Chương 16: Bữa Cơm Ngày Rét Đậm
Dưới mái hiên ngói ta rêu phong nhà bà Nhẫn, hơi nước sôi từ thùng tráng bánh vẫn bốc lên từng luồng mỏng quyện vào làn gió bấc buốt giá. Cúc cẩn thận dùng chiếc khăn vải màn sạch lau khô từng chiếc bát chiết yêu men lam cuối cùng rồi xếp ngay ngắn vào rổ tre. Đôi bàn tay cô đỏ ửng vì buốt cóng, khớp mắt cá chân phải sau mấy hôm kiêng cữ nay chỉ còn hơi râm ran nhức mỗi khi trở mình bước vội. Thấy bóng người quen thuộc tập tễnh từ con ngõ rẽ phía sau tiệm phở Vạn Lộc bước ra, Cúc vội đặt chiếc bát xuống chõng tre, ngẩng đầu ngóng đợi.
Dáng đi của Tuấn hơi nghiêng lệch về bên phải, chiếc áo trấn thủ trần bông màu cỏ úa đã sờn mép bay phần phật theo từng cơn gió giật nơi góc ngã tư. Bước chân anh dồn dập hơn mọi khi, khuôn mặt góc cạnh đanh lại đầy vẻ căng thẳng, bàn tay thô ráp nắm chặt một vật gì đó giấu bên vạt áo.
Vừa bước qua bậc thềm gạch đỏ, Tuấn liền kéo chiếc ghế gỗ con ngồi xuống sát góc cột, buông chiếc chổi tre dựa vào bờ tường. Thấy vẻ mặt nghiêm trọng của anh, bà Nhẫn đang têm dở miếng trầu cũng phải ngừng tay, khẽ nghiêng đầu hỏi dồn “Sao thế chú Tuấn? Ngoài ngõ có chuyện gì không ổn à?”
Tuấn không đáp ngay. Anh đưa mắt nhìn quanh khoảng hiên vắng khách, rồi mới chầm chậm xòe lòng bàn tay ra trước mặt Cúc và bà Nhẫn.
Nằm gọn trong lòng bàn tay chai sần của người lính là một chiếc cúc áo bông trần màu xám tro bằng nhựa cứng, mép cúc mẻ một góc nhỏ, còn dính chặt một mẩu chỉ dù màu xanh bộ đội bị giật đứt toạc. Kế bên chiếc cúc là mẩu giẻ rách bằng sợi đay cắt ra từ bao tải mậu dịch, đen ngòm và bốc lên mùi dầu luyn khét lẹt.
Cúc nhìn vật thể lạ lẫm, lòng không khỏi dâng lên nỗi hoang mang “Cái này… là anh nhặt được ở bờ rãnh nước đằng kia sao?”
“Đúng thế, cô Cúc ạ.” Giọng Tuấn trầm đục, chắc nịch nhưng ẩn chứa sự căm phẫn ghìm chặt nơi lồng ngực. “Vệt dầu luyn rỉ từ can nhựa kéo dài từ chỗ vỉa hè này, dẫn thẳng một mạch vào ngõ cụt phía sau tiệm Vạn Lộc. Mẩu giẻ này kẻ gian dùng để lót tay xách can dầu cho đỡ trơn, còn chiếc cúc áo này rơi lại ngay cạnh bụi cỏ sát chân tường rào.”
Anh chỉ tay vào hoa văn hình ngôi sao năm cánh đã mờ khắc chìm trên mặt chiếc cúc “Đây là loại cúc trên áo bông của cánh lái xe tải đường dài quốc doanh. Hai hôm trước, khi tôi ngồi bên quán chè nhìn sang, có một gã tài xế mặc chiếc áo bông xám này vào tiệm Vạn Lộc ngồi uống rượu trắng với lão Tài từ chập tối đến tận đêm muộn. Hắn chính là một trong những tay chân thân tín dưới trướng Hải Búa, chuyên chạy xe chở hàng chuyến cho lão Tài.”
