Chương 14: Lời Đồn Nơi Phố Chợ
Cơn gió bấc rít qua từng kẽ lá bàng khô khốc trên nóc phố, tạt thẳng một luồng hơi buốt giá vào khoảng sân gạch. Từng lời cay nghiệt vừa rồi như chiếc búa tạ nện thẳng vào màng nhĩ Cúc. Lồng ngực cô thắt lại, sống mũi cay sè, toàn thân dường như tê dại đi trong chốc lát. Cái cảm giác bị người đời vây quanh dòm ngó, trỏ trỏ từng ngón tay phán xét vốn chẳng hề xa lạ; hai năm ròng rã kể từ ngày chồng mất vì tai nạn sập giàn giáo, cô đã phải cắn răng nuốt bao lời đàm tiếu ác độc về số kiếp “gái sát phu”. Nhưng hôm nay, mũi dao độc địa ấy không chỉ nhắm vào thân phận góa bụa của cô, mà còn rắp tâm bôi nhọ cả hương vị phở thanh tao, cả đạo đức nghề nghiệp mà người cha quá cố đã truyền dạy trọn đời.
Ba người đàn bà quang gánh rau quả vẫn đứng chôn chân ở mép đường nhựa, miệng nhai trầu trệu trạo, ánh mắt săm soi quét từ thùng gỗ đựng bát đĩa sang nồi nước dùng đang phả khói nghi ngút. Tiếng xì xào của họ như đám muỗi vo ve độc hại giữa buổi sớm tinh mơ “Rõ khổ, người ta bảo không có lửa làm sao có khói! Đêm qua dưới bến nứa, mấy bà hàng lòng lợn cũng bảo có gã đi lùng mua cả tạ xương trâu thối với thịt bò ôi ngâm hàn the…”
“Thế thì thất đức quá! Dân lao động chúng mình còng lưng kiếm từng đồng bạc lẻ, ăn phải miếng thịt chết toi thì có mà bỏ mạng!”
Mấy người khách đạp xe ngang qua ngã tư nghe thấy thế cũng giảm tốc độ, ngoái đầu lại chỉ trỏ. Vài bác phu xe xích lô đang định tấp vào thềm quen bỗng khựng chân, ánh mắt hiện lên vẻ dùng dằng, hoang mang rồi lẳng lặng dắt xe đi thẳng sang hướng khác.
Phía bên kia đường, cánh cửa gỗ của quán Vạn Lộc vẫn mở toang. Lão Tài đứng tựa vào bậu cửa, chiếc áo bông cổ lông kéo khóa nửa ngực, hai bàn tay múp míp xỏ sâu trong túi quần. Cặp mắt ti hí của lão híp lại thành hai đường chỉ mảnh, khóe miệng nhếch lên một nụ cười khẩy đầy vẻ đắc thắng. Lão thong thả nhả ra một làn khói thuốc lá Du Lịch khét lẹt, ánh nhìn chằm chằm hướng về phía Cúc như muốn tận mắt chứng kiến gánh hàng của cô sụp đổ tan tành ngay giữa sớm mai.
“Tổ sư bố cái lũ mồm loa mép giải, ăn ốc nói mò!”
Một tiếng chửi đổng đanh gọn vang lên phá tan bầu không khí ngột ngạt. Bà Nhẫn từ trong quán nước bước vội ra, chiếc váy đũi đen quét sột soạt trên nền gạch. Bà nhổ toẹt bã trầu vào mép rãnh nước, hai tay chống nách, đôi mắt vốn hiền từ giờ quắc lên giận dữ “Mấy con mụ kia ở hợp tác xã rau nào trôi dạt về đây mà dám đứng trước cửa nhà bà đặt điều vu khống hả? Con Cúc nó bán phở có danh có tiếng, con nhà cụ Cần nức tiếng phố cổ này mấy chục năm nay! Thịt thà nó lấy tận lò mổ chuẩn chỉ từng miếng, xương ninh trắng phau ngọt tủy, đứa nào bảo nó dùng thịt chết dịch thì chìa cái mồm ra đây đối chất với bà!”
