Chương 26: Dựng Lại Bếp Hồng
Tuấn đặt xô vôi ve xuống thềm gạch Bát Tràng, đưa mu bàn tay áo quẹt vệt mồ hôi rịn nơi thái dương. Trước mắt anh, đôi mắt Cúc long lanh như có ngọn lửa nhỏ đang nhảy nhót. Cô đứng lặng nhìn màu vôi vàng mơ sóng sánh, bờ môi khẽ mấp máy mà không thốt nên lời trọn vẹn, chỉ có bàn tay đang ôm vạt áo là siết chặt lại vì xúc động.
Tuấn khẽ cười, giọng trầm ấm “Khuya rồi, gió bấc bắt đầu thổi rát mặt đấy. Em dắt bé Mây về xóm trọ ngủ sớm đi để mai lấy sức. Đồ đạc thợ nề với gỗ ván anh xếp gọn vào góc giếng trời rồi cài then cửa cẩn thận. Sáng mai gà gáy canh năm là mấy anh em cựu chiến binh bên Yên Phụ sang tới nơi đấy.”
Cúc ngước nhìn anh, đôi gò má ửng hồng dưới ánh hoàng hôn muộn “Anh vừa gắp mảnh đạn cối ở bắp chân ra chưa được bao lâu, đừng cố bưng bê vật nặng quá nhé. Em sang bên u Nhẫn xin ít lá ngải cứu sao muối chườm cho anh rồi mới an tâm chợp mắt được.”
Nhìn dáng hình mảnh mai của cô dắt con gái nhỏ bước qua ngõ Hàng Khoai nhập nhoạng bóng chiều, trong lồng ngực Tuấn trào dâng một cảm giác che chở bình yên đến kỳ lạ. Đêm ấy, nằm trong gian chái cũ lợp mái fibro xi măng, tiếng gió rít qua rặng xà cừ không còn khiến anh giật mình nhớ về những đêm phục kích buốt giá trên sườn đồi Yên Ngựa nữa. Vết sẹo dài nơi bắp chân phải sau ca phẫu thuật đã se miệng, chỉ còn hơi ram ráp chứ không còn những cơn giật buốt tận tủy xương mỗi khi trở trời rét mướt.
Chuông nhà thờ Cửa Bắc vừa thong thả điểm năm tiếng ngân dài qua màn sương sớm buốt lạnh, tiếng còi tầm từ Nhà máy Dệt 83 cũng rúc lên từng hồi giục giã tan vào không gian tĩnh mịch của phố cổ.
Tuấn đã thức dậy từ lúc bốn giờ sáng. Anh xách xô nước mưa rửa mặt cho tỉnh táo, khoác lên mình chiếc áo trấn thủ chần bông lót dạ may bằng vải Tô Châu màu cỏ úa mà Cúc vừa tặng hôm trước. Lớp bông trắng tinh Cúc tỉ mỉ chần từng đường kim mũi chỉ ôm khít lấy lồng ngực, giữ ấm trọn vẹn từng thớ thịt giữa cữ rét ngọt cắt da cắt thịt của tháng Chạp năm 1989.
Anh bước sang gian nhà cổ mở toang hai cánh cửa lim nặng trịch. Không khí ẩm mốc của ngôi nhà đóng kín bấy lâu lập tức bị gió đông thổi bạt đi. Tuấn nhóm một bếp mùn cưa nhỏ ở góc sân giếng trời, bắc ấm nhôm đun sôi một gầu nước mưa rồi hãm một ấm chè tươi bốc khói nghi ngút, thả vào vài lát gừng già đập dập thơm lừng.
Từ đầu dốc Hàng Khoai, tiếng xích líp xe đạp Thống Nhất kêu lách cách cùng tiếng cười nói rổn rảng, quen thuộc vang lên phá vỡ sự im ắng của con phố.
“Tuấn ơi! Thằng trinh sát Vị Xuyên còn ngủ nướng đấy không?”
