách ngồi ăn hay người đi đường đi ngang qua đều có thể nhìn thấy miếng thịt bò tươi rói, thấy bàn tay thoăn thoắt của em thái từng lát thịt mỏng tang. Hương thơm của quế, của hồi từ nồi nước dùng cũng theo làn gió sớm bay tỏa ra mặt phố Hàng Khoai, tự khắc sẽ kéo khách tìm đến.”

“Thế còn bàn ghế cho khách ngồi thì sao anh?” Cúc hỏi tiếp, đôi mắt lấp lánh niềm vui.

“Chỗ này đủ rộng để kê hai dãy bàn gỗ thông dài chạy dọc hai bên tường,” Tuấn tính toán rành rọt. “Mỗi dãy kê được ba chiếc bàn, mỗi bàn bốn đến sáu người ngồi. Tính ra, gian quán một lúc có thể đón được ba mươi đến ba mươi lăm khách ngồi ăn thong dong, đàng hoàng, không còn phải co ro trên những chiếc ghế gỗ con con sát chân tường vỉa hè, vừa ăn vừa phải né người đi bộ như trước nữa. Dọc vách tường, anh sẽ đóng thêm những hàng móc gỗ để khách vào quán có chỗ treo áo mưa, nón lá hay cặp tài liệu.”

Cúc nghe từng lời Tuấn vạch ra mà trong đầu đã mường tượng ra khung cảnh tấp nập, ấm cúng của quán phở những ngày sắp tới. Sự chu đáo, cẩn trọng và tầm nhìn mạch lạc của người lính phục viên khiến cô cảm thấy vô cùng an tâm. Với một người đàn ông như thế đồng hành bên cạnh, cô tin chắc không một khó khăn nào có thể quật ngã được họ.

Đầu giờ chiều, khi hai người đang mải mê dọn dẹp quét tước lớp bụi mờ trên sàn gạch, bỗng có tiếng xe lách cách dừng lại trước hiên nhà.

Tiếng bước chân vội vã kèm theo giọng nói sang sảng quen thuộc của bác Thược phu xe vang lên từ bậc thềm “Cô Cúc ơi! Có nhà không cô Cúc? Tôi mang hàng về cho cô đây này!”

Cúc vội buông chiếc chổi đót, bước nhanh ra cửa. Bác Thược đang đứng cạnh chiếc xe kéo, trên vai vác một thùng thiếc lớn hình chữ nhật được bọc kín bằng nhiều lớp bao tải gai, chằng buộc dây thép cẩn thận. Trán bác lấm tấm mồ hôi dù trời đông buốt giá, nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt đen sạm vì sương gió bến bãi.

“Bác Thược!” Cúc mừng rỡ reo lên. “Hàng gì thế hả bác?”

Tuấn nhanh nhẹn bước tới, đỡ lấy chiếc thùng thiếc nặng trịch từ vai bác Thược đặt xuống nền gạch Bát Tràng ở giếng trời. Bác Thược quẹt mồ hôi trán, cười khà khà “Chuyến xe khách chạy tuyến Móng Cái bến Long Biên sáng nay có người gửi thùng hàng này cho cô. Họ ghi rõ họ tên cô Cúc với địa chỉ ngõ Hàng Khoai, lại dặn nhà xe phải giao tận tay. Tôi vừa trả chuyến hàng ở bến bốc vác, nhận ra ngay là mối quen của cụ Cần năm xưa gửi về, liền vác xe kéo chạy thẳng sang đây cho cô ngay!”

Cúc xúc động đón lấy chiếc kìm sắt Tuấn đưa, cẩn thận cắt từng sợi dây thép buộc, bóc lớp bao tải gai bên ngoài rồi mở nắp thùng thiếc.

Một mùi hương mặn mòi, thơm nức đặc trưng của biển khơi lập tức lan tỏa khắp không gian. Bên trong thùng thiếc là từng lớp sá sùng khô hảo hạng được xếp ngay ngắn, chèn lót bằng lớp giấy bản hút ẩm kỹ càng. Những con sá sùng khô có màu vàng ngà óng ả, thân dày dặn, thẳng tắp, mình mẩy tròn lẳn, được làm sạch cẩn thận không hề vương một hạt cát nào.

Cúc nâng một nắm sá sùng khô lên mũi ngửi, hai mắt sáng ngời. Đây chính là món quà quý giá từ một người bạn hàng thân thiết của cha cô ở vùng biển Vân Đồn gửi lên mừng ngày cô mở lại quán.

Người sành ăn đất Hà thành ai cũng biết, linh hồn của một nồi phở bò truyền thống nằm ở độ ngọt sâu của nước dùng. Nước ninh từ xương ống tủy bò tơ ròng rã suốt mười bốn tiếng đã đem lại vị ngọt ngậy tự nhiên, nhưng để đạt đến đỉnh cao của sự thanh tao, vị ngọt ấy phải có chiều sâu, phải thấm đượm nơi cuống họng mà không cần dùng đến một hạt đường hay lạm dụng mì chính. Và bí quyết độc nhất vô nhị của các cụ nghệ nhân xưa chính là những con sá sùng khô này. Chỉ cần vài ba con sá sùng được nướng trên than hồng cho phồng rộp, cạo sạch phần cháy sém rồi thả vào đáy nồi nước dùng đang sôi lăn tăn, chất ngọt đằm thắm của biển khơi sẽ hòa quyện trọn vẹn với vị béo ngậy của tủy bò, tạo nên một thứ nước dùng trong veo, ngọt lịm đến mê hồn.