Ba người phụ nữ buôn rau thoáng giật mình trước cái uy của bà hàng nước già đất Hàng Khoai, nhưng vẫn bĩu môi lẩm bẩm “Bác Nhẫn việc gì phải bênh chằm chặp thế. Thiên hạ đồn ầm lên từ chợ Đồng Xuân xuống tận bến Phà Đen chứ riêng gì chúng tôi đâu!”
Cúc hít một hơi thật sâu. Khí lạnh buốt giá tràn vào buồng phổi khiến đầu óc cô bừng tỉnh, dẹp tan cơn hoang mang ban đầu. Bàn chân phải trẹo khớp vẫn còn nhức âm ỉ dưới lớp băng vải, nhưng cô cố đứng thẳng lưng, bàn tay nắm chặt vạt áo bông dần thả lỏng. Sự uất ức vẫn cuộn trào nơi đáy mắt, song lời dặn dò của cha năm xưa bỗng hiện về vẹn nguyên trong tâm trí: “Người làm nghề ăn uống ở đất Tràng An này, muốn đứng vững thì không thể dùng cái miệng để cãi vã với miệng đời. Muốn người ta tin, phải để miếng thịt, ngụm nước dùng tự cất lên tiếng nói.”
Một bóng người cao lớn khẽ bước lên chắn ngang làn gió bấc trước mặt Cúc. Tuấn khập khiễng bước ra mép vỉa hè, đôi vai rộng vững chãi che khuất ánh nhìn giễu cợt từ phía đối diện. Anh không hề to tiếng quát tháo, đôi mắt sâu thẳm chỉ lặng lẽ nhìn xoáy vào mấy người buôn chuyến đang tò mò xúm lại, rồi quay sang nhìn Cúc. Ánh mắt kiên định, ấm áp và đượm vẻ tin cậy tuyệt đối của người đàn ông từng đi qua mưa bom bão đạn như một điểm tựa vô hình truyền cho cô thêm sức mạnh.
“Cô Cúc,” Tuấn khẽ nói, giọng trầm ấm mà dứt khoát. “Vàng thật không sợ lửa. Cứ mở nồi nước, mở tủ thịt ra cho bà con trông thấy.”
“Vâng, anh Tuấn.” Cúc khẽ gật đầu, sự run rẩy nơi đầu ngón tay biến mất hoàn toàn.
Thay vì phân bua hay đôi co với đám đông bắt đầu hiếu kỳ dừng lại xem, Cúc bình tĩnh quay vào gian hàng nhỏ. Cô nhẹ nhàng cúi xuống bế bé Mây, đặt con bé ngồi ngay ngắn trên chiếc chõng tre bên cạnh ấm nước chè xanh của bà Nhẫn. Bé Mây ngoan ngoãn ôm chú chim sẻ gỗ thông vào lòng, đôi mắt to tròn ngơ ngác nhìn mẹ nhưng không hề quấy khóc.
Cúc bước lại gần chiếc thùng gỗ đựng đồ nghề. Cô lật tấm lá chuối tây xanh mướt, tươi rói còn đọng những giọt sương mai bọc bên ngoài tảng thịt bắp hoa bò tơ mà cô vừa đích thân đạp xe chở về từ lò mổ ven bãi sông Hồng lúc rạng sáng.
Tảng thịt bắp hoa hiện ra đỏ au rực rỡ dưới làn sương sớm của phố cổ. Từng thớ thịt săn chắc, đường gân hoa trắng trong vắt như thạch chạy len lỏi tự nhiên giữa màu đỏ tươi roi rói của thịt sống vừa mới xẻ khỏi thân bò chưa đầy hai tiếng đồng hồ. Mặt thịt khô ráo, đàn hồi tuyệt đối, không hề có một giọt nước nhớt hay vệt tái xám nào của thứ thịt ôi ngâm hóa chất.
