Chương 20: Mối Duyên Gian Nhà Cổ

Tiếng guốc mộc khua lách cách trên lối đi ẩm ướt cùng giọng gọi giục giã của bà Nhẫn xé tan bầu không khí trầm lắng trong gian chái củi. Tấm liếp nứa che cửa khẽ lay động, kéo Tuấn trở về với thực tại. Bàn tay anh vẫn đang siết nhẹ lấy những ngón tay mềm mại của Cúc. Vừa nghe thấy mấy chữ “căn nhà cổ của cụ Đoan”, mắt Cúc bừng lên một tia sáng rạng ngời xen lẫn vẻ thảng thốt.

“Cụ Đoan ở đầu phố Hàng Khoai thật sao u?” Cúc vội buông tay Tuấn, đứng bật dậy bước nhanh ra mép cửa, giọng không giấu nổi vẻ hồi hộp.

Bà Nhẫn vén tấm rèm bao tải bước vào, hơi thở còn dồn dập vì vừa chạy vội một mạch từ đầu phố về. Chiếc khăn vuông nhung đen trên đầu bà xộc xệch, hai bên má ửng hồng vì gió bấc, nụ cười tươi rói để lộ hàm răng đen nhánh điểm bã trầu “Thật chứ còn đùa nỗi gì nữa! U vừa ngồi dọn dẹp mấy cái chén tống bên quán nước thì thấy ông cháu họ của cụ Đoan ghé qua mua bao thuốc lá Tam Đảo. Ông ấy bảo cụ Đoan vừa quyết sáng nay, dọn sạch kho sách cũ ở gian tầng một để cho người ngoài thuê. Nhà cụ Đoan thì các con biết rồi đấy, nhà cổ hai tầng từ thời các cụ để lại, cột lim mái ngói, hiên rộng thênh thang vươn sát mặt đường. U vừa nghe ngóng được là ba chân bốn cẳng chạy ngay về đây báo cho hai đứa!”

Nghe từng lời bà Nhẫn nói, trong lồng ngực Tuấn dấy lên một cảm giác chộn rộn khó tả. Anh hiểu rõ căn nhà ấy. Mỗi bận giúp Cúc quẩy đôi quang gánh qua ngã tư đầu phố Hàng Khoai hướng ra chợ Đồng Xuân, Tuấn đều đưa mắt nhìn ngôi nhà cổ sừng sững với lớp vôi ve màu vàng đất đã ngả rêu phong. Đó là một vị trí đắc địa hiếm có: nằm ngay ngã ba giao cắt đón trọn dòng người buôn chuyến đổ về từ ga Long Biên và bến nứa sông Hồng, lại cách xa đám ồn ào bừa bãi của bến xe tải. Nhưng quan trọng hơn cả, nơi đó có mái hiên gạch ngói kiên cố và cánh cửa gỗ lim dày dặn, thứ có thể che chở cho mẹ con Cúc khỏi những đòn thù giấu mặt trong đêm tối.

“Nhưng mà u ơi…” Niềm vui trên gương mặt Cúc vừa chớm nở bỗng thoáng chùng xuống, giọng cô ngập ngừng: “Cụ Đoan là bậc túc nho nề nếp lừng danh đất Hà thành, xưa nay cụ kỹ tính có tiếng. Liệu cụ có chịu cho một gánh phở rong thuê gian nhà tổ tiên không u? Hơn nữa… tiền thuê một tháng chắc phải đắt lắm, mẹ con cháu sợ không kham nổi.”

Tuấn khẽ cử động thân mình, nén cơn nhức buốt âm ỉ đang cắn rỉa từ thớ thịt quanh mảnh đạn cối ở bắp chân phải. Anh chống tay xuống mặt phản gỗ, gượng đứng thẳng dậy. Dù lớp băng vải xô trắng còn vương chút dịch thuốc đỏ và những bước chân vẫn chưa thể đặt trọn bàn xuống đất, nhưng ánh mắt anh rực lên sự kiên quyết của một người lính đã nhìn thấy mục tiêu “Chưa thử thì sao biết được cô Cúc. Cụ kỹ tính là vì muốn tìm người đàng hoàng, giữ gìn nền nếp gia phong. Gánh phở của nhà mình buôn bán sạch sẽ, lấy chữ tâm làm đầu, không làm điều gì khuất tất thì chẳng việc gì phải tự ti cả. Cơ hội nghìn năm có một thế này, nếu chần chừ để người khác đặt cọc trước thì tiếc lắm.”