“Quý quá bác Thược ơi!” Cúc nghẹn ngào nói. “Mối hàng này cha cháu ngày xưa quý như vàng. Có được thùng sá sùng này, nồi nước phở ngày khai trương chắc chắn sẽ giữ trọn được phong vị ngày xưa của cha cháu.”

Cúc vội vàng chạy vào gian trong, lấy ra một chiếc khăn tay bọc mấy đồng bạc lẻ đưa cho bác Thược để gửi tiền cước xe kéo, nhưng bác Thược xua tay dứt khoát, lùi lại một bước “Ấy chết! Cô Cúc làm thế là khinh lão Thược này rồi! Cả xóm chợ Hàng Khoai ai chả mang ơn chú Tuấn và cô. Nhờ chú Tuấn dũng cảm vạch mặt quân gian, công an bắt sạch đám bảo kê Hải Búa, cánh phu xe kéo chúng tôi từ nay mới được yên ổn làm ăn, không bị chúng nó chặn đầu trấn lột tiền xâu mỗi sớm nữa. Có mấy bước chân kéo xe từ bến về đây, tôi giúp cô chú là cái nghĩa xóm giềng. Cô mà đưa tiền là tôi giận đấy!”

Nói rồi, bác Thược cười vang, quay ngoắt người nhảy lên chiếc xe kéo, thoăn thoắt kéo xe ra ngõ phố Hàng Khoai. Cúc nhìn theo bóng lưng gầy guộc của người phu xe già mà lòng ấm áp khôn xiết. Đất phố cổ là thế, bon chen tất bật là thế, nhưng nghĩa tình giữa những người lao động nghèo lương thiện thì lúc nào cũng mộc mạc và sâu nặng như bát nước chè tươi đầu ngõ.

Buổi chiều hôm ấy, Cúc dành trọn thời gian để chuẩn bị chu đáo từng món gia vị kèm theo cho ngày khai trương.

Bên chiếc bàn gỗ thông đặt cạnh giếng trời, Cúc tỉ mỉ bóc từng củ tỏi ta nhánh nhỏ, tép tỏi đanh chắc và thơm nồng. Bằng đôi bàn tay khéo léo và lưỡi dao thép nhíp sắc như nước cạo, cô thái từng lát tỏi mỏng tang như cánh ve sầu, đều tăm tắp không một vết dập. Cô thả những lát tỏi trắng muốt ấy vào những chiếc hũ sành da lươn đựng giấm gạo thanh đượm, rồi thả thêm vài trái ớt chỉ thiên đỏ chót thái vát cùng hai cánh hoa hồi đã được nướng sơ qua lửa than. Tinh dầu từ hoa hồi quyện với vị chua thanh của giấm gạo và vị cay nồng của tỏi ớt tạo nên một mùi hương ngạt ngào, đánh thức mọi giác quan.

Cô lại cẩn thận phân loại từng thanh quế chi thơm lừng cất vào hộp gỗ, xếp từng quả thảo quả khô vỏ sần sùi vào chiếc túi vải gai, rồi lau sạch từng chiếc âu sành đựng ớt bột chưng dầu màng điều. Mọi thứ đều được chuẩn bị với sự kính cẩn và tỉ mẩn tuyệt đối, bởi đối với Cúc, nấu phở không chỉ đơn thuần là mưu sinh, mà là một sự gìn giữ thiêng liêng đạo đức của nghề gia truyền.

Bé Mây ngồi trên chiếc ghế gỗ con bên cạnh mẹ, đôi bàn tay nhỏ xíu ríu rít giúp mẹ nhặt từng cọng mùi tàu xanh biếc, chốc chốc lại ngước nhìn mẹ cười toe toét, hai má lúm đồng tiền sâu hoắm rạng ngời. Tiếng cười trong trẻo của con trẻ xua tan đi mọi mệt nhọc, biến gian nhà cổ thành một tổ ấm ngập tràn sinh khí.

Khi bóng chiều tà dần buông xuống, những tia nắng vàng hanh hao cuối cùng của ngày đông lướt qua những mái ngói rêu phong của phố Hàng Khoai rồi nhạt dần thành một dải màu lam tím. Gió bấc bắt đầu thổi mạnh hơn, mang theo cái rét ngọt căm căm đặc trưng của Hà Nội những ngày giáp Tết Canh Ngọ.

Cúc bước ra khoảng sân giếng trời múc một gầu nước mưa rửa tay. Vừa ngẩng lên, ánh mắt cô bỗng va vào một vật thể lớn đang được đặt tựa vào chân tường gạch rêu phong.