Cúc cầm lấy con dao thép nhíp bản mỏng – kỷ vật vô giá của cha để lại. Lưỡi dao được mài sắc ngọt, sáng loáng phản chiếu ánh than hồng bập bùng từ đáy lò. Cô đặt tảng bắp hoa lên mặt thớt gỗ nghiến phẳng phiu, hít một hơi thật êm rồi hạ dao.
“Roẹt… roẹt…”
Từng nhát dao đưa đi dứt khoát, chuẩn xác đến từng milimet. Dưới đôi bàn tay khéo léo của người con gái họ Nguyễn, từng lát thịt bắp hoa mỏng tang như cánh ve, rải đều tăm tắp trên mặt đĩa men sứ trắng. Những thớ thịt dẻo quánh bám chặt lấy sống dao, tỏa ra một làn hơi ấm nhẹ cùng mùi thơm thanh khiết đặc trưng của thịt bò tơ tươi mới.
“Bà con cô bác ghé qua xem giùm cháu!” Cúc cất cao giọng, âm lượng vừa đủ nghe nhưng trong trẻo, đàng hoàng và đanh thép lạ thường. Cô nâng chiếc đĩa men bày những lát bắp hoa mỏng dính ra phía trước ánh sáng ban ngày. “Thịt bò chết toi, bò bệnh rớt giá ở đâu cháu không biết, chứ thịt của gánh phở Thu Cúc này là thịt bắp hoa tươi tận lò bãi sông, do chính tay bác Ba Râu xẻ từ sáng sớm! Các bác nhìn kỹ thớ thịt xem, nếu có chỗ nào ôi thiu, dập nát hay bốc mùi lạ, cháu xin đập tan cả đôi gánh phở này, từ nay không bao giờ bước chân ra chợ Hàng Khoai nữa!”
Đám đông người đi chợ, khách qua đường tò mò xúm lại gần hơn. Vài người buôn chuyến rướn cổ nhìn vào đĩa thịt, nét mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên. Màu đỏ tươi tắn, độ bám dính tự nhiên của miếng thịt tươi là thứ không một mánh lới hay hóa chất nào có thể làm giả được trước con mắt tinh đời của người dân phố thị.
Không dừng lại ở đó, Cúc bước tới bên chiếc lò than. Tuấn đã nhanh nhẹn dùng thanh sắt móc nghiêng chiếc nắp tôn dày dặn sang một bên.
Khoảnh khắc nắp vung vừa mở ra, một làn khói trắng cuồn cuộn bốc lên trời cao, mang theo luồng hương thơm nồng nàn, sâu thẳm phủ kín cả một đoạn phố Hàng Khoai. Đó là mùi thơm béo ngậy mà tinh khiết của tủy xương bò ninh ròng rã mười bốn tiếng đồng hồ, quyện chặt cùng vị cay ngọt ấm áp của quế chi, hoa hồi nướng cháy cạnh, chút hăng nồng của gừng già đập dập và vị ngọt đượm hậu của sá sùng khô rang vàng. Mặt nước dùng trong vắt như hổ phách, chỉ lăn tăn vài chấm mỡ gà vàng óng ánh tự nhiên, tuyệt đối không hề có váng bọt đục ngầu hay mùi hôi gây khó chịu của xương trâu phế phẩm.
Hương thơm ấy như một làn gió ấm xua tan cái lạnh cắt da của buổi sáng, đánh thức khứu giác của tất cả những ai đang đứng quanh ngã tư. Mấy người phụ nữ buôn rau vừa nãy còn to tiếng, giờ đây đứng chết trân, cổ họng bất giác nuốt nước bọt ừng ực.
Đúng lúc đó, từ đầu dốc dẫn lên đê ga Long Biên, tiếng bước chân thình thịch cùng tiếng bánh xe bò lọc cọc dội lại. Bác Thược – người phu xe ngoài năm mươi tuổi với tấm lưng áo nâu sờn đẫm sương đêm, cùng ba bác thợ bốc vác khỏe mạnh khác vừa xong ca dỡ hàng hoa quả, mồ hôi còn bốc khói trên trán, đang rảo bước đi tới.
