Chương 27: Tiếng Dao Thớt Ngày Khai Trương
Đêm muộn ấy, khi Cúc bước từ bên quán nước của u Nhẫn trở lại gian nhà cổ để giục Tuấn về chợp mắt, cô khẽ dừng chân nơi ngưỡng cửa gỗ lim. Gian phòng thênh thang thơm nức mùi vôi ve vàng mơ vừa quét ban chiều. Dưới ánh đèn đường vàng vọt hắt qua chấn song, bóng lưng cao lớn của Tuấn đứng lặng giữa gian phòng, một tay anh đang luồn sâu vào túi trong của chiếc áo trấn thủ chần bông màu cỏ úa Cúc tự tay may tặng. Nghe tiếng bước chân khẽ khàng của cô giẫm trên nền gạch Bát Tràng, Tuấn giật mình rút tay ra, quay đầu lại.
Ánh mắt anh chạm vào mắt cô, ấm áp và lấp lánh một niềm xúc động khó tả, khóe môi khẽ nở nụ cười hiền hậu “Em chưa ngủ à? Bé Mây đã chịu nằm ngoan bên quán u Nhẫn chưa?”
“Mây ăn xong bát cháo hoa là ngủ say tít rồi anh ạ,” Cúc bước lại gần, nhìn vầng trán lấm tấm bụi vôi của anh mà lòng dâng lên niềm xót xa xen lẫn cảm kích. “Em mang cái then gỗ sang cài cửa phụ. Anh cũng về gian chái trọ ngủ vài tiếng đi, chớ thức trắng thế này. Sớm mai quán khai trương, bao nhiêu việc nặng nhọc đều trông cậy vào đôi vai của anh cả.”
Tuấn khẽ gật đầu, ánh nhìn trìu mến dừng lại trên gương mặt thanh tú đượm chút âu lo của Cúc: “Em yên tâm, anh khỏe lắm, vết mổ ở chân lành hẳn rồi, chẳng còn nhức buốt tí nào nữa. Nồi xương hầm tủy bò anh đã ủ lớp than đượm nhất, hé nắp cho khói thoát ra giếng trời. Em về chợp mắt đi, để tâm trí thư thả đón ngày vui.”
Nhìn anh đóng then cài cửa cẩn thận rồi cùng rảo bước qua con ngõ nhỏ về xóm trọ, lòng Cúc rộn lên những đợt sóng bồi hồi. Đêm mùa đông buốt giá dường như bớt đi sự khắc nghiệt khi có bóng hình vững chãi của anh đi bên cạnh. Suốt mấy tiếng đồng hồ nằm cạnh con gái nhỏ, Cúc trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Cô lắng nghe từng tiếng gió rít qua khe liếp, đếm từng nhịp thở đều đặn của bé Mây, lòng vừa thấp thỏm lo âu vừa tràn trề hy vọng về buổi sáng đầu tiên gánh phở gia truyền được đàng hoàng bước vào một mái nhà kiên cố.
Khi hồi chuông từ gác chuông nhà thờ Cửa Bắc thảng thốt ngân nga bốn tiếng giữa màn sương sớm bảng lảng, Cúc đã bật dậy.
Gió bấc vẫn hun hút thổi qua các ngóc ngách phố cổ, luồn vào mái hiên làm rung rinh những cành bàng trơ trụi. Cúc khoác thêm chiếc áo len sợi dày màu mận chín, cẩn thận dùng chiếc cặp ba lá vấn gọn mái tóc đen mượt sau gáy. Cô cúi xuống hôn nhẹ lên trán bé Mây, kéo chiếc chăn bông chần ấm áp đắp kín ngực cho con gái, rồi khẽ khàng gửi gắm u Nhẫn đang trở mình thức giấc bên quán nước đầu ngõ để bước nhanh sang gian nhà cổ.
Vừa đẩy cánh cửa gỗ ken dày mở ra, một làn hơi ấm sực phả thẳng vào mặt khiến đôi gò má tái tê vì sương lạnh của Cúc lập tức hồng hào trở lại.