Một giọng nói sang sảng cất lên. Tuấn vội bước ra bậu cửa. Dưới bóng cây bàng cổ thụ trơ trụi lá, ba bóng người cao lớn đẩy ba chiếc xe đạp thồ đang rảo bước về phía anh.
Đi đầu là anh Lâm, nguyên tổ trưởng tổ công binh kiêm thợ mộc có tiếng ở bãi cát Yên Phụ. Anh Lâm trạc ngoài ba mươi, người đậm như một khúc gỗ nghiến, vai đeo một bọc vải bạt nhà binh đựng đủ loại cưa tay, bào gỗ, đục bạt và thước góc. Theo sau là anh Phong, lính thông tin trinh sát quê bên Gia Lâm, trên gá hàng chiếc xe Phượng Hoàng chằng chặt hai bó ván gỗ thông pallet xẻ dày dặn và mấy tấm gỗ mít bìa vàng ươm. Người cuối cùng là anh Tiến, cựu binh trung đội hỏa lực, sau xe chở lủng lẳng thùng đinh mười, hai chiếc bàn xoa thợ nề, thước tầm vông và mấy bó đót bện chổi quét vôi.
“Anh Lâm! Anh Phong! Cả chú Tiến nữa!” Tuấn reo lên, bước nhanh xuống ba bậc thềm đá. Đôi chân anh đã bước đi thăng bằng, vững chãi, không còn vẻ tập tễnh nặng nề của những ngày mang mảnh đạn cối rỉ sét năm xưa.
Anh Lâm dựng chân chống xe cái cạch, quẳng bao đồ nghề xuống thềm rồi lao tới ôm ghì lấy Tuấn, bàn tay to bản vỗ bôm bốp vào lưng anh “Thằng giặc này! Hôm nghe tin chú Đạt công an phường báo mày dính đòn bẩn của lũ lưu manh chợ búa, phải vào viện quân y khoét thịt gắp đạn cối, bọn tao ruột gan như lửa đốt. Sang thăm thì bác sĩ bảo mày xuất viện về lo mở quán rồi. Chân cẳng thế nào rồi, đi đứng ngon lành chưa?”
Tuấn cười tươi, dộng mạnh gót chân phải xuống nền gạch Bát Tràng “Báo cáo tổ trưởng, mảnh đạn cối tám hai ly gắp ra sạch bong rồi! Giờ em đi lại nhẹ nhõm như hồi còn leo dốc đồi Yên Ngựa, không còn buốt nhức tí nào nữa.”
Anh Phong gạt chống xe, tháo đôi găng tay len hở ngón ra cười “Thế là phúc tổ bảy đời rồi chú mày ạ. Nghe tin mày gom được vốn, lại được cụ giáo Đoan tin tưởng giao cho gian nhà cổ mặt phố này để gây dựng cơ nghiệp cùng cô hàng phở nức tiếng, tiểu đội mình bên kia cầu Đuống với Yên Phụ ai nấy đều mừng rơi nước mắt. Mấy khối gỗ thông này tao sang tận kho mộc bến phà bốc về, gỗ xẻ sấy khô cong, thớ dày chắc nịch, đóng bàn ghế bán phở thì cứ gọi là chắc như pháo đài!”
Đúng lúc ấy, tiếng bước chân rón rén vang lên sau lưng. Cúc dắt tay bé Mây bước sang, trên tay cô là một chiếc làn nhựa đựng chục chiếc bánh rán mật còn nóng hổi mua từ đầu chợ Đồng Xuân và một âu men sứ đựng kẹo lạc u Nhẫn gửi biếu. Bé Mây mặc chiếc áo len đỏ quen thuộc, đôi mắt đen láy mở to nhìn những người lính lạ mặt vừa quen vừa kính cẩn.