“Gớm chết! Chưa tới ngõ đã ngửi thấy mùi phở thơm lừng thế này rồi!” Bác Thược cất giọng khàn đặc nhưng sang sảng, vỗ mạnh chiếc đòn cản xe kéo xuống nền đường nhựa đánh rầm một tiếng. Vừa nhìn thấy đám đông đứng vây quanh bàn tán chỉ trỏ, bác liền cau mày: “Có chuyện gì mà xúm đông xúm đỏ chắn hết cả lối đi thế này hả các bà?”
Bà Nhẫn lập tức hậm hực kể lại: “Đấy, bác Thược xem! Mấy con mụ rỗi việc đi phao tin đồn nhảm từ đâu về, bảo con Cúc bán phở thịt chết dịch giá rẻ để hại người!”
“Mẹ bố quân đặt điều xằng bậy!” Bác Thược trợn tròn mắt, quắc thước trừng nhìn mấy người buôn rau khiến họ giật thót lùi lại nửa bước. Bác phu già bước thẳng tới chiếc ghế gỗ dài đặt sát bờ tường rêu, ngồi thụp xuống đánh cạch, quệt mồ hôi trán rồi lớn tiếng quát “Tao ăn phở của cụ Cần từ cái thuở cái phố này còn tàu điện leng keng! Đến đời cháu Cúc đây, sáng nào xong ca khuân chuối tao chả làm một bát đầy tú hụ! Nước dùng của nó tao húp đến giọt cuối cùng, bụng dạ êm ru, người khỏe như vâm để đi cày tiếp. Đứa nào bảo thịt ôi? Thịt ôi mà thơm điếc mũi cả góc phố thế này à? Rõ đồ tiểu nhân ghen ăn tức ở, thấy con cháu người ta tần tảo buôn may bán đắt thì giở trò đâm bị thóc chọc bị gạo!”
Bác Thược quay ngoắt sang nhìn thẳng về phía tiệm Vạn Lộc bên kia đường, không thèm kiêng nể mà nhổ một bãi nước bọt: “Mấy cái ngữ bán bát phở mậu dịch nhạt toẹt toàn mùi mì chính với nước lã, thịt thì dai ngoách như giẻ lau mà chém người ta giá cắt cổ, thấy người ta đông khách là rắp tâm giở trò bẩn thỉu! Cả cái chợ này ai chả biết bụng dạ đứa nào thối tha!”
Bị bác phu xe bốc vác nói trúng tim đen trước bàn dân thiên hạ, nụ cười khẩy trên mặt lão Tài bỗng chốc cứng đờ. Đôi mắt ti hí của lão lóe lên tia nhìn độc địa, mặt lão đỏ gay vì giận dữ và bẽ bàng. Lão gắt gỏng vứt mẩu thuốc lá xuống chân, dậm mạnh giày da rồi quay ngoắt người đi vào trong nhà, kéo sập một cánh cửa gỗ lại phát ra tiếng “rầm” chát chúa.
Giữa lúc đó, hai bóng người nho nhã từ phía bốt nước Hàng Đậu thong thả tản bộ đi tới. Đó là cụ Khiêm – một nhà giáo về hưu sống ở phố Hàng Than, dáng người quắc thước, mặc chiếc áo bađờxuy dạ màu tro và đội mũ nồi đen, đi cùng một người bạn cờ cao niên. Cụ Khiêm là người sành ăn nổi tiếng chốn Hà thành, sáng nào đi bộ thể dục qua đây cũng phải ghé ngửi hương phở rồi mới về.Nghe thấy lời qua tiếng lại, cụ Khiêm dừng chân, khẽ đẩy gọng kính lão nhìn vào đôi thùng phở của Cúc. Cụ hít một hơi thật sâu làn khói phở đang tỏa ra nghi ngút, đôi mắt nheo lại vẻ thưởng thức rồi bước tới thềm gạch “Cô Cúc này, cho tôi với ông bạn đây hai bát tái chín nhé. Nhớ lấy cho tôi miếng gầu giòn, nhiều hành hoa cọng dài.”