Gian bếp mới đã đỏ lửa tự bao giờ. Dưới ánh sáng chan hòa của chiếc bóng điện bảy mươi lăm oát treo giữa trần nhà, bệ bếp gạch cao bảy mươi phân xây kiên cố nơi góc phòng đang hừng hực than hồng. Nồi nước dùng bằng tôn gò dày dặn dung tích hai mươi lít sừng sững trên kiềng sắt, nắp vung hé mở một khe nhỏ để hơi nóng cuồn cuộn bốc lên, mang theo hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp không gian rồi len lỏi qua ô giếng trời bay ra phố.
Đó là một làn hương vừa quen thuộc vừa thiêng liêng, kết tinh từ mười bốn tiếng đồng hồ ninh ủ ròng rã hơn hai yến xương ống bò tơ được đập dập hai đầu để lộ tủy đỏ. Mùi thơm thanh tao, dịu ngọt của tủy xương chín nhừ quyện chặt với hương quế chi nướng vàng ruộm, thảo quả nướng cháy xém đập giập vỏ ngoài, hoa hồi cánh dày ngào ngạt, gừng già nướng vỏ nâu bóng cạo sạch bồ hóng, và sâu đằm nhất là vị ngọt đậm đà khó lẫn của những con sá sùng khô bãi biển Vân Đồn đã được rang thơm đáy chảo. Mùi hương đậm đặc, ngầy ngậy mà thanh khiết, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt cữ sớm phố Hàng Khoai.
Tuấn đang đứng bên cạnh bệ bếp, trên người mặc chiếc áo trấn thủ màu cỏ úa quen thuộc, tay cầm chiếc muôi cán dài vớt từng vệt bọt mỏng tang nổi trên mặt nước dùng. Thấy Cúc bước vào, anh ngẩng lên, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt góc cạnh sạm màu sương gió “Em sang đúng lúc lắm. Nồi nước dùng này từ lúc ba giờ sáng anh chụm thêm than quạt nhẹ, nước bắt đầu trong vắt, bọt váng anh đã hớt sạch bách rồi. Em nếm thử xem đã vừa khẩu vị cụ Cần dặn chưa.”
Cúc bước lại gần bệ bếp, đón lấy chiếc muôi đồng sáng loáng từ tay Tuấn. Đứng trên bệ gạch cao ráo sạch sẽ, nhìn vào lòng nồi nước dùng đang sôi tăm tắp, mặt nước ánh lên một màu vàng mỡ bò tự nhiên như mật ong loãng, trong veo nhìn thấu tận những khúc xương ống nằm im lìm dưới đáy, khóe mắt Cúc bỗng cay sè.
Cô múc một ngụm nhỏ, thổi nhẹ cho bớt khói rồi đưa lên môi nhấp thử.
Một dòng nước dùng ấm nóng, ngọt lịm từ từ trôi qua cuống họng. Vị ngọt ấy không phải cái ngọt lợ gai người của thứ mì chính lợ cổ họng hay đường hóa học, mà là vị ngọt hậu thanh tao sâu thẳm của tủy xương tơ hòa cùng tinh hoa của thảo mộc đất trời. Đó chính là hương vị của ký ức, là linh hồn của gánh phở rong mà người cha quá cố từng nâng niu suốt nửa đời người, nay đã được tái sinh trọn vẹn dưới bàn tay cần mẫn của cô và sự chở che, chăm chút thầm lặng của người đàn ông bên cạnh.
“Tuyệt lắm anh Tuấn ạ...” Giọng Cúc nghẹn lại vì xúc động. “Nước ngọt sâu, trong vắt mà không hề bị nồng. Hương quế hồi dậy vừa vặn, vị sá sùng làm cho nước dùng đậm đà không lẫn vào đâu được. Cha em ở trên cao có linh thiêng, chắc chắn sẽ mỉm cười phù hộ cho chúng mình.”
Tuấn nhìn cô, ánh mắt ngập tràn niềm vui sướng: “Có bàn tay chăm chút và công thức vàng của cha em để lại, quán phở của chúng mình nhất định sẽ làm ấm lòng bà con phố cổ.”
Đúng lúc ấy, ngoài bậu cửa vang lên tiếng lách cách của xích líp xe đạp cọc cạch và tiếng ho húng hắng quen thuộc.
“Cô Cúc ơi! Chú Tuấn ơi! Hàng thịt tươi rói về đến cửa đây rồi!”