Nghe đến đó, bà Nhẫn đập mạnh bàn tay có ngón đeo nhẫn bạc xuống mặt chõng tre, giận dữ nhổ toẹt bãi trầu đỏ quạch vào ống phóng “Khốn nạn thật! Rõ mười mươi là mưu hèn kế bẩn của lão Tài bụng phệ với thằng cháu du côn chứ còn ai vào đây nữa! Chúng nó buôn bán lọc lừa, phở như nước ốc không ai thèm nuốt, thấy mẹ con cái Cúc đông khách thì lồng lộn giở trò mèo mả gà đồng. Phải mang cái này lên báo ngay cho chú Đạt công an phường mới được!”
Nhìn mẩu vải đay dính dầu đen bẩn thỉu, một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Cúc. Nếu sáng sớm nay Tuấn không nhạy bén phát hiện và dùng tro than tẩy sạch, nếu bà Nhẫn không rộng lòng nhường khoảng thềm nhà che mưa chắn gió này, thì giờ đây gánh phở của cô đã ngập ngụa trong mùi dầu nhớp nhúa, khách khứa sợ hãi bỏ đi, bao nhiêu vốn liếng công sức lại đổ xuống sông xuống biển. Sự thâm độc của những kẻ cùng buôn bán nơi phố chợ khiến lòng cô thắt lại vì cay đắng và sợ hãi.
Nhận ra sự run rẩy nơi đáy mắt Cúc, ánh mắt Tuấn bỗng mềm lại. Anh khẽ thu những ngón tay thô ráp, nắm chặt chiếc cúc áo rồi cất cẩn thận vào túi trong của chiếc áo trấn thủ “U Nhẫn nói phải, nhưng bây giờ ta chưa có người làm chứng tận mắt lúc hắn đổ dầu, mang chiếc cúc này lên đồn thì lão Tài vẫn có thể chối bay chối biến. Cứ để tôi cất giữ làm vật chứng. Chú Đạt bên công an phường đã cho người giám sát chặt chẽ đám Hải Búa sau vụ quậy phá hôm nọ, sớm muộn gì đuôi cáo của chúng cũng lòi ra thôi. Cô Cúc đừng lo quá, ban ngày ban mặt giữa phố chợ đông đúc, chúng không dám làm càn đâu.”
Tiếng nói trầm ấm, điềm đạm của Tuấn như một chiếc neo vững chắc giữ lấy tâm trí đang chao đảo của Cúc. Cô khẽ gật đầu, đưa tay vuốt lại lọn tóc mai lòa xòa bên mang tai, cố nén tiếng thở dài vào trong ngực “Vâng, có anh nói thế tôi cũng yên dạ phần nào. Thôi, khách sáng nay cũng vãn rồi, để tôi dọn nốt đôi thùng phở rồi anh em mình gánh về ngõ kẻo gió lạnh.”
Đêm ấy, đợt không khí lạnh cực mạnh từ phương Bắc tràn về, phủ chụp lên toàn bộ đất trời Hà Nội. Gió mùa đông bắc rít từng hồi u u qua khe mái ngói, quăng quật những cành bàng khẳng khiu rụng trơ trụi bên bờ tường đá. Sáng hôm sau, cái rét đậm đầu mùa khiến nhiệt độ hạ sâu đến mức tê tái. Bước chân ra khỏi bậc cửa, hơi thở của con người lập tức hóa thành những luồng khói trắng xóa bốc lên trong không gian mờ đục.
Nhưng chính cái lạnh cắt da cắt thịt ấy lại biến gánh phở của Cúc thành một chốn nương náu ấm áp lạ thường giữa buổi sớm mai.
Đặt đôi thùng gỗ dưới mái hiên kín gió nhà bà Nhẫn, Cúc khẽ nâng nắp đậy nồi nước dùng. Làn hơi nóng hổi cuồn cuộn bốc lên, mang theo hương thơm ngào ngạt của quế chi, hoa hồi nướng vàng, vị thơm cay của gừng già đập dập hòa quyện cùng vị ngọt béo ngậy của tủy bò được ninh ròng rã suốt mười bốn tiếng đồng hồ. Lớp mỡ gà vàng ánh lăn tăn trên bề mặt nước dùng trong vắt, sóng sánh như một tấm lụa mềm.
Mới hơn năm giờ rưỡi sáng, góc phố Hàng Khoai còn mờ mịt trong màn sương giá, thực khách đã lục tục kéo đến chật kín ba chiếc bàn gỗ thông.