Cúc mừng rỡ, sự xúc động trào dâng nghẹn ngào nơi cuống họng: “Dạ, thưa cụ, cụ và bác ngồi tạm vào bàn trong cho đỡ gió bấc ạ. Cháu làm ngay đây!”
Cụ Khiêm quay lại nhìn đám đông vẫn còn đang dùng dằng quanh vỉa hè, ôn tồn cất giọng trầm ấm của người trí thức phố cổ “Thưa bà con, tôi ăn phở ở cái đất Hà Nội này ngót nghét sáu mươi năm có lẻ, từ gánh phở rong thời thuộc Pháp cho tới phở hợp tác xã bao cấp. Cái vị ngọt của nước hầm xương tủy bò tươi quyện sá sùng và quế hồi nó thanh dịu, đọng lại nơi cuống họng sâu sắc lắm, không lẫn vào đâu được. Thịt bò ôi thiu hay xương thối dẫu có tống hàng cân mì chính, đổ cả lít hương liệu hóa chất vào cũng không bao giờ giấu nổi cái mùi tanh lợm và vị chát nơi đầu lưỡi. Nước dùng của cô Cúc trong vắt thế kia, mỡ gà óng ánh mỏng tang, đó là cái tâm thanh sạch của người nấu. Mọi người đừng vì ba tấc lưỡi của kẻ xấu mà làm tổn thương người làm ăn lương thiện.”
Lời nói nhẹ nhàng nhưng đầy sức nặng và uy tín của cụ Khiêm như đòn quyết định đập tan hoàn toàn những mầm mống nghi kỵ cuối cùng. Mấy người phụ nữ buôn rau ngoại thành tẽn tò, mặt đỏ bừng, vội vàng xốc lại đôi quang gánh rồi cắm cúi rảo bước đi thẳng về phía cổng chợ Đồng Xuân, không dám ngoái đầu lại lấy một lần.
Đám đông người qua đường thở phào, sự ngần ngại ban nãy biến thành niềm háo hức trước nồi nước dùng ngào ngạt khói thơm giữa buổi sớm lạnh căm căm.
“Cô Cúc ơi, cho tôi một bát tái gầu nhiều ớt nhé!”
“Cho tôi bát chín nạm, chần cho tôi thêm đầu hành!”
“Để tôi một bát đầy đặn ăn cho ấm bụng còn kịp chuyến xe hàng!”
Tiếng gọi phở rộn rã cất lên từ khắp góc phố. Những chiếc ghế gỗ con kê sát bờ tường rêu phong loang lổ nhanh chóng chật kín chỗ ngồi.
Lòng Cúc nhẹ nhõm như vừa trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng. Đôi mắt bồ câu của cô ánh lên những tia sáng lấp lánh, khóe môi nở một nụ cười dịu dàng, rạng rỡ. Cô xắn cao tay áo bông, bàn tay thoăn thoắt nhặt từng vắt bánh phở trắng muốt, mềm mại thả vào chiếc muôi thủng sâu lòng, nhúng ngập vào nồi nước sôi sùng sục để chần qua cho thật nóng và ráo nước.
Bánh phở nóng hổi được đổ gọn gàng vào lòng chiếc bát sứ men lam Hải Dương vẽ hoa chanh tinh tế. Cúc đặt lên trên những lát thịt nạm chín nâu vàng viền mỡ giòn rụm, xếp thêm một nhúm thịt bắp hoa thái mỏng tang đỏ hồng, rắc đều một lớp hành hoa cọng xanh mướt cùng mùi tàu thái chỉ li ti.
Tuấn khẽ nghiêng người, nâng chiếc muôi đồng sáng bóng múc từng muôi nước dùng sôi sùng sục trên miệng lò trao cho Cúc. Cúc đón lấy chiếc muôi, lượn đều tay chan dòng nước dùng trong vắt, nóng rẫy phủ ngập mặt bát. Hơi nóng lập tức làm những thớ thịt bắp hoa mỏng chuyển dần sang màu hồng phấn chín tới, ngọt mềm mọng nước, mỡ gầu săn lại giòn sần sật, mùi thơm ngào ngạt của hành hoa bốc lên nghi ngút làm say lòng người.