Anh quay sang nhìn bà Nhẫn, giọng trầm ấm mà đanh thép: “U Nhẫn dắt chúng con sang diện kiến cụ Đoan ngay bây giờ được không u? Trăm sự nhờ u mở lời giúp.”

“Phải đấy! Thằng Tuấn nó nói chí phải!” Bà Nhẫn vỗ đùi đánh đét một cái, gật đầu lia lịa. “Ông Đoan tuy nghiêm nhưng là người trọng lẽ phải, hiểu đạo lý ở đời. Đi ngay kẻo thiên hạ người ta đánh hơi thấy, kéo đến tranh nhau thì hỏng việc!”

Cúc vội vàng quay vào buồng, cẩn thận quấn lại chiếc khăn len ấm cho bé Mây rồi dắt tay con bé bước ra. Bé Mây ngoan ngoãn ôm chặt con chim sẻ đẽo bằng gỗ thông bên ngực, đôi mắt đen láy tròn xoe nhìn mẹ rồi lại nhìn chú Tuấn, dường như cảm nhận được gia đình sắp sửa bước vào một biến chuyển trọng đại.

Tuấn khập khiễng bước từng bước ra khỏi con ngõ sâu. Gió mùa đông thổi qua rặng xà cừ trụi lá rít lên từng hồi căm căm, nhưng cái lạnh cắt da cắt thịt chẳng thể dập tắt ngọn lửa hy vọng đang bùng cháy trong lòng anh. Bắp chân phải co rút nhức nhối sau mỗi nhịp bước, mồ hôi rịn ra thái dương, nhưng Tuấn vẫn cắn chặt răng, giữ cho lưng mình thẳng tắp. Đi bên cạnh anh, Cúc khẽ đưa bàn tay nhỏ nhắn đỡ lấy khuỷu tay anh, ánh mắt cô đong đầy sự xót xa và cảm kích. Sự nương tựa âm thầm ấy truyền cho Tuấn một sức mạnh lạ kỳ, xua tan đi cảm giác tàn phế bấy lâu nay vẫn đè nặng tâm can.

Chỉ một quãng ngắn đi bộ qua bốt nước Hàng Đậu, căn nhà cổ hai tầng của cụ Đoan đã hiện ra trước mắt.

Đó là một công trình kiến trúc bề thế mang đậm dấu ấn giao thoa giữa nét cổ kính kinh kỳ và phong cách nhà phố đầu thế kỷ. Tầng hai nổi bật với những ô cửa sổ chớp gỗ màu xanh lục đã phai màu sương gió, ban công uốn sắt hoa văn tinh xảo phủ đầy những nhánh lan rừng xanh mướt. Nhưng điểm khiến Tuấn chú ý nhất chính là tầng trệt. Một khoảng hiên rộng vươn dài ra phía trước, được nâng đỡ bởi hai cột gỗ lim tròn to bản đã ngả màu nâu bóng. Mái hiên lợp ngói vảy cá đua ra che trọn cả khoảng sân nhỏ lát gạch Bát Tràng đỏ au, tạo thành một không gian thoáng đãng mà vô cùng ấm cúng. Cánh cửa bức bàn gồm bốn cánh gỗ dày dặn, then cài bằng đồng đúc chắc nịch, toát lên vẻ trang nghiêm và an toàn tuyệt đối.

Tuấn đưa mắt quan sát với phản xạ nhạy bén của một người lính từng quen dựng công sự: gian nhà này vừa vặn nằm cao hơn mặt đường nửa thước, không lo nước mưa ngập úng; khoảng hiên đủ sức kê năm sáu chiếc bàn gỗ nhỏ đón khách; phía sau lại có giếng trời thông gió thẳng lên trời, vô cùng thích hợp để đặt lò than mà không sợ khói độc ám vào gian trong. Đây quả thực là một chốn an cư lạc nghiệp hoàn hảo mà Cúc hằng ao ước.