Cánh thợ bốc vác bến Long Biên mặc áo tơi lá, hai hàm răng va vào nhau cầm cập; mấy bác lái xe tải đường dài vừa tấp xe vào lề đường, tay xoa xoa vào nhau cho đỡ cóng; rồi cả những cụ già nho nhã từ phố Hàng Than, Hàng Lược đi tập thể dục buổi sớm, ai nấy đều hối hả bước vào thềm gạch đỏ tìm một chỗ ngồi.
“Cho tôi một bát tái gầu nhiều hành hoa, nước dùng thật nóng nhé cô hàng!” Một bác lái xe kéo chiếc khăn len quấn kín cổ xuống, cất tiếng gọi giòn giã.
“Bác chờ cháu một lát, có ngay đây ạ!” Cúc đon đả đáp lời, hai gò má ửng hồng lên vì hơi lửa ấm.
Đôi bàn tay thon thả của cô thoăn thoắt làm việc như một thói quen đã ngấm vào xương tủy. Cúc bốc một vốc bánh phở trắng phau, mềm mướt cho vào muôi lưới, nhúng qua nồi nước đang sôi sủi tăm rồi trút ra chiếc bát chiết yêu men lam. Lưỡi dao nhíp sắc lẻm liếc nhẹ qua miếng thịt bắp hoa tươi roi rói, từng lát thịt mỏng dính như cánh ve rơi đều trên mặt bánh phở, xen lẫn vài miếng nạm gầu giòn rụm được luộc chín tới, viền mỡ vàng ươm. Một nhúm hành hoa cọng dài xanh ngắt cùng mùi tàu thái chỉ rắc lên trên, rồi chiếc muôi đồng múc một muôi nước dùng đang sôi lăn tăn, chan ngập từ từ vào bát.
Nước dùng sôi rẫy làm chín tới từng thớ thịt bắp hoa, màu hồng tươi của thịt chuyển sang sắc trắng ngà mềm mại, tỏa ra thứ phong vị ngây ngất đánh thức mọi giác quan.
Tuấn bưng từng bát phở nóng hổi đặt cẩn thận trước mặt khách, không quên mang thêm đĩa ớt tươi thái lát, đĩa chanh cốm mọng nước và âu giấm tỏi ớt ngâm hoa hồi. Tiếng xì xụp húp nước dùng, tiếng thìa va lách cách vào thành bát sứ men lam rộn rã khắp gian hiên. Khách ăn xong, mồ hôi rịn nhẹ trên trán, gương mặt ai nấy đều giãn ra trong sự khoan khoái, ấm áp lạ kỳ.
Nhờ vị ngọt thanh sâu lắng tự nhiên không hề vương chút lợ của mì chính cùng cái rét buốt như kim châm ngoài trời, gánh phở của Cúc bán hết sạch veo sớm hơn mọi ngày. Mới hơn tám giờ sáng, hai thúng bánh phở đã trơ đáy, tảng thịt bắp hoa và nạm gầu hơn sáu cân sạch bách, nồi nước dùng cạn đến tận đáy chỉ còn lại những khúc xương ống bò tơ đã róc hết tủy ngọt.
Cúc ngồi đếm lại những đồng tiền lẻ được vuốt phẳng phiu trong chiếc hộp sắt bánh quy Liên Xô. Trừ đi tiền xương, tiền thịt tươi của bác Ba Râu, tiền bánh phở và tiền củi than, số tiền lời tích cóp được sáng nay nhiều hơn hẳn những buổi trước. Cầm những tờ tiền giấy năm trăm đồng, một nghìn đồng còn vương mùi thơm của hoa hồi, Cúc nhìn ra màn sương mùa đông đang giăng mờ trên những tàng cây xà cừ ven đường, trong lòng chợt nảy ra một ý nghĩ ấm áp.
Mấy hôm nay trời rét đậm, Tuấn thức khuya dậy sớm phụ cô nhóm than gánh nước, chiếc áo trấn thủ mỏng manh chẳng đủ cản gió đông, vết thương đạn cối ở bắp chân anh cứ tái nhức từng cơn mà anh luôn cắn răng chịu đựng không một lời than vãn. Còn bà Nhẫn thì sớm hôm che chở, coi mẹ con cô như người ruột thịt trong nhà.