“Kìa, em chào các anh ạ,” Cúc bẽn lẽn cúi đầu, nụ cười dịu dàng làm bừng sáng cả khoảng hiên mờ sương. “Sớm thế này mà các anh đã lặn lội đường xa sang giúp nhà em, em đội ơn các anh nhiều lắm.”
Tuấn bước lại gần, âu yếm xoa đầu bé Mây “Đây là Cúc, người đã cưu mang và đồng hành cùng em suốt thời gian qua. Còn đây là bé Mây, con gái của chúng em. Mây ngoan, khoanh tay chào các bác bộ đội đi con.”
Bé Mây ngoan ngoãn khoanh hai tay trước ngực, giọng líu lo như chim non “Cháu chào bác Lâm, bác Phong, bác Tiến ạ!”
Mấy người đàn ông phong sương nơi chiến trường bỗng chốc mềm lòng. Anh Lâm khom lưng bế bổng bé Mây lên không trung rồi đặt xuống, cười vang “Khéo quá, con bé ngoan và giống mẹ như đúc! Chú Tuấn mày tìm được bến đỗ thế này thì anh em tao nhắm mắt cũng yên lòng với thằng Kiên nơi chín suối. Thôi, uống vội chén nước chè gừng cho ấm bụng rồi bắt tay vào việc ngay kẻo nắng lên, việc hôm nay nhiều như công sự đấy!”
Công việc cải tạo gian nhà cổ diễn ra khẩn trương và nhịp nhàng như một buổi triển khai công sự thời chiến.
Tuấn cùng anh Tiến phụ trách việc làm mới những bức vách gạch. Căn nhà cổ của cụ Đoan xây bằng gạch ban dày dặn, trải qua hàng chục năm rêu phong và khói bếp của thời gian bao cấp khiến các mảng vách bám đầy bụi than và ố mốc. Tuấn cầm chiếc cạo sắt cẩn thận cạo sạch từng lớp rêu phong bám quanh chân tường. Anh hòa thêm một vốc muối hạt to cùng chút phèn chua vào xô vôi ve màu vàng mơ theo kinh nghiệm thợ nề phố cổ.
“Cho thêm muối hạt vào thế này, vôi ve khi khô sẽ đanh mặt lại, bám chặt vào vách gạch không bao giờ bị bong tróc phấn vôi ra áo khách ăn phở, em nhỉ?” Tuấn quay sang bảo Cúc.
“Vâng, cha em ngày xưa quét vách ăn Tết cũng dặn y như thế đấy anh,” Cúc đứng bên cạnh múc nước sạch tiếp ứng, mắt ánh lên niềm khâm phục.
Anh Tiến thoăn thoắt nhúng cây chổi đót bện chặt vào thùng vôi ve vàng mơ sóng sánh, vung tay quét những đường chéo đều tăm tắp lên vách cao. Tuấn cầm bàn xoa và chổi nhỏ tỉ mỉ quét ở tầm thấp và các góc cột lim. Lớp vôi vàng mơ mịn màng, ấm sực dần dần phủ kín những mảng tường cũ kỹ xám xịt.
Mùi vôi sống nồng nồng ngai ngái hòa quyện với mùi sương sớm bốc lên tạo nên một bầu không khí rộn rã của ngày giáp Tết. Sắc vàng mơ—màu sắc đặc trưng, nền nã của những ngôi nhà phố cổ Hà Nội—như hút trọn lấy những tia nắng non đầu tiên của buổi sáng mùa đông, biến gian phòng rộng hơn hai mươi mét vuông bừng sáng lên một sinh khí mới mẻ, ấm cúng và khoáng đạt.
Trong khi đó, ở khoảng sân giếng trời lộng gió, tiếng cưa xẻ gỗ của anh Lâm và anh Phong vang lên rin rít, nhịp nhàng. Mùi mùn cưa gỗ thông ngai ngái, thơm nồng mùi nhựa tươi bay khắp không gian.