Bà Nhẫn bước lên ba bậc thềm đá xanh, khẽ gõ nhẹ chiếc vòng đồng gõ cửa “Thưa cụ Đoan! Có cụ ở nhà không ạ? Tôi là Nhẫn b*n n**c chè đầu ngõ đây ạ!”

Một lát sau, tiếng chốt cửa bên trong lách cách vang lên. Cánh cửa gỗ lim nặng nề từ từ mở ra, để lộ một cụ già trạc ngoài bảy mươi tuổi. Cụ Đoan có vóc người mảnh khảnh nhưng lưng vẫn thẳng, mái tóc bạc phơ được chải chuốt gọn gàng ra sau gáy, chòm râu cước dài chấm ngực. Cụ mặc chiếc áo the màu mận chín bên ngoài áo len cổ lọ, đôi mắt tinh anh sau cặp kính lão gọng đồi mồi toát lên vẻ thông tuệ, nghiêm cẩn của một bậc túc nho đất Tràng An.

“Bà Nhẫn đấy à? Mời bà cùng các cháu vào trong nhà uống chén trà nóng cho ấm người.” Cụ Đoan mỉm cười nhã nhặn, giọng nói ấm áp, tròn vành rõ chữ.

Bước qua ngưỡng cửa gỗ cao, Tuấn cảm nhận ngay được mùi hương bài thanh khiết quyện cùng hương gỗ mộc lan tỏa khắp căn phòng. Gian nhà rộng chừng hơn hai mươi mét vuông, tường quét vôi vàng sáng sủa, trên vách treo vài bức đại tự viết chữ Hán bay bổng cùng mấy bức tranh thủy mặc phong cảnh Tây Hồ.

Sau khi rót nước trà mạn thơm ngát mời khách, cụ Đoan thong thả đặt chén trà xuống bàn, đưa mắt nhìn quanh một lượt rồi dừng lại ở Cúc và Tuấn “Nghe bà Nhẫn vừa nhắn, các cháu muốn hỏi thuê gian tầng một này để mở hàng ăn có phải không?”

Cúc khẽ cúi đầu, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, giọng nói lễ phép nhưng chân thành “Dạ thưa cụ, đúng là như vậy ạ. Cháu dắt theo con gái nhỏ, cùng anh Tuấn đây vốn buôn bán gánh phở rong ở góc phố Hàng Khoai suốt thời gian qua. Nay chúng cháu muốn tìm một nơi có mái hiên che chắn đàng hoàng để mở tiệm cố định, vừa nuôi cháu nhỏ, vừa giữ gìn nghề gia truyền. Nghe tin cụ có nhã ý cho thuê, chúng cháu mạo muội sang thưa chuyện cùng cụ ạ.”

Cụ Đoan khẽ nhíu mày, ngón tay gõ nhịp nhẹ nhàng lên mặt bàn gỗ trắc “Nói thực lòng với các cháu, gian nhà này vốn là đất hương hỏa của tổ tiên để lại. Mấy năm trước cơ quan xuất bản mượn làm kho chứa sách cũ, họ đi lại nhẹ nhàng, giữ gìn sạch sẽ tôi mới ưng. Nay họ trả lại, sáng giờ cũng có mấy người bên bến xe sang hỏi thuê làm bãi chứa phụ tùng ô tô và quán cơm bình dân, trả giá rất cao nhưng tôi đều từ chối. Hàng ăn uống xô bồ, dầu mỡ nhếch nhác, cãi cọ ầm ĩ nơi góc phố… tôi già rồi, chỉ sợ làm ô uế nếp nhà xưa, lại quấy rầy sự thanh tịnh của tổ tiên.”