Cúc thu dọn quang gánh thật nhanh, cất đồ nghề vào góc hiên rồi quay sang nói với Tuấn “Anh Tuấn trông gánh giúp tôi một lát nhé, tôi chạy ù ra chợ mua ít đồ ăn rồi về ngay.”
Chợ Đồng Xuân cữ trưa tấp nập người mua kẻ bán, hơi thở người mua lẫn vào làn sương lạnh. Cúc lách qua những quầy hàng rau củ, cẩn thận chọn một dải thịt ba chỉ tươi ngon nhất ở quầy thịt lợn quen. Miếng thịt có ba chỉ nẹp mỡ giòn, bì mỏng, nạc đỏ au còn dính chút dẻo dính của lợn mới mổ. Cô mua thêm mấy lạng hành củ tươi trắng nõn mập mạp, nửa bơ đỗ xanh hạt mẩy tròn trĩnh và hai bó rau cải cúc non mơn mởn còn đọng những hạt sương sớm.
Xách chiếc làn nhựa trở về con ngõ sâu phố Hàng Khoai, Cúc xắn tay áo bước vào góc bếp nhỏ cạnh gian phòng trọ chưa đầy mười mét vuông của mình.
Chiếc bếp dầu hỏa Thăng Long được châm lửa, ngọn lửa xanh biếc reo lên nhè nhẹ xua tan cái ẩm mốc của góc tường gạch cũ. Cúc thái thịt ba chỉ thành từng miếng vuông vức dày dặn, ướp cùng chút nước mắm cốt thơm lừng, hành khô băm nhỏ và một thìa con mật mía nâu óng để tạo màu. Khi miếng thịt được đảo đều trên chảo gang, mỡ lợn xèo xèo tươm ra, mùi thơm ngậy của thịt kho quyện với hành phi ngào ngạt lan tỏa khắp gian chái hẹp.
Bên cạnh, nồi cơm gạo tám mới sôi lục bục trên bếp than tổ ong nhỏ, tỏa ra hương thơm dẻo ngọt của mùa màng đồng bằng Bắc Bộ. Nồi canh cải cúc nấu với mấy con tôm khô giã giập xanh ngắt, thơm ngòn ngọt, thanh nhẹ nơi đầu lưỡi. Chỗ đỗ xanh hạt mẩy được cô nấu thành nồi chè ấm nóng, thơm lừng vị gừng già để cả nhà tráng miệng. Cúc còn tỉ mẩn chần sơ mớ hành củ tươi qua muôi nước sôi già, vớt ra đĩa trắng muốt để ăn kèm cho đỡ ngấy.
Khi mâm cơm đã tinh tươm, khói bốc lên nghi ngút làm mờ cả ô cửa kính con con, Cúc cởi chiếc tạp dề vải hoa, bước ra đầu ngõ cất tiếng gọi “U Nhẫn ơi! Cháu nấu xong bữa trưa rồi, u sang bên phòng cháu ăn bát cơm nóng cho ấm người u nhé!”
Bà Nhẫn từ quán nước chè bước vào ngõ, cười tươi rói để lộ hàm răng đen nhánh “Gớm, ngửi mùi thịt kho thơm nức từ nãy đến giờ, làm bà già này cồn cào cả ruột gan đây này!”
Cúc lại bước tới trước gian chái chứa củi của Tuấn. Cánh cửa gỗ khép hờ, cô khẽ gõ nhẹ ba tiếng lên khung cửa “Anh Tuấn ơi, cơm chín rồi, anh sang ăn với mẹ con tôi nhé.”
Cánh cửa mở ra, Tuấn đứng đó, trên tay vẫn còn cầm chiếc khăn bông cũ vừa lau vội mặt. Thấy Cúc đứng chờ với nụ cười dịu dàng trên môi, anh có chút bối rối, đưa tay gãi đầu “Tôi… tôi định nấu tạm củ khoai với bát nước phở chan nguội…”
“Khoai với nước nguội làm sao ấm bụng được giữa ngày rét thế này!” Cúc giả vờ nghiêm mặt, nhưng ánh mắt lấp lánh niềm vui. “Hôm nay gánh phở bán hết sớm, tôi làm mâm cơm mọn cảm ơn u Nhẫn với anh đã vất vả mấy ngày qua. Anh không sang là mẹ con tôi buồn đấy.”