Cúc vội vàng buông muôi bước ra mở rộng cánh cửa gỗ. Dưới ánh đèn đường sớm, bác Ba Râu khoác chiếc áo trần bông cũ kỹ màu chàm, hai má ửng đỏ vì gió lạnh bãi sông, đang cẩn thận dỡ hai chiếc sọt tre lót lá chuối tươi đậy kín trên yên xe thồ xuống thềm gạch.
“Bác Ba!” Cúc mừng rỡ reo khẽ. “Gió rét thế này mà bác sang sớm quá, chúng cháu làm phiền bác quá chừng.”
“Phiền nỗi gì cô hàng!” Bác Ba Râu cười ha hả, chòm râu quai nón rung rinh sảng khoái. “Ngày khai trương quán mới của con gái cụ Cần, lão Ba Râu này đã hứa là phải giữ chữ tín đến cùng. Nửa đêm tao đã đích thân đứng bên lò mổ bãi sông, chọn đúng con bò tơ nuôi cỏ mỡ màng nhất vừa hạ thịt. Đây, nạm gầu thấu chỉ giòn sần sật, bắp hoa đỏ thắm, thớ thịt còn ấm hôi hổi dính chặt lấy mặt lá chuối đây!”
Tuấn nhanh nhẹn bước tới, hai tay đỡ gọn chiếc sọt nặng trịch bước thoăn thoắt vào đặt trên chiếc bàn gỗ thông kê sát bệ bếp. Đôi chân anh bước đi vững chãi, nhịp nhàng, không còn một chút dấu vết nào của sự khập khiễng đau đớn như những ngày còn mang mảnh đạn cối rỉ sét năm xưa.
Cúc lật lớp lá chuối xanh mướt ra. Từng tảng bắp bò hoa tươi roi rói, sắc đỏ thắm tự nhiên viền màng gân trắng tinh, mặt thịt ráo hoảnh, khi ấn đầu ngón tay vào thấy độ đàn hồi tuyệt hảo. Bên cạnh là tảng gầu giòn vàng ươm mỡ hoa, thớ thịt nạc đỏ xen kẽ những vệt mỡ mỏng tang như đường chỉ khâu.
Bác Ba Râu ngước nhìn gian nhà mới quét vôi vàng ươm, tấm biển gỗ mít treo hiên nhà và bệ bếp ngăn nắp, gật gù tấm tắc “Đàng hoàng lắm! Khang trang lắm! Có được gian nhà kiên cố thế này, từ nay mẹ con cô Cúc hết kiếp buôn thúng bán bưng ngoài vỉa hè gió máy. Thằng Tài Vạn Lộc với lũ quấy phá đã phải vào nhà giam đền tội, trời có mắt cả đấy cháu ạ. Thôi, tao phải quay lại bến chuyển nốt chuyến hàng cho cánh lái buôn, lát nữa tan chợ tao sẽ vòng lại ăn mở hàng một bát tái chín đấy nhé!”
“Dạ, cháu cảm ơn bác Ba nhiều lắm, lát bác nhất định phải ghé xơi bát phở nóng với chúng cháu nhé!” Cúc tiễn người thợ mổ già ra cửa, lòng tràn ngập sự ấm áp trước tình nghĩa mộc mạc của những người lao động lam lũ.
Quay trở vào gian bếp, Cúc xắn cao tay áo len, đeo chiếc tạp dề trắng tinh tươm. Thời gian trôi nhanh như tên bắn, chuông đồng hồ điểm năm giờ sáng, mọi khâu chuẩn bị phải hoàn tất trước khi phố phường thức giấc.
Cúc và Tuấn bắt tay vào việc với sự ăn ý lạ kỳ, dường như giữa họ đã có một sợi dây linh cảm vô hình kết nối từng cử chỉ. Tuấn nhanh nhẹn xách từng xô nước mưa trong vắt rửa sạch chiếc thớt gỗ nghiến dày cộp có đường kính gần nửa mét. Anh lấy thanh mài liếc qua bộ dao nhíp xe ba cầu của cụ Cần để lại, lưỡi dao thép sáng loáng, mỏng dính và sắc ngọt.
“Anh Tuấn thả tảng gầu giòn và nạm bò vào nồi nước dùng luộc trước nhé,” Cúc dặn dò, tay thoăn thoắt sắp xếp các âu sành gia vị lên mặt bàn chia phở. “Gầu luộc lửa vừa chừng bốn mươi phút, khi dùng que tre xiên qua thấy không còn nước đỏ ứa ra là phải vớt ngay thả vào chậu nước đun sôi để nguội cho giòn bì, thịt không bị thâm xỉn.”