Nghe cụ Đoan nói vậy, Cúc khẽ siết chặt vạt áo bông, trong đáy mắt thoáng qua một nỗi âu lo. Nhìn thấy sự bối rối của cô, Tuấn không thể ngồi yên. Anh thẳng người lên, ánh mắt nhìn thẳng vào cụ già đối diện bằng sự chân thành, mực thước của người lính Cụ Hồ “Thưa cụ, nỗi băn khoăn của cụ là hoàn toàn xác đáng. Nhưng xin cụ thứ lỗi cho cháu được thưa thêm một lời. Cháu là lính phục viên chiến trường Vị Xuyên, xuất ngũ mang theo thương tật trở về thủ đô, được mẹ con cô Cúc đây cưu mang, cùng chung lưng đấu cật mưu sinh bằng nghề chân chính. Gánh phở của cô Cúc không phải là thứ quán xá xô bồ chụp giật thời kinh tế mở cửa. Nồi nước dùng của cô ấy nấu bằng xương tủy tinh khiết, hành hoa tươi sạch, gia vị quế hồi nướng cẩn thận, tuyệt đối không vương một giọt hóa chất hay dùng đồ ôi thiu. Bát đĩa lúc nào cũng tráng nước sôi, khách đến ăn đều là người lao động tử tế và các cụ già sành ăn trong phố. Nếu cụ cho phép, chúng cháu cam kết sẽ giữ gìn gian nhà này như chính ngôi nhà của mình, sáng lau chiều quét, giữ trọn sự thanh sạch cho cơ ngơi của cụ.”

Cụ Đoan chăm chú lắng nghe, ánh mắt dừng lại hồi lâu trên gương mặt sạm đen sương gió và dáng ngồi nghiêm cẩn của Tuấn, rồi lại nhìn xuống vết thương còn quấn băng nơi bắp chân anh. Vẻ nghiêm nghị trên gương mặt cụ dần giãn ra, thay vào đó là một ánh nhìn ấm áp, vị tha.

Cụ quay sang nhìn Cúc, khẽ hỏi “Cháu vừa nói là giữ gìn nghề phở gia truyền? Vậy thân sinh ra cháu ngày xưa là ai? Quanh mạn Hàng Khoai, Hàng Chiếu này, những người nấu phở rong thời trước lão già này gần như biết mặt thuộc tên cả.”

Cúc xúc động, hai mắt hoe đỏ, cẩn thận lấy từ trong chiếc túi vải ra cuốn sổ tay cũ kỹ bọc giấy xi măng đã sờn mép “Dạ thưa cụ, cha cháu là cụ Cần ạ. Cụ Cần phở gánh rong chuyên bán cữ sáng sớm ở dốc Hàng Khoai và cổng chợ Đồng Xuân những năm sáu mươi, bảy mươi… Cha cháu đã mất hai năm trước, chỉ để lại cho cháu cuốn sổ tay ghi chép bí quyết chọn xương, ninh nước dùng này thôi ạ.”

Hai chữ “cụ Cần” vừa thốt ra, cụ Đoan bỗng sững người. Bàn tay đang cầm chiếc chén sứ khẽ run lên một nhịp. Cụ vội buông chén, với tay lấy chiếc kính lão đeo vào mắt, run run đón lấy cuốn sổ tay từ tay Cúc.

Lật từng trang giấy ố vàng với những dòng chữ Nho xen lẫn chữ quốc ngữ nắn nót, mực Cửu Long đã ngả màu nâu nhạt, khóe mắt cụ Đoan bỗng ngân ngấn nước. Cụ ngẩng đầu lên nhìn Cúc, giọng run run nghẹn ngào “Trời đất ơi… Hóa ra cháu là con gái của ông Cần! Đúng rồi… thảo nào lúc cháu bước vào, tôi cứ thấy nét mặt, ánh mắt này quen lắm!”

Cụ Đoan thở dài một hơi đầy hoài niệm, ánh mắt xa xăm như nhìn ngược về quá khứ mấy mươi năm trước “Mấy chục năm trước, khi tôi còn dạy học ở trường Bưởi, sáng nào cũng phải ghé gánh phở của cha cháu làm một bát tái nạm. Nước dùng của ông Cần thì không lẫn vào đâu được: trong vắt như nước suối đầu nguồn, béo ngậy mà không ngấy, ngọt lịm từ tận tủy xương bò chứ không hề vương mùi mì chính lừa miệng. Cái mùi thơm thảo quả nướng của gánh phở ông Cần đã nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao thế hệ người phố cổ những năm tháng gian khó ấy. Sau này chiến tranh sơ tán, rồi hòa bình lập lại, nghe tin ông Cần tuổi già sức yếu không gánh hàng đi bán được nữa, tôi cứ tiếc mãi một phong vị kinh kỳ đã thất truyền…”

Cụ Đoan đưa tay vuốt nhẹ lên mái tóc mềm của bé Mây đang ngồi ngoan ngoãn bên cạnh mẹ, nụ cười đôn hậu bừng nở trên khuôn mặt nhăn nheo “Người khác đến hỏi thuê, dẫu có mang vàng cây đến trả tôi cũng dứt khoát xua tay. Nhưng là con gái ông Cần muốn dựng lại hương vị phở của cha, thì mảnh đất này chính là nơi cháu phải thuộc về! Cha cháu ngày xưa sống có nhân có đức, nấu bát phở cho người ăn mà cẩn trọng như một bậc nghệ nhân. Con gái ông ấy nhất định sẽ không làm hoen ố thanh danh của gia đình.”