Tuấn khẽ mỉm cười, cái gật đầu mộc mạc của anh khiến lòng Cúc nhẹ nhõm lạ kỳ “Vâng, thế để tôi sang ngay.”
Bốn người quây quần bên chiếc chiếu cói mộc trải ngay ngắn giữa sàn gạch hoa cũ kỹ. Giữa căn phòng trọ đơn sơ, mâm cơm nghi ngút khói đặt trên chiếc mâm nhôm Hải Phòng sáng bóng như một đốm lửa sưởi ấm cả không gian giá buốt. Chiếc chăn con công gấp gọn gàng nơi góc phản, ngọn đèn dầu hỏa tỏa ra ánh sáng vàng dịu dàng, ấm áp.
Bé Mây ngồi lọt thỏm giữa Tuấn và mẹ, mặc chiếc áo len đỏ đan tay đã sờn chỉ ở cổ tay nhưng gương mặt bầu bĩnh rạng rỡ như một đóa hoa trà. Đôi mắt to tròn đen láy của con bé cứ chốc chốc lại ngước nhìn Tuấn, rồi bỗng nhiên con bé reo lên líu lo “A, con khoe mẹ cái này này! Mẹ Cúc nhìn xem này!”
Nói rồi, bé Mây vội vàng nhoài người về phía chiếc hòm gỗ đựng quần áo, lôi ra một cuốn vở ô ly giấy Bãi Bằng ngả màu ố vàng cùng mẩu bút chì gỗ được gọt cẩn thận bằng dao nhíp. Con bé mở toang trang giấy, hai bàn tay bé bỏng nâng niu giơ lên trước mặt Cúc:“Mẹ xem này! Chú Tuấn cầm tay dạy con viết chữ đấy! Đây là chữ O tròn như quả trứng gà, còn đây là chữ A có cái mũ xinh xinh!”
Cúc sững người, đón lấy cuốn vở từ tay con gái.
Trên trang giấy kẻ ô vuông vức, những nét chì đen tuy còn run rẩy, xiêu vẹo nhưng vô cùng nắn nót, sạch sẽ. Từng chữ “O”, chữ “A” được xếp thành hàng lối ngay ngắn, không hề có một vết tẩy xóa lem nhem. Dưới góc trang giấy còn có hình vẽ một chú chim nhỏ đang đậu trên cành cây, nét vẽ mộc mạc mà sinh động đến lạ lùng.
Sống mũi Cúc bỗng cay sè. Từ ngày chồng mất, một mình cô bươn chải giữa dòng đời nghiệt ngã, lo từng bữa ăn, manh áo cho con gái đã bạc mặt, thời gian đâu mà nghĩ đến chuyện dạy con học chữ. Mây đã bốn tuổi, cái tuổi đáng lẽ được bi bô học chữ cái, học hát ca thì con bé lại phải sớm hôm theo mẹ ngồi thu lu bên gánh hàng rong, bầu bạn với những mẩu củi vụn và chiếc lá bàng khô.
Thấy Cúc lặng đi, Tuấn tưởng cô phật ý, vội vàng xua tay phân trần “Cô Cúc đừng giận nhé… Mấy buổi trưa sau khi dọn hàng, thấy bé Mây cứ ngồi nhìn mấy tờ báo cũ dán trên vách tường rồi hỏi chữ gì, tôi thấy thương quá. Sẵn có cuốn vở cũ hồi ở đơn vị với mẩu bút chì, tôi mới cầm tay chỉ cho cháu viết mấy chữ cái vỡ lòng cho đỡ buồn chân buồn tay thôi…”
“Kìa anh Tuấn…” Giọng Cúc nghẹn lại, cô ngước nhìn người lính phục viên, đôi mắt bồ câu ánh lên ngàn vạn lời cảm kích. “Sao tôi lại giận anh được cơ chứ? Tôi… tôi biết ơn anh còn không hết. Tôi vô tâm quá, chỉ biết mải mê kiếm tiền mà quên mất việc học của con. May mà có anh thương cháu, kiên nhẫn chỉ bảo cho cháu từng nét chữ…”
Tuấn ngượng ngùng cúi đầu, bàn tay to bè vụng về xoa xoa mái tóc buộc hai chỏm của bé Mây “Có gì đâu cô Cúc. Bé Mây thông minh lắm, chỉ cần bảo một hai lần là nhớ ngay. Sau này có điều kiện, cháu nhất định sẽ học giỏi.”