Đó là một tấm biển hiệu lớn làm bằng một phiến gỗ mít già dày dặn, màu nâu vàng ấm áp. Mặt gỗ đã được bào nhẵn thín, bóng mịn. Trên phiến gỗ ấy, bốn chữ lớn được đục chìm tinh xảo theo lối chữ chân phương, nét khắc sâu hoắm, vuông vắn và khoát đạtPHỞ GÁNH THU CÚC

Phía dưới góc phải tấm biển, một dòng chữ nhỏ hơn cũng được khắc tỉ mỉ từng nét: Kế nghiệp cụ Cần Phố Hàng Khoai.

Cúc đứng chôn chân tại chỗ, ngực nghẹn ngào không thốt nên lời. Cô bước lại gần, run run đưa những đầu ngón tay thon nhỏ miết nhẹ lên từng rãnh khắc của nét chữ. Mặt gỗ mít còn vương mùi mùn cưa ngai ngái nồng ấm. Cô nhận ra những vết đục này: chúng rắn rỏi, dứt khoát và tỉ mỉ, in đậm dấu ấn bàn tay của một người lính công binh. Tuấn đã âm thầm chuẩn bị tấm biển này từ những ngày anh còn dưỡng thương trong gian chái cũ, chắt chiu từng nhát đục nhát bào để dành tặng cho cô.

Đặc biệt nhất, hai chữ “Phở Gánh” vẫn được anh trân trọng giữ lại nguyên vẹn.

Tuấn hiểu cô. Anh hiểu sâu sắc tâm can của người phụ nữ này hơn bất kỳ ai trên đời. Dù hôm nay cô đã bước vào một gian nhà cổ khang trang, có bàn cao ghế rộng, có mái ngói kiên cố che mưa nắng, nhưng cô sẽ không bao giờ muốn chối bỏ hay quên đi nguồn cội của mình. Đôi quang gánh tre đực hun khói, hai chiếc thùng gỗ nặng trĩu oằn vai trên những nẻo đường mưa gió vỉa hè chính là nơi nuôi dưỡng ước mơ của cô, là nơi cha cô đã gửi gắm cả cuộc đời, và cũng chính là chiếc cầu nối số phận đưa Tuấn đến bên mẹ con cô. Chữ “Gánh” ấy không chỉ là một cái tên, mà là biểu tượng của sự kiên cường, của đức hy sinh và tình người sâu nặng của những mảnh đời lam lũ nơi phố chợ thời tao loạn.

Cúc quay đầu nhìn ra góc hiên. Chiếc đòn gánh tre đực già lên nước nâu bóng cùng đôi quang sọt gỗ thân thương đang nằm yên bình dưới gốc ngọc lan. Hành trình rong ruổi gió sương của đôi quang gánh ấy cuối cùng đã cập bến đỗ bình yên.

Bỗng nhiên, từ ngoài bậc thềm lim, tiếng bước chân quen thuộc nhịp nhàng vang lên.

Cúc ngước nhìn ra cửa. Dưới ánh sáng hoàng hôn nhập nhoạng, bóng dáng cao lớn, vững chãi của Tuấn hiện rõ nơi khung cửa gỗ lim.

Một tay anh cầm chiếc bay sắt thợ nề sắc cạnh, tay kia xách một chiếc xô tôn lớn đựng đầy vôi ve vàng mơ sóng sánh, thơm nồng mùi vôi mới hòa quyện cùng nước mát. Trên vạt áo lính Tô Châu màu cỏ úa và mái tóc cắt ngắn của anh còn vương vài vệt bụi trắng, nhưng đôi mắt anh lại sáng ngời, lấp lánh niềm vui rạng rỡ.

Tuấn bước qua bậu cửa lim, đặt xô vôi ve vàng xuống thềm gạch Bát Tràng, đưa tay áo quẹt mồ hôi trên trán rồi mỉm cười nhìn Cúc, giọng anh trầm ấm, hào sảng vang vọng giữa gian nhà cổ “Cúc này, anh vừa mượn được bay sắt với bàn xoa của tổ thợ nề bên phố Hàng Mã về đây. Vôi ve màu vàng mơ anh cũng nhờ người pha sẵn đúng điệu màu tường phố cổ rồi. Sáng sớm mai, mấy anh em cựu chiến binh cùng tiểu đội cũ của anh ở mạn Yên Phụ với Gia Lâm sẽ sang đây sớm. Chúng mình sẽ quét lại toàn bộ những bức vách này cho thật sáng sủa, đóng lại bàn ghế vững chãi, nhóm lại ngọn lửa mới cho gian nhà này em nhé!”

Cúc nhìn người đàn ông trước mặt, nhìn xô vôi ve màu vàng mơ đang phản chiếu ánh hoàng hôn rực rỡ, nghe từng nhịp đập rộn ràng, ấm áp vang lên trong lồng ngực mình. Mùa đông buốt giá ngoài kia dường như đã lùi xa, nhường chỗ cho sắc vàng ấm áp của niềm tin và hy vọng đang chuẩn bị bừng sáng trên từng bức vách của tổ ấm mới.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.