Cúc mừng rỡ đến trào nước mắt, nghẹn ngào chắp tay: “Cháu… cháu đội ơn cụ! Đội ơn cụ đã thương xót mẹ con cháu!”“Không phải ơn huệ gì đâu cháu,” cụ Đoan xua tay, nét mặt tươi vui rạng rỡ. “Tôi sống một mình trên tầng hai, già cả rồi, sớm tối thui thủi cũng buồn. Nay có mẹ con cháu và cậu thương binh đây về dưới tầng một, sớm hôm bếp lửa ấm cúng, lại được ngửi lại mùi nước dùng phở bò của ông Cần năm xưa, ấy là cái phúc, cái duyên trời định cho lão già này đấy chứ.”

Cụ Đoan ngẫm nghĩ một lát rồi dứt khoát “Mặt bằng này người ta trả tôi ba bốn chục nghìn một tháng, nhưng tôi không cần. Với cháu Cúc, tôi chỉ lấy đúng mười lăm nghìn đồng một tháng, bằng tiền cháu gom góp trả tiền trọ lụp xụp mà thôi. Tôi cho cháu thuê dài hạn ít nhất hai năm, tuyệt đối không tăng giá, cũng không đòi tiền cọc ba tháng như người ta. Cháu cứ dùng gian ngoài kê bàn ghế đón khách, khoảng hiên rộng tha hồ mà bày gánh phở, góc giếng trời phía sau cháu cứ việc xây bệ đặt lò than tổ ong cho kiên cố, vừa tiện ninh xương vừa không sợ mưa gió dập tắt lửa.”

Ngồi bên cạnh, Tuấn nghe từng lời vàng ngọc của cụ Đoan mà lòng trào dâng một niềm xúc động khôn xiết. Mười lăm nghìn đồng một tháng cho một gian nhà mặt phố kiên cố, bề thế thế này quả thực là một món quà vô giá của số phận. Anh nhìn sang Cúc, thấy những giọt nước mắt hạnh phúc đang lăn dài trên đôi gò má gầy guộc của cô. Những chuỗi ngày dài đằng đẵng đội mưa chan nắng, những đêm đông buốt giá gồng gánh trên đôi vai gầy, những nỗi sợ hãi tạt dầu, bỏ độc nơi vỉa hè tăm tối… tất cả từ nay đã có một mái nhà vững chãi che chở.

Bà Nhẫn cười híp mí, đon đả đứng ra làm chứng: “Thế thì quý hóa quá cụ Đoan ơi! Đội ơn cụ rủ lòng thương xót chúng nó. Cháu Cúc mau lấy giấy bút ra, xin cụ thảo cái giấy giao kèo cho đôi bên cùng yên tâm!”

Trong lúc Cúc cùng bà Nhẫn ngồi lại bên bàn để cụ Đoan nắn nót viết giấy cam kết thuê nhà, Tuấn lặng lẽ khép cánh cửa gỗ lim, bước xuống bậc thềm đá.

Anh đứng dưới mái hiên rộng, hít vào một luồng không khí buốt giá nhưng trong lành của buổi ban trưa. Nhìn qua khe cửa sổ, thấy nụ cười rạng rỡ, thanh thản hiếm hoi nở trên môi Cúc khi cô cẩn thận ký tên vào tờ giấy giao kèo, lòng Tuấn dâng lên một quyết tâm sắt đá. Gian nhà này là khởi đầu cho một cuộc đời mới của mẹ con cô, và nhiệm vụ của anh là phải bảo vệ sự bình yên ấy đến cùng, không để bất kỳ bàn tay đen tối nào có cơ hội phá hoại.