Bà Nhẫn ngồi bên cạnh, nhai trầu bỏm bẻm, nheo nheo đôi mắt tinh tường nhìn hai người rồi bật cười ha hả “Đấy, u đã bảo mà! Cái duyên cái số nó vồ lấy nhau. Chú Tuấn thì khéo tay hay lam hay làm, lại thương trẻ con; cái Cúc thì đảm đang nết na. Cứ như người một nhà thế này có phải ấm êm cửa nhà không!”
Lời nói vô tư của bà lão khiến gò má Cúc bỗng chốc nóng bừng, đỏ ửng như ráng chiều mùa hạ. Cô vội cúi đầu, lúng túng xới một bát cơm đầy dâng lên bà Nhẫn “U xơi cơm đi kẻo nguội mất u, thịt kho còn đang nóng lắm đấy ạ.”
Bữa cơm trưa diễn ra trong không khí đầm ấm chưa từng có. Tiếng cười nói ríu rít của bé Mây hòa cùng tiếng gió rít bên ngoài hàng hiên tạo nên một bản hòa âm bình yên đến lạ kỳ.
Trong bữa ăn, Tuấn ăn uống rất chừng mực, từ tốn đúng tác phong người lính. Anh dùng đôi đũa tre cẩn thận gắp miếng thịt ba chỉ nạc mềm nhất, dầm nhỏ ra rồi bỏ vào bát cho bé Mây “Mây ăn miếng thịt này cho mềm nhé, nhai kỹ kẻo hóc con ạ.”
“Con cảm ơn chú Tuấn ạ!” Bé Mây ngoan ngoãn đáp, rồi đưa thìa xúc một miếng cơm đầy cùng thịt cho vào miệng nhai ngon lành, đôi mắt híp lại vì thích thú.
Nhìn bàn tay thô ráp, đầy vết chai sần của Tuấn vụng về nhưng vô cùng cẩn trọng gắp từng cọng rau, từng miếng thịt cho con gái mình, nhìn ánh mắt ấm áp, dịu dàng vô bờ bến mà anh dành cho đứa trẻ côi cút, trái tim Cúc bỗng rung lên những nhịp đập thổn thức khôn nguôi.
Hai năm qua, kể từ ngày tai nạn sập giàn giáo cướp đi người chồng trẻ, Cúc đã phải một mình gánh gồng tất cả. Cô sống khép kín sau lớp vỏ bọc lạnh lùng, cam chịu những lời xì xào độc địa của miệng đời về số phận “gái sát phu”, tự nhủ lòng sẽ không bao giờ mở cửa trái tim cho bất kỳ ai nữa để bảo vệ con gái và giữ trọn sự bình yên mong manh. Thế nhưng, người lính phục viên tàn tật này, với sự chân thành mộc mạc, sự bao bọc thầm lặng và lòng nhân hậu thuần khiết, đã từng chút một xua tan đi lớp băng giá dày đặc bấy lâu trong tâm hồn cô.
Anh không nói những lời hoa mỹ, không hứa hẹn những điều xa xôi, nhưng từng việc anh làm—từ việc chắn mũi dao hung hãn của lũ côn đồ, gọt đẽo từng món đồ chơi gỗ, thức trắng đêm cứu lò than sũng nước, cho đến việc kiên nhẫn cầm tay con gái cô nắn nót từng chữ cái—đều chạm đến góc sâu kín nhất trong lòng người đàn bà góa bụa. Nỗi sợ hãi về định kiến xã hội, nỗi mặc cảm về thân phận dường như đang dần tan biến trước hơi ấm của tình người chân thật.
Ăn xong bát cơm, Tuấn xin phép buông đũa trước để ra góc sân rửa tay. Nhìn bóng lưng rộng, hơi còng xuống vì vết thương ở chân của anh bước qua bậu cửa, Cúc thấy lòng dâng lên một niềm thương cảm và tin cậy khôn cùng.