“Bát của bác Thược xong rồi đây ạ!” Cúc tươi cười trao bát phở đầy ắp sang cho Tuấn.
Tuấn đón lấy bát phở nóng hôi hổi bằng đôi bàn tay chai sần vững chãi, bước từng bước cẩn trọng, khập khiễng nhưng không hề sánh ra ngoài một giọt nước dùng nào, đặt ngay ngắn trước mặt bác phu già cùng đĩa quẩy giòn và âu ớt ngâm hoa hồi.
Bác Thược húp ngay một thìa nước dùng đầu tiên, đôi mắt nhắm nghiền lại vì khoan khoái, rồi khà lên một tiếng thật to “Trời đất ơi, ngọt lịm từ trong ruột gan! Cứ thế này thì gánh cả ngày không biết mệt!”
Tiếng húp nước dùng xì xụp, tiếng đũa tre va lách cách vào thành bát men sứ hòa cùng tiếng cười nói rôm rả xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt giá của mùa đông năm 1989. Bên cạnh đó, cụ Khiêm và người bạn già nhẩn nha thưởng thức từng sợi phở, thỉnh thoảng lại gật gù khen ngợi hương vị thanh tao đậm chất cổ truyền.
Khách kéo đến mỗi lúc một đông. Những người đạp xe đi làm sớm, cánh lái xe tải đường dài, dân buôn chuyến từ ga Long Biên đổ về chen chúc nhau quanh chõng tre của bà Nhẫn. Ai nấy đều muốn thưởng thức bát phở bò nóng hổi thơm nức, vừa để sưởi ấm cơ thể vừa để tận mắt chứng kiến tay nghề xuất sắc của người mẹ trẻ vừa bị kẻ xấu đặt điều vu khống.
Tuấn làm việc không ngơi tay. Anh thoăn thoắt bưng bê từng bát phở, nhanh nhẹn lau dọn mặt bàn gỗ, rồi lại khập khiễng xách từng xô nước nóng ra góc sân phụ bà Nhẫn tráng bát đĩa bằng nước sôi sạch bóng. Chiếc áo ấm sờn vai của anh ướt đẫm mồ hôi bên lưng áo, nhưng ánh mắt anh luôn ngập tràn sự che chở và ánh lên niềm vui âm thầm mỗi khi nhìn sang Cúc.
Ở phía đối diện ngã tư, tiệm phở Vạn Lộc rơi vào cảnh vắng tanh. Vài vị khách ngập ngừng trước cửa tiệm nhưng thấy cảnh đìu hiu và nghe tiếng gắt gỏng bên trong liền quay xe sang gánh của Cúc. Sau ô cửa kính mờ bụi, bóng lão Tài thoắt ẩn thoắt hiện sau tấm rèm, đôi mắt ti hí vẫn căm hờn dõi sang gánh phở đang tấp nập khách.
Đến hơn tám giờ ba mươi phút sáng, mẻ thịt bò hơn sáu cân cùng hai thúng bánh phở đầy ắp của Cúc đã bán hết sạch veo. Nồi nước dùng chỉ còn trơ lại lớp xương ống đã tiết hết tinh chất ngọt ngào.
Bà Nhẫn cười tươi rói, răng đen nhánh lấp lánh nụ cười phúc hậu, vừa gom từng tờ tiền giấy bạc lẻ một nghìn, năm trăm đồng vuốt phẳng phiu bỏ vào hộp sắt bánh quy giúp Cúc, vừa đon đả nói “Đấy, thấy chưa con! Người ngay thẳng thì trời thương, cây ngay chẳng sợ chết đứng! Lũ tiểu nhân kia tưởng tung vài câu bịa đặt mà bẻ gãy được cái nghiệp gia truyền nhà này à? Còn khuya nhé!”