Vết thương ở bắp chân lại nhói lên một cơn đau buốt. Tuấn nhìn xuống vết rách đã được xử lý cẩn thận, nhớ lại ánh mắt thù hận của lão Tài và thủ đoạn tàn độc dùng thạch tín đêm qua. Mối nguy hại từ tiệm phở Vạn Lộc và băng nhóm bến bãi vẫn như một bọc mủ ung nhọt rình rập quanh con phố này.

Không thể chần chừ thêm một phút nào nữa. Tuấn kéo cao chiếc khăn len màu ghi xám trên cổ, dằn từng bước chân khập khiễng nhưng dứt khoát, đi thẳng về phía trụ sở Công an phường Hàng Mã cách đó chừng hơn trăm mét.

Trụ sở Công an phường nằm nép mình dưới rặng xà cừ cổ thụ. Không khí bên trong vô cùng khẩn trương. Cánh chiến sĩ công an trẻ tuổi người thì tất bật ghi chép hồ sơ, người thì chuẩn bị trang thiết bị tuần tra. Vừa bước qua cánh cửa gỗ sơn xanh, Tuấn đã thấy chú Đạt – Trưởng Công an phường – đang đứng bên chiếc bàn làm việc ngổn ngang công văn, trên tay cầm một tập hồ sơ dày cộp.

Thấy Tuấn khập khiễng bước vào, một bên chân quấn băng trắng, chú Đạt vội buông tập tài liệu, bước nhanh tới đỡ lấy cánh tay anh “Cậu Tuấn! Chân cẳng bị thương rách sâu như thế, sao không nằm yên ở phòng trọ nghỉ ngơi mà lại đi lại thế này? Có chuyện gì khẩn cấp à?”

Tuấn đứng nghiêm theo tác phong quân ngũ, khẽ lắc đầu “Báo cáo đồng chí Đạt, tôi không sao. Vết thương ngoài da của lính chiến, chưa nhằm nhò gì đâu ạ. Tôi sang đây là để cung cấp thêm một số manh mối và vật chứng quan trọng liên quan đến vụ đột nhập hạ độc đêm qua và hành tung của băng nhóm Hải Búa.”

Ánh mắt chú Đạt lập tức trở nên sắc lạnh, đầy vẻ chú ý. Chú kéo một chiếc ghế gỗ chắc chắn, ấn Tuấn ngồi xuống “Tốt lắm, cậu nói đi. Chúng tôi đang củng cố toàn bộ hồ sơ để báo cáo lên Công an quận.”

Tuấn thò tay vào túi áo trong của chiếc áo trấn thủ cũ, lấy ra chiếc cúc áo bông trần màu xám tro dập hình ngôi sao bị mẻ góc dính sợi chỉ dù xanh bọc cẩn thận trong một mảnh giấy báo, cùng mẩu giẻ đay dính dầu luyn hôm trước đặt lên bàn làm việc của chú Đạt “Báo cáo đồng chí, đây là vật chứng tôi thu thập được tại con rãnh nước phía sau tiệm phở Vạn Lộc ngay sau vụ tạt dầu luyn vào chỗ bán của cô Cúc hôm trước. Chiếc cúc áo này bằng nhựa tổng hợp mậu dịch cũ, sợi chỉ khâu là loại chỉ dù màu xanh của lính lái xe vận tải quân sự chuyển ngành. Đêm qua, khi vật lộn khống chế tên đột nhập Nguyễn Văn Thắng, tôi đã trực tiếp kiểm tra chiếc áo bông của hắn. Vạt áo bên phải của hắn bị đứt mất một chiếc cúc, vết rách và màu chỉ dù xanh trên áo hắn hoàn toàn trùng khớp với vật chứng này.”

Chú Đạt cầm chiếc cúc áo lên, đưa lại gần ngọn đèn bàn soi kỹ, gật đầu đăm chiêu “Chi tiết này vô cùng đắt giá. Sáng nay tên Thắng vẫn một mực quanh co, khai man rằng hắn chỉ là kẻ đói ăn trộm vặt, tiện tay nhặt gói bột chuột bên đường định vào ngõ vứt đi chứ không có thù oán gì với ai. Với vật chứng này, cộng thêm biên bản bắt quả tang đêm qua, hắn hết đường chối cãi hành vi phá hoại có tổ chức, có mưu đồ từ trước.”