Sau bữa cơm trưa, bà Nhẫn trở về quán nước đầu ngõ để trông nom hàng họ. Bé Mây sau một buổi sáng vừa phụ mẹ vừa nắn nót tập viết chữ đã bắt đầu díu mắt lại. Cúc dỗ dành cho con gái nằm lên chiếc phản gỗ, đắp tấm chăn bông ấm áp rồi khẽ vỗ về cho con chìm vào giấc ngủ say sưa. Tiếng thở đều đều, thanh thản của đứa trẻ vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch.
Cúc bưng chiếc thau nhôm đựng bát đĩa ra góc giếng khơi phía sau dãy trọ để dọn rửa. Nước giếng mùa đông buốt như xát muối vào da thịt. Cúc vừa nhúng tay xuống nước đã khẽ rụt lại vì lạnh buốt.
Bất chợt, một bàn tay to lớn vươn ra, cầm lấy chiếc gáo múc nước đỡ lấy phần việc của cô.
“Để tôi múc nước tráng cho, nước lạnh lắm, chân tay cô ngâm nước bán hàng cả buổi sáng rồi.”
Cúc ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt trầm tĩnh của Tuấn. Anh ngồi xổm bên mé bệ giếng, đôi ống quần bộ đội xắn cao để lộ vết sẹo lồi thâm tím kéo dài ở bắp chân phải. Gió đông lùa qua hàng rào nứa sau lưng làm vạt áo anh bay phần phật, nhưng dáng ngồi của anh vẫn vững chãi như một tảng đá núi.
“Cảm ơn anh…” Cúc khẽ nói, lòng ấm lại giữa cái giá rét căm căm.
Hai người lẳng lặng làm việc bên nhau. Tiếng bát đĩa va lách cách, tiếng nước dội róc rách trên nền gạch rêu phong. Khi chiếc bát cuối cùng được úp ráo nước vào rổ, Tuấn không vội đứng lên ngay. Anh đưa mắt quan sát kỹ lưỡng bờ rào nứa bao quanh dãy xóm trọ, rồi nhìn sang những bụi chuối rậm rạp phía sau bức tường hoa ngăn cách với con ngõ ngoài.
Khuôn mặt anh thoáng chùng xuống, vẻ cảnh giác nhà binh lại hiện rõ trên từng đường nét. Chờ Cúc lau khô tay vào chiếc khăn vải xô, Tuấn mới hạ thấp giọng, cất lời nhắc nhở “Cô Cúc này.”
“Dạ, có chuyện gì thế anh?” Cúc ngạc nhiên nhìn anh.
Tuấn khẽ nghiêng người về phía cô, giọng nói trầm xuống đầy kín đáo “Hai đêm nay, tầm quá nửa đêm về sáng, vết thương ở chân tôi trở chứng nhức buốt nên tôi không ngủ sâu được. Tôi nghe thấy tiếng bước chân lạ lảng vảng ngoài ngõ sau, có bóng người lén lút trèo lên bờ tường hoa nhìn vào khoảng sân chung của dãy trọ mình.”
Tim Cúc thót lại một nhịp, đôi mắt mở to đầy lo âu “Có kẻ rình rập ư anh? Hay là… hay là người của lão Tài và Hải Búa?”
“Nhiều khả năng là thế,” Tuấn gật đầu, ánh mắt sắc như lưỡi lê trong đêm. “Kế hoạch đổ dầu luyn phá gánh phở của chúng đã thất bại hoàn toàn. Thấy cô dọn vào trong hiên nhà u Nhẫn bán đắt hàng hơn trước, lão Tài chắc chắn không chịu ngồi yên đâu. Chúng đang dòm ngó quy luật sinh hoạt của dãy trọ, nhất là vị trí chiếc bếp than tổ ong cô thường ủ nước dùng qua đêm ngoài sân.”