“Anh nhớ rồi, để anh canh lửa cho,” Tuấn đáp lời chắc nịch.
Tuấn khéo léo dùng móc sắt thả từng tảng thịt vào nồi nước dùng đang sôi lăn tăn, rồi quay sang phụ trách khâu chần bánh. Bánh phở tráng thủ công mỏng tang, dai mướt của làng Cự Đà vừa được chuyển đến từ canh ba, trắng nõn nà như dải lụa. Tuấn dùng đôi đũa cả lớn xới nhẹ từng lọn bánh cho tơi xốp, sẵn sàng cho vào chiếc muôi chần bằng lưới đồng.
Ở đầu bàn bên kia, Cúc cầm lấy con dao bài bản mỏng, bắt đầu thái thịt bắp hoa. Tiếng dao chạm thớt nghiến vang lên những thanh âm giòn giã, đều đặn: Cốc, cốc, cốc, cốc...
Đôi bàn tay nhỏ nhắn của Cúc lướt thoăn thoắt trên khối thịt bắp hoa đỏ au. Từng lát thịt bò mỏng như cánh ve, đều tăm tắp, thớ thịt ngang xớ uốn lượn hình hoa văn tuyệt đẹp rơi xuống đĩa sành Hải Dương trắng muốt. Bên cạnh, những bó hành hoa xanh mướt được cô tỉ mỉ chẻ cọng dài trắng nõn, lá hành thái nhỏ li ti lẫn với rau mùi tàu thái chỉ, tỏa ra mùi thơm hăng hăng dễ chịu. Những âu sành đựng giấm tỏi ớt hoa hồi ngâm chín tới, những lát chanh cốm mọng nước vỏ xanh bóng, những quả ớt chỉ thiên đỏ chót thái vát xếp ngay ngắn quanh chiếc khay đồng sáng bóng.
Mùi thịt luộc thơm lừng, mùi hành tươi ngai ngái hòa quyện cùng làn khói nghi ngút của nồi nước dùng tạo nên một bức tranh ẩm thực sống động. Nhìn Tuấn đang cần mẫn sắp từng đôi đũa tre vuốt nhẵn vào ống bương, xếp những chiếc bát sành men lam Hải Dương vẽ hoa chanh ngay ngắn thành từng chồng cao sát bệ bếp, Cúc thấy trong lòng dâng lên một cảm giác bình yên đến nao lòng. Không còn nỗi cô đơn trơ trọi của những buổi sớm rét mướt phải một mình gồng gánh đôi thùng gỗ nặng trĩu qua dốc Hàng Đậu, không còn nỗi sợ hãi chực trào nước mắt mỗi khi gió mùa thổi tạt làm tắt lịm lò than vỉa hè. Bên cạnh cô giờ đây đã có một bờ vai rộng vững vàng, một người đàn ông dám đem cả mạng sống để chở che cho hai mẹ con cô bước qua giông bão cuộc đời.
Trời rạng dần. Sương mù trên phố Hàng Khoai tan biến nhường chỗ cho ánh ban mai hanh hao của ngày đông giáp Tết. Dưới ánh sáng ấm áp tỏa ra từ bóng điện trong quán và làn khói thơm nức bốc cao qua mái hiên, tấm biển gỗ mít PHỞ GÁNH THU CÚC ngời sáng lên giữa con phố cổ kính.
Chẳng mấy chốc, những tiếng bước chân rộn rã đầu tiên đã dừng lại trước bực thềm gạch.
“Kìa, quán phở của cô Cúc hôm nay khai trương đàng hoàng rồi đấy à!”
Tiếng nói khoan thai quen thuộc vang lên. Cúc ngẩng đầu nhìn ra, nhận ra ngay cụ Khiêm – nhà giáo hưu trí phố Hàng Than, người sành ăn nổi tiếng của đất Hà thành. Cụ khoác chiếc áo choàng dạ sẫm màu, quàng khăn len kẻ ô, tay chống chiếc gậy batoong bằng gỗ mun chạm khắc tinh xảo.