Cúc lau vội vệt mồ hôi đọng trên trán, đưa tay xoa nhẹ lên mái tóc mềm của bé Mây đang ríu rít ăn mẩu quẩy giòn. Nhìn khoảng sân gạch tinh tươm và chiếc nồi tôn sạch bóng, lòng cô dâng lên một niềm biết ơn vô hạn đối với bà con lối xóm, với bác Thược, cụ Khiêm, và đặc biệt là người đàn ông đang cặm cụi thu dọn bếp than cạnh chân tường.
Tuấn vừa khiêng nốt chiếc thùng gỗ cất vào góc hiên, bỗng bước chân anh khẽ sượng lại. Vết thương do mảnh đạn cối ở bắp chân phải sau cả buổi sáng vận động liên tục dường như lại nhói buốt, khiến vầng trán anh lấm tấm mồ hôi lạnh. Nhưng khi bắt gặp ánh mắt đầy vẻ âu yếm và lo lắng của Cúc đang nhìn mình, Tuấn liền mỉm cười, lắc đầu ra hiệu anh không sao, rồi lẳng lặng cúi xuống bê chậu bát men sạch sẽ xếp vào thùng.
Buổi chiều mùa đông hôm ấy trôi qua trong sự êm ả hiếm hoi. Sau khi dọn dẹp hàng quán tinh tươm và đưa bé Mây về ngõ trọ ngủ trưa, Cúc dành cả buổi chiều ngồi bên khung cửa sổ nhỏ khâu lại chỗ gấu áo bị sờn chỉ cho Tuấn và trông chừng nồi nước dùng mới cho ngày mai. Lửa than hồng cháy đều, hương quế hồi lại len lỏi sưởi ấm căn phòng nhỏ.
Khi hoàng hôn dần buông xuống, bầu trời phố cổ chuyển sang màu xám xịt ảm đạm. Gió mùa đông bắc lại tăng cường, từng đợt gió rít qua những tán xà cừ cổ thụ trút lá rào rào xuống lòng đường Hàng Khoai. Đèn đường phố cổ nhập nhoạng bật sáng, tỏa ra những vệt sáng lờ nhờ xuyên qua màn sương mù đặc quánh đang dâng lên từ phía bờ đê sông Hồng.
Khoảng sáu giờ tối, khi phố xá bắt đầu thưa thớt người qua lại vì giá rét, Cúc khoác thêm chiếc áo bông sờn bước ra đầu ngõ để gửi trả bà Nhẫn chiếc xô nhôm mượn lúc trưa. Cửa hàng quán nước của bà Nhẫn đã đóng then cài chốt cẩn thận, chỉ còn chõng tre b*n n**c được xếp gọn gàng nép sát dưới mái hiên gạch rêu phong.
Đang định quay gót trở vào ngõ trọ, Cúc bỗng khựng lại khi nhận thấy một điều bất thường.
Dưới ánh đèn đường le lói hắt qua tán bàng rụng lá, một bóng đen cao gầy trùm kín chiếc áo mưa cánh dơi màu xám chuột đang lén lút lảng vảng quanh khoảng hiên quán nước bà Nhẫn. Gã đàn ông kéo sụp vành mũ áo mưa che kín nửa khuôn mặt, bước chân dấm dúa, liên tục đảo mắt nhìn quanh quất bốn phía của ngã tư vắng vẻ.
Trên tay phải gã xách theo một chiếc can nhựa màu đen loại mười lít nặng trĩu. Khi gã lách người qua góc tường sát nơi Cúc vẫn thường kê đôi thùng phở mỗi sớm mai, một luồng gió bấc thốc tới, mang theo một mùi hôi nồng nặc, khét lẹt và hăng hắc xộc thẳng vào mũi Cúc. Đó là mùi dầu luyn thải đen ngòm, thứ dầu cặn bẩn thỉu chuyên dùng cho máy móc hạng nặng.
Bóng đen dừng lại trước khoảng vỉa hè gạch sạch sẽ, bàn tay gã từ từ vặn nắp chiếc can nhựa đen, ánh mắt lóe lên vẻ hung hiểm và tàn độc giữa bóng đêm mịt mùng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