Tuấn quét xong mảng vách cuối cùng, lau tay vào vạt tạp dề rồi bước ra sân ghé vai cùng anh Lâm. Với bàn tay khéo léo của người từng làm công binh cầu đường, Tuấn đo từng tấc gỗ, lấy bút chì đánh dấu chuẩn xác từng mộng ghép. Anh cầm chiếc cưa tay xẻ ngọt từng thanh giằng bàn.
“Bàn phở phải đóng theo khổ dài một mét hai, rộng năm mươi phân là vừa vặn nhất anh ạ,” Tuấn vừa ghì chặt thanh gỗ vừa bảo anh Lâm. “Khổ này để được hai hàng bát chiết yêu, ở giữa vừa đủ đặt khay giấm tỏi, âu ớt tươi, ống đũa với đĩa chanh cốm mà khách ngồi đối diện không bị cộc đầu gối vào nhau.”
“Thằng này tính toán đâu ra đấy gớm!” Anh Lâm quệt mồ hôi trán, cười ha hả. “Đúng là có hơi ấm đàn bà vào có khác, tỉ mỉ từng li từng tí!”
Từng chiếc bàn bằng gỗ thông mộc mạc dần thành hình dưới những nhát búa đóng đinh mười chắc nịch của Tuấn. Mặt bàn ghép từ những tấm gỗ thông xẻ dày dặn, được bào phẳng phiu, nổi rõ những đường vân gỗ uốn lượn màu nâu sáng tự nhiên. Không chỉ đóng sáu chiếc bàn chữ nhật kiên cố, Tuấn còn cùng đồng đội đóng mười hai chiếc ghế băng dài đồng bộ, mỗi ghế ngồi được ba người thoải mái.
Thoáng thấy Cúc đứng từ xa nhìn sang, Tuấn nhận ra khóe mắt cô đang rơm rớm vì xúc động. Sau khi đóng xong từng chiếc bàn chiếc ghế, Tuấn không vội xếp vào nhà mà ngồi bệt xuống sân gạch, cầm miếng giấy ráp hạt mịn tỉ mẩn chà đi chà lại từng góc cạnh, từng gờ gỗ thừa. Anh bo tròn các góc bàn nhọn hoắt thành những đường cong mềm mại.
“Phải đánh ráp cho thật nhẵn nhụi em ạ,” Tuấn ngẩng lên mỉm cười giải thích khi thấy Cúc mang ấm chè ra tiếp nước. “Khách vào ăn mặc áo len, áo dạ không bị xước chỉ. Mà quan trọng nhất là bé Mây hay chạy nhảy quanh quán, lỡ có va vào mép bàn cũng không sợ trầy da rách thịt.”
Cúc khẽ cắn môi, đặt bát nước chè tươi ấm nóng vào tay anh, ánh mắt lấp lánh niềm cảm kích. Người đàn ông này tuy ít nói, vẻ ngoài phong trần sương gió nhưng tấm lòng lại sâu sắc, chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc của mẹ con cô.
Đến trưa, sau khi các dãy bàn ghế đã được chuyển vào gian nhà quét vôi vàng sáng sủa, Tuấn bắt tay vào hạng mục quan trọng nhất mà anh đã trăn trở bấy lâu nay: Trái tim của quán phở—bệ bếp nấu nước dùng.
Gian bếp được bố trí ở góc trong cùng bên trái của ngôi nhà, ngay dưới khoảng giếng trời có ô thoáng thoát khói thiên nhiên tuyệt vời. Tuấn tự tay xúc từng xẻng cát vàng mịn, trộn đều với xi măng Hải Phòng và nước sạch thành một khối vữa dẻo quánh.Anh xếp từng viên gạch chỉ đặc màu đỏ au thành hai vòng cung kiên cố. Tuấn dùng thước tầm vông và dây dọi căn chỉnh cẩn thận, đo chính xác chiều cao bệ bếp đúng bảy mươi phân.