“Kính chào cụ Khiêm ạ!” Cúc tươi cười đon đả, vội vàng bước ra đón khách. “Mời cụ vào quán mở hàng cho chúng cháu lấy may ạ!”
Cụ Khiêm bước qua ngưỡng cửa, đưa mắt ngắm nhìn khắp lượt sáu chiếc bàn gỗ thông vàng óng, chiếc bệ bếp cao ráo sạch bong và dòng chữ khắc chìm trên biển hiệu ngoài hiên, nét mặt cụ lộ rõ vẻ hài lòng, gật gù bảo “Tốt lắm, đàng hoàng lắm cô cháu gái ạ! Nghề phở gia truyền của đất Tràng An phải có một nơi chốn tôn nghiêm, tinh tươm như thế này mới xứng với cái tâm của người làm nghề. Cho lão một bát tái chín, nhiều hành hoa ít ớt, nước dùng thật nóng nhé!”
“Dạ, có ngay thưa cụ!” Cúc vui vẻ đáp lời.
Tuấn lập tức bốc một vốc bánh phở trắng mướt thả vào muôi lưới đồng, nhúng nhanh vào nồi nước sôi sùng sục, lắc đều tay ba lần cho ráo nước rồi trút gọn gàng vào lòng chiếc bát men vẽ hoa chanh Hải Dương. Cúc đón lấy bát, đôi tay mềm mại thoăn thoắt gắp những lát thịt chín nạc giòn xếp cong cong quanh thành bát, rồi rải một lớp bắp hoa tươi đỏ hồng lên chính giữa. Cô rắc một nhúm hành hoa chẻ cọng dài và mùi tàu thái chỉ, điểm thêm vài lát ớt tươi đỏ thắm.
Tuấn khẽ nghiêng người, múc một muôi nước dùng sôi lục bục từ lòng nồi tôn, nhẹ nhàng chan đều từ ngoài viền bát vào giữa. Nước dùng sôi nóng lập tức làm những thớ thịt bắp hoa mỏng tang se lại, chuyển từ màu đỏ tươi sang màu hồng nhạt mềm mượt, mùi thơm ngào ngạt của quế hồi tủy bò bốc lên nghi ngút, đánh thức toàn bộ khứu giác của những ai có mặt trong gian phòng.Bát phở bốc khói nghi ngút được Tuấn trân trọng đặt lên chiếc bàn gỗ thông trước mặt cụ Khiêm “Cháu kính mời cụ xơi phở nóng ạ.”
Cụ Khiêm khẽ gật đầu, nâng đôi đũa tre xới nhẹ cho bánh phở và hành hoa quyện đều vào nước dùng. Cụ không vội vắt chanh hay thêm ớt, mà dùng thìa nhôm múc một ngụm nước dùng trong vắt đưa lên miệng nhấp thử theo đúng thói quen của người sành phở lâu năm.
Đôi mắt cụ nhắm lại chừng vài giây để cảm nhận trọn vẹn vị thanh ngọt đọng lại trên đầu lưỡi, rồi cụ chậm rãi mở mắt ra, nụ cười hiền từ nở rộ trên khuôn mặt phúc hậu đầy nếp nhăn “Khá lắm! Tuyệt lắm cô Cúc ạ! Nước ngọt sâu từ tủy xương, ngọt thanh từ sá sùng, hương thơm thảo mộc đượm đà mà nước lại trong văn vắt, không vẩn một hạt mỡ ngấy. Đúng là vị phở gia truyền của cụ Cần năm xưa đây rồi! Bát phở này giữ trọn được cái cốt cách thanh lịch, mộc mạc của Hà thành. Cứ giữ vững cái tâm làm nghề thế này, quán phở của hai đứa sẽ nườm nượp khách suốt bốn mùa cho mà xem!”
Lời khen ngợi chân thành của bậc trưởng thượng sành ăn làm Cúc xúc động đến đỏ hoe đôi mắt, bao nhiêu mệt nhọc tích tụ suốt những đêm thức trắng dường như tan biến sạch trơn.
Cùng lúc đó, ngoài cửa bỗng rộn lên tiếng cười nói ồn ào, rôm rả của một đám đông “Anh em ơi, vào đây! Quán phở gánh của cô Cúc với chú Tuấn khai trương rồi!”