Tuấn ghé sát lại, hạ thấp giọng nhưng từng chữ rành rọt, khúc chiết “Chưa hết đâu chú Đạt. Qua theo dõi và đối chiếu từ cánh thợ bốc vác bến Long Biên, tôi nắm được quy luật hoạt động của tên Thắng. Hắn là tài xế lái xe tải đường dài chạy tuyến Lạng Sơn – Hà Nội, nhưng thực chất là tay chân thân tín chuyên vận chuyển hàng lậu và thuốc phiện cho đường dây của Hải Búa. Những đêm trước khi xảy ra các vụ quấy phá, tên Thắng đều lái xe về đỗ ở bãi đất trống gần chân cầu Long Biên, sau đó lẻn vào tiệm phở Vạn Lộc của lão Tài uống rượu từ chập tối đến tận đêm khuya. Tiệm Vạn Lộc chính là nơi lão Tài cung cấp tiền bạc, còn Hải Búa là kẻ vạch kế hoạch chỉ đạo đàn em thực hiện.”

Nghe Tuấn phân tích mạch lạc, sắc sảo với nhãn quan chiến thuật của một người lính trinh sát dạn dày kinh nghiệm, ánh mắt chú Đạt ánh lên sự khâm phục rõ rệt. Chú vỗ mạnh vào vai Tuấn “Khá lắm cậu lính Vị Xuyên! Nhờ những thông tin chuẩn xác và vật chứng này của cậu, nút thắt lớn nhất của vụ án đã được mở toang.”

Chú Đạt đứng dậy, kéo ngăn kéo lấy ra một tờ giấy có đóng dấu đỏ chót của Viện Khoa học Hình sự đặt trước mặt Tuấn “Tôi cũng thông báo luôn để cậu và cô Cúc yên tâm. Trưa nay, kết quả giám định khẩn cấp từ Viện Khoa học Hình sự đã gửi về. Gói bột trắng thu giữ tại hiện trường đêm qua chính xác là thạch tín nguyên chất với nồng độ cực cao. Đây không còn là một vụ gây rối trật tự hay cạnh tranh bẩn thỉu thông thường nữa, mà là tội ác giết người hàng loạt có chủ đích vô cùng man rợ!”

Gương mặt cương trực của vị Trưởng Công an phường đanh lại, giọng nói chứa chan sự phẫn nộ đanh thép “Lão Tài cậy có người quen cũ ở cơ quan này nọ, sáng nay còn dám vác mặt đến đây bóng gió xin bảo lãnh cho tên Thắng, toan biến vụ việc thành va chạm dân sự. Nhưng lão nhầm to rồi! Thời buổi Đổi Mới, luật pháp là tối thượng, không ai được phép đứng trên pháp luật để bức hại dân lành. Lãnh đạo Công an thành phố và Quận ủy đã trực tiếp chỉ đạo: Phải lập chuyên án triệt phá tận gốc toàn bộ băng nhóm bảo kê bến chợ của Hải Búa, đồng thời làm rõ vai trò chủ mưu của lão Tài để truy tố trước vành móng ngựa!”

Chú Đạt bước tới, nắm chặt lấy bàn tay sạm đen, dạn dày của Tuấn, ánh mắt rực lửa tin cậy “Đợt truy quét tội phạm cuối năm đã chính thức mở màn. Lực lượng trinh sát của chúng tôi đã bám sát mọi di biến động của Hải Búa và lão Tài. Chậm nhất là nội trong vài ngày tới, lưới pháp luật sẽ siết lại, trả lại sự bình yên trọn vẹn cho ngõ phố Hàng Khoai. Cậu về chăm sóc chân cho mau lành, cùng cô Cúc chuẩn bị mở quán mới đi. Có công an phường và bà con tiểu thương đứng sau, các cậu không phải sợ bất cứ thế lực đen tối nào hết!”

Lời khẳng định chắc nịch của người chỉ huy công an nhân dân như một luồng gió ấm thổi tan mọi âu lo, căng thẳng dồn nén trong lòng Tuấn suốt những ngày qua. Anh xúc động siết chặt tay chú Đạt, chào theo điều lệnh rồi khập khiễng bước ra khỏi trụ sở.