Cúc rùng mình, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào mép áo “Nồi nước dùng là cả gia tài của mẹ con tôi… Nếu chúng lại phá hoại thì…”
“Cô đừng sợ,” Tuấn vội nói, giọng anh dứt khoát và đầy uy lực khiến nỗi bất an của Cúc lập tức dịu đi đôi phần. “Từ tối nay, chiếc bếp than tổ ong ninh xương cứ để ở góc sân sát cửa sổ phòng tôi, tôi sẽ thức để mắt canh chừng. Còn phòng của cô và bé Mây, tối đến ăn uống xong xuôi, cô nhớ phải cài chặt then cửa gỗ bên trong, lấy thêm thanh đóa chặn ngang cánh cửa lại. Có bất kỳ tiếng động lạ nào, cô tuyệt đối không được tự ý mở cửa bước ra ngoài, cứ gõ mạnh ba tiếng vào vách tường giáp phòng tôi, tôi sẽ có mặt ngay.”
Nhìn sâu vào đôi mắt cương nghị, không một chút dao động của người lính phục viên, Cúc cảm thấy một luồng hơi ấm kỳ diệu lan tỏa khắp lồng ngực. Người đàn ông này, dù mang trên mình thương tật chiến tranh, dù cuộc sống còn muôn vàn khó khăn thiếu thốn, nhưng luôn đứng chắn trước mọi giông bão để bảo bọc cho mẹ con cô mà không đòi hỏi bất cứ điều gì cho riêng mình.
“Tôi nhớ rồi, cảm ơn anh Tuấn nhiều lắm…” Cúc khẽ đáp, giọng nói run rẩy vì xúc động.
Tuấn khẽ gật đầu, nở một nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng khuôn mặt sương gió “Thôi, cô vào nhà nghỉ ngơi với bé Mây đi cho lại sức. Chiều nay không phải lo nhóm bếp sớm đâu, để đấy tôi làm cho.”
Đêm mùa đông buốt giá buông xuống phố cổ Hà Nội nhanh như một cái chớp mắt. Sau bữa cơm tối đạm bạc, Cúc làm đúng như lời Tuấn dặn: cô cài then cửa gỗ cẩn thận, chốt chặt thanh đóa ngang cánh cửa rồi mới lên giường nằm cạnh con gái.
Bên ngoài, gió mùa đông bắc mỗi lúc một gầm rít dữ dội hơn. Tiếng gió bấc rít qua từng khe hở của mái ngói fibro xi măng, tiếng những cành bàng khô va đập vào tường vôi loang lổ nghe như những tiếng gõ nhịp khô khốc giữa đêm trường tịch mịch. Căn phòng trọ nhỏ chìm trong bóng tối lờ mờ, chỉ có hơi ấm từ cơ thể bé bỏng của bé Mây đang rúc sâu vào lòng mẹ và mùi thơm ngai ngái của chiếc chăn bông cũ.
Cúc ôm chặt lấy con gái vào lòng, lắng nghe tiếng thở đều đặn, êm đềm của đứa trẻ. Nhưng tâm trí cô thì không sao chợp mắt nổi. Lời cảnh báo ban trưa của Tuấn cứ văng vẳng bên tai, hòa cùng nỗi lo âu vô hình về những cạm bẫy đen tối nơi phố chợ thời giao thời. Cô chập chờn trôi vào một giấc ngủ mệt mỏi, nửa tỉnh nửa mê.
Đồng hồ điểm canh ba. Không gian xung quanh tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn tiếng gió lùa hun hút ngoài rặng tre xa xa.
Đột nhiên, đôi tai nhạy cảm của người mẹ khiến Cúc giật mình tỉnh giấc.
Một âm thanh lạ lùng vừa lọt vào thính giác của cô. Không phải tiếng gió rít, cũng không phải tiếng chuột chạy trên xà nhà.
Đó là tiếng lá khô xào xạc vang lên rất khẽ, rất dè dặt ngay bên ngoài hàng rào nứa sát vách phòng trọ—như thể có ai đó đang rón rén từng bước chân trần giẫm lên lớp lá bàng mục.
Toàn thân Cúc cứng đờ, tim đập thình thịch liên hồi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cô nín thở, hai mắt mở to nhìn trừng trừng vào cánh cửa gỗ trong màn đêm mờ mịt.
Ngay sau tiếng xào xạc của bước chân rình rập, một âm thanh sắc lạnh vang lên: tiếng kim loại cọ khẽ, lách cách đầy cẩn trọng luồn qua khe cửa để lựa then cài.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