Bác Thược dẫn đầu một đoàn gồm gần chục anh em cửu vạn bốc vác đêm ở bến Long Biên và cánh lái xe kéo vừa xong ca chở hàng sớm ùa vào. Bác Thược mặc chiếc áo trấn thủ trần trám cũ, chiếc khăn mặt vắt ngang vai, bước vào kéo ghế băng ngồi phịch xuống, cất giọng sang sảng “Hôm nay quán mới mở, anh em bến bãi chúng tôi phải kéo sang ủng hộ đầu tiên! Chú Tuấn cho năm bát nạm gầu, bốn bát tái lăn, nước béo hành trần, làm thật đầy đặn vào nhé!”
“Có ngay các bác ơi!” Tuấn cười rạng rỡ, hai tay thoăn thoắt bốc bánh phở, chần thịt không ngơi nghỉ.
Gian nhà cổ bỗng chốc trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường. Sáu chiếc bàn gỗ thông mới đóng nhanh chóng chật kín chỗ ngồi. Tiếng chuyện trò râm ran, tiếng xì xụp húp nước dùng nóng hổi, tiếng xuýt xoa vì vị cay nồng của ớt tươi và giấm tỏi vang lên khắp các góc phòng.
“Trời rét buốt thế này mà được húp một thìa nước phở của cô Cúc thì ấm từ đỉnh đầu xuống tận gót chân!” Một người phu xe kéo vừa lau mồ hôi trên trán vừa tấm tắc khen. “Ngon hơn đứt cái tiệm Vạn Lộc toàn nước luộc thịt nhạt phèo với mì chính lợ cổ họng ngày trước!”
“Đấy, làm ăn chân chính, giữ chữ tín thì trời phật thương, bà con thương,” bác Thược gật gù, ngước nhìn tấm biển gỗ mít. “Từ nay anh em cửu vạn chúng tôi có chỗ ngồi ăn bát phở sáng đàng hoàng, có mái che kiên cố, mưa phùn gió bấc chẳng còn sợ rét nữa rồi!”
Khoảng sáu giờ ba mươi sáng, khi dòng người đi chợ Đồng Xuân và phố Hàng Khoai bắt đầu đông đúc, cánh cửa quán lại khẽ mở ra. Bà Nhẫn dắt tay bé Mây bước vào.
Bé Mây hôm nay được mẹ mặc cho chiếc áo len đỏ thắm đan tay, mái tóc buộc hai chỏm lắc lư theo từng nhịp bước. Vừa nhìn thấy Tuấn đang đứng bên bệ bếp, con bé đã reo to, giọng líu lo như chim sẻ “Bố Tuấn ơi! Mẹ Cúc ơi!”
Tuấn vội vàng đặt chiếc muôi đồng xuống, lau hai tay vào chiếc khăn sạch bên hông rồi cúi xuống bế bổng con gái lên, thơm nhẹ vào đôi má bầu bĩnh đỏ hồng vì gió lạnh của bé “Mây của bố dậy rồi à? Con có đói bụng không?”
“Con đói rồi ạ! Con muốn ăn bát phở có nhiều thịt bắp hoa của mẹ Cúc nấu cơ!” Bé Mây ôm chặt lấy cổ Tuấn, cười khúc khích.
Bà Nhẫn răng nhuộm đen nhánh, miệng bỏm bẻm nhai trầu, bước vào nhìn quanh gian quán đông nghịt khách mà cười tít mắt, nụ cười đôn hậu làm rạng rỡ cả khuôn mặt phúc hậu “Ôi dào, đông vui quá cơ! Tao bên quán nước nhìn sang thấy khách nườm nượp, sốt ruột quá phải dắt con bé sang ngay. Nào, để con bé ngồi đây chơi, u xắn tay áo vào phụ bưng bê với rửa bát cho nhé!”
“Ấy u ơi, u tuổi cao rồi, cứ để chúng cháu làm...” Cúc vội can ngăn.
“Gớm, khách ngồi kín cả sáu bàn thế kia, hai đứa làm sao xoay xở cho kịp!” Bà Nhẫn xua tay, thoăn thoắt đón lấy chiếc khay nhôm từ tay Cúc. “U già nhưng chân tay còn nhanh nhẹn chán. Ngày vui của các con, để u góp chút sức cho nó rôm rả!”