“Sao lại phải đúng bảy mươi phân hả anh Tuấn?” Anh Tiến tò mò hỏi khi phụ xúc vữa.
Tuấn vừa gõ nhẹ bay sắt xuống viên gạch chỉ cho thật phẳng phiu vừa mỉm cười giải thích “Cúc nhà tôi dáng người mảnh khảnh, cao vừa tầm. Nếu xây bệ bếp cao quá theo lối quán ăn mậu dịch ngày xưa, cô ấy đứng chan phở suốt ba bốn tiếng sẽ phải rướn vai, đau nhức khớp cổ và mỏi lưng lắm. Còn nếu xây thấp quá thì lúc cúi xuống vớt bọt, múc tủy xương sẽ bị chùng cột sống. Bảy mươi phân là vừa đúng tầm ngang thắt lưng của Cúc, đặt nồi nước dùng lên là tay cầm muôi múc nước sôi đưa đi đưa lại nhẹ tênh như múa.”
Cúc đang đứng tráng lại ấm chén bên bể nước mưa, nghe những lời ấy thì vành tai đỏ ửng lên vì hạnh phúc.
Chưa dừng lại ở đó, Tuấn dồn toàn bộ sự cẩn trọng của một người lính công binh vào việc thiết kế an toàn. Quanh miệng lò than nơi đặt nồi nước dùng hai mươi lít, anh xây một gờ gạch chỉ nhô cao năm phân, ôm khít đáy nồi tôn dày dặn để nồi không bao giờ có thể bị trượt hay xô lệch dù có va chạm mạnh. Phía ngoài bệ bếp, ngăn cách giữa khu nấu nướng và lối đi lại của khách, Tuấn dùng những thanh sắt chữ V hàn thành một khung rào chắn vững chãi, ốp thêm tấm tôn gò dày dặn cách nhiệt.
Khoảng cách từ thanh chắn bảo vệ đến mép nồi nước dùng sôi sùng sục được anh nới rộng hơn bốn mươi phân—hoàn toàn nằm ngoài tầm với của một đứa trẻ bốn tuổi như bé Mây. Ký ức về đêm mưa phùn trên dốc Hàng Đậu, khi đôi quang gánh trĩu nặng suýt lật nhào làm bỏng đôi chân trần của Cúc, vẫn luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm can Tuấn. Anh tự thề với lòng mình, khi đã dựng lại được gian bếp này, anh tuyệt đối không bao giờ để cho người phụ nữ của đời mình và đứa con thơ phải đối mặt với bất kỳ hiểm nguy nào từ tàn lửa nước sôi nữa.
“Bếp này thì có động đất cũng chẳng suy suyển nổi chú mày ơi!” Anh Lâm vỗ mạnh vào bệ bếp vừa miết mạch xi măng phẳng lì, tấm tắc khen ngợi. “Vừa thoáng khí, than đượm mà lại an toàn tuyệt đối. Đúng là tay nghề công binh có khác!”
Đầu giờ chiều, công việc nề và mộc cơ bản hoàn tất. Mùi vữa mới, vôi ve và gỗ thông hòa quyện tạo nên một thứ phong vị nồng đượm của sự sinh sôi, tái thiết.
Cúc cầm cây chổi đót mới tinh, ríu rít cùng bé Mây quét dọn những vụn mùn cưa và dăm bào vương vãi trên nền gạch Bát Tràng. Bé Mây xắn cao ống tay áo len đỏ, cầm chiếc khăn xô nhỏ nhúng nước sạch, lon ton chạy quanh lau từng chân bàn gỗ thông, miệng không ngớt bi bô “Bố Tuấn ơi, con lau cái ghế này sạch bóng rồi này! Mai bác Khiêm với bác Thược đến ngồi không bị bẩn quần đâu bố nhỉ?”
Nghe tiếng con trẻ gọi “Bố Tuấn” một cách tự nhiên, ríu rít như chim hót, ba người cựu chiến binh đưa mắt nhìn