Trời đã ngả về chiều tà. Ánh hoàng hôn mùa đông vàng vọt rải những vệt nắng muộn màng lên những mái ngói rêu phong của phố cổ Hà Nội. Gió lạnh vẫn thổi hun hút dọc theo các con ngõ nhỏ, nhưng lòng Tuấn lúc này lại phơi phới một niềm vui sướng và thanh thản chưa từng có.

Anh bước nhanh về phía đầu phố Hàng Khoai. Từ xa, Tuấn đã nhìn thấy Cúc đang dắt tay bé Mây đứng đợi anh trước khoảng hiên rộng của căn nhà cổ vừa thuê được. Cúc mặc chiếc áo bông trần cũ kỹ màu nâu sồng, chiếc khăn len quàng cổ buông lơi trên bờ vai gầy, nhưng trên gương mặt thanh tú của cô không còn nét ủ dột, sầu não thường ngày. Đôi mắt bồ câu của cô lấp lánh niềm vui, nụ cười dịu dàng nở trên môi khi thấy bóng dáng anh từ đằng xa bước tới.

“Anh Tuấn! Anh đi đâu thế làm em với u Nhẫn tìm mãi!” Cúc bước nhanh xuống đón anh, giọng trách móc mà đong đầy sự ân cần lo lắng. “Cụ Đoan đã ký giấy giao kèo xong xuôi rồi anh ạ. Cụ còn đưa cả chìa khóa gian nhà cho em giữ nữa này!”

Cúc giơ chùm chìa khóa đồng sáng loáng lên trước mắt Tuấn, tiếng kim loại va vào nhau lách cách nghe vui tai lạ kỳ.

Bé Mây nhảy chân sáo quanh hai người, giơ chú chim gỗ thông lên khoe ríu rít: “Bố Tuấn ơi! Mẹ bảo từ mai con được ngồi chơi ở hiên nhà to này, không sợ mưa ướt áo len nữa rồi!”

Tiếng gọi “Bố Tuấn” ngây thơ, ngọt ngào của đứa trẻ bốn tuổi vang lên giữa chiều đông buốt giá khiến trái tim người lính phục viên bỗng rung lên từng hồi thổn thức. Tuấn cúi xuống, ôm trọn thân hình bé bỏng của bé Mây vào lòng, bàn tay to bè nhẹ nhàng xoa đầu con bé, rồi ngẩng lên nhìn sâu vào đôi mắt Cúc. Trong khoảnh khắc ấy, anh hiểu rằng những năm tháng lưu lạc, những mất mát đau thương nơi chiến hào biên giới cuối cùng đã được đền đáp bằng hơi ấm của một mái ấm gia đình thực sự.

Ba người đứng bên nhau dưới mái hiên kiên cố của ngôi nhà cổ, nhìn dòng người tất bật ngược xuôi chuẩn bị đón Tết. Giữa không gian phố thị đang chuyển mình, một tương lai no ấm, tươi sáng dường như đã ở ngay trước tầm tay.

Nhưng đúng lúc ấy, một linh cảm cảnh giác bất chợt lóe lên trong đầu Tuấn. Anh khẽ nghiêng đầu, đưa ánh mắt sắc lạnh nhìn sang bên kia ngã tư đường.

Dưới bóng gốc bàng già trơ trụi cành lá trước cửa tiệm phở Vạn Lộc vắng tanh, hai bóng người đang đứng nép mình sau cánh cửa sắt hoen gỉ khép hờ. Lão Tài trong chiếc áo khoác bông to sụ, mặt mày xám ngoét vì tức tối, đôi mắt ti hí vằn lên những tia máu độc địa đang trừng trừng nhìn về phía gian nhà cổ của cụ Đoan. Đứng sát bên cạnh lão, Hải “Búa” với cánh tay phải quấn băng trắng treo lủng lẳng trước ngực, bàn tay còn lại nắm chặt một đoạn xích sắt giấu sau lưng, khuôn mặt có vết sẹo dài giật giật liên hồi đầy hung hãn.

Hai cái đầu chụm sát vào nhau, thì thào toan tính những mưu mô tàn độc cuối cùng, ánh mắt như hai con thú hoang bị dồn vào chân tường chực chờ cắn xé.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.