Nói rồi, bà Nhẫn xởi lởi bưng từng bát phở nóng hổi ra các bàn, miệng luôn tươi cười chào hỏi thực khách: “Mời các bác xơi phở nóng nhé! Phở gánh cụ Cần gia truyền đấy, nước dùng ngọt tủy tự nhiên, ăn một lần là nhớ mãi!”
Bé Mây ngoan ngoãn ngồi ở chiếc bàn nhỏ kê sát bậu cửa sổ, bên cạnh chú chim gỗ Sẻ Nâu nhỏ nhắn mà Tuấn đã đẽo tặng. Con bé ngồi ăn hết bát phở nhỏ mẹ chan riêng, thỉnh thoảng lại ngước đôi mắt tròn xoe đen láy nhìn bố Tuấn và mẹ Cúc bận rộn bên bệ bếp đỏ lửa, miệng khẽ hát mấy câu đồng dao ngây thơ.
Khách khứa kéo đến mỗi lúc một đông. Hết lớp khách lao động bến bãi, lại đến cánh lái buôn chuyến từ Lạng Sơn, Hải Phòng về chợ hoa quả, rồi những cô chú cán bộ công nhân viên chức trên phố Hàng Mã, Hàng Đường đi làm sớm ghé vào ăn điểm tâm. Nhiều người trước đây từng e ngại vì những lời đồn thổi thất thiệt của kẻ xấu, nay thấy tiệm Vạn Lộc bị công an niêm phong và quán Thu Cúc mở ra đàng hoàng, bèn kéo nhau vào ăn thử. Ai nấy ăn xong cũng đều tấm tắc khen ngợi hương vị thanh tao, đậm đà khó quên.
Tiếng dao thái thịt va vào mặt thớt vang lên lách cách rộn ràng, tiếng muôi múc nước dùng róc rách không ngớt, tiếng bát đũa va chạm lách cách hòa cùng tiếng nói cười xôn xao tạo nên một khúc ca lao động ấm no, tưng bừng giữa lòng phố cổ mùa đông năm 1989.
Cúc mải miết chần bánh, thái thịt, bốc hành, mồ hôi lấm tấm trên sống mũi thon nhỏ dù ngoài trời gió bấc vẫn thổi từng cơn lạnh ngắt. Mỗi lần ngước mắt lên, cô lại bắt gặp nụ cười ấm áp và ánh nhìn chan chứa tin yêu của Tuấn. Đôi bàn tay người lính thoăn thoắt bưng bê, dọn dẹp, rót thêm giấm tỏi ớt, tiếp nước dùng, nhịp nhàng phối hợp cùng cô như một cỗ máy hoàn hảo. Trong gian nhà cổ này, không còn khoảng cách của sự ngập ngừng e ngại thuở ban đầu, mà chỉ còn sự gắn kết ruột thịt của một gia đình thực thụ, cùng chung lưng đấu cật chèo chống qua những tháng ngày gian khó để vun đắp hạnh phúc tương lai.
Chưa đầy chín giờ sáng, nồi nước dùng dung tích hai mươi lít đã cạn trơ đáy, chỉ còn lại những khúc xương ống bò đã thôi hết tủy ngọt lịm nằm trơ trọi dưới đáy nồi.
Hơn bảy cân thịt bò bắp hoa, nạm gầu hảo hạng cùng hai thúng bánh phở lớn đã được bán sạch trơn không còn một cọng. Vài vị khách quen đến muộn đành tiếc nuối đứng trước cửa, Cúc phải cúi đầu áy náy hẹn họ sáng mai quay lại sớm.
“Thế là hết veo rồi các con ơi!” Bà Nhẫn vừa lau xong chiếc bàn gỗ cuối cùng, ngồi phịch xuống ghế thở phào một hơi sảng khoái. “Ngày đầu khai trương mà đắt hàng thế này là điềm lành lớn đấy. Thần tài gõ cửa rồi cô Cúc ơi!”
Bác Thược từ bến bốc vác ghé qua trả bát nước chè, thấy quán đã dọn dẹp sạch sẽ thì vỗ đùi đánh đét: “Khiếp thật, mới chín giờ kém mà đã nhẵn thín không còn cọng hành! Chú Tuấn với cô Cúc mát tay quá! Mai nhớ chuẩn bị thêm thịt thêm bánh nhé, cánh lái xe đường dài họ dặn tôi giữ chỗ đấy!”
Sau khi tiễn bà Nhẫn dắt bé Mây sang quán nước để cô bé ngủ trưa, gian nhà cổ trở lại với vẻ tĩnh lặng, thanh bình vốn có.
Nắng đông hanh vàng xuyên qua khung cửa sổ gỗ, rọi những vệt sáng ấm áp lên nền gạch Bát Tràng đã được lau chùi sạch bóng. Mùi nước dùng phở vẫn còn vương vấn ngạt ngào trong từng thớ gỗ, từng góc tường vôi ve vàng mơ.
Cúc ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ thông kê sát bệ bếp, kéo chiếc hộp sắt bánh quy Liên Xô đặt lên mặt bàn. Đôi bàn tay cô khẽ run rẩy khi mở nắp hộp.
Bên trong là những tập tiền giấy mệnh giá năm trăm đồng, một nghìn đồng phẳng phiu, xếp ngay ngắn thành từng thếp dày dặn. Đó là thành quả mồ hôi, nước mắt của một buổi sáng lao động cật lực, là đồng tiền công chính đáng được làm ra bằng sự lương thiện, bằng lòng kiên định giữ trọn chữ “Tâm” với nghề gia truyền của người cha quá cố.
Cúc đưa những ngón tay vuốt nhẹ lên từng tờ tiền giấy, khóe mắt bỗng ươn ướt. Cô nhớ lại những ngày đầu tiên quẩy đôi quang gánh nặng trĩu bước đi dưới cơn mưa phùn buốt giá, nhớ cái đêm trẹo chân đau đớn ngã quỵ giữa dốc Hàng Đậu, nhớ cả những lúc thắt lòng vì những mưu mô hiểm độc suýt chút nữa cướp đi sinh mạng và gia tài của mẹ con cô. Giờ đây, mọi giông bão đã lùi lại phía sau. Dưới mái nhà kiên cố này, một tương lai ấm no, tươi sáng đang thực sự mở ra trước mắt.
Tuấn vừa rửa xong chiếc muôi đồng sáng loáng bên bể nước sau giếng trời bước vào. Nhìn thấy giọt nước mắt lăn dài trên gò má Cúc, anh bước chậm rãi lại gần, đứng sát bên cạnh chiếc bàn gỗ.
Bằng một cử chỉ tự nhiên và dịu dàng, Tuấn khẽ đưa tay sang, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần vì sớm hôm vất vả của Cúc. Bàn tay anh ấm áp, vững chãi, khẽ siết lấy những ngón tay thon nhỏ của cô như truyền sang một luồng sinh khí tràn đầy chở che.
Cúc giật mình ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt sâu thẳm, trầm mặc nhưng đong đầy tình cảm tha thiết của anh đang nhìn mình chăm chú.
“Vất vả cho em suốt từ đêm qua đến giờ rồi,” giọng Tuấn trầm ấm, vang lên êm ái giữa gian phòng tĩnh lặng. “Quán xá thế này là đã vào nền nếp, buổi khai trương thành công trọn vẹn rồi Cúc ạ.”
Cúc khẽ lắc đầu, nở nụ cười rạng rỡ qua ngấn lệ: “Có anh gánh vác cùng em, em chẳng thấy mệt mỏi chút nào. Nếu không có anh, một mình em làm sao có được ngày hôm nay...”
Tuấn mỉm cười, ánh mắt anh nhìn ra khung cửa sổ nơi có những vạt nắng chiều đông đang trải vàng trên những nếp ngói thâm nâu cổ kính, rồi anh nhìn lại Cúc, ngập ngừng một thoáng trước khi trầm giọng cất lời “Chiều nay trời tạnh ráo, nắng đẹp lắm. Em nghỉ tay một lát rồi để anh đưa hai mẹ con dạo phố, ngắm bờ hồ Hoàn Kiếm và xem chợ hoa Hàng Lược chuẩn bị đón Tết nhé?”
Nghe lời ngỏ ý chân thành và ấm áp ấy, trái tim Cúc bỗng lỗi một nhịp, niềm xốn xang kỳ lạ trào dâng khiến đôi gò má cô ửng hồng lên như cánh hoa đào chớm nụ giữa trời đông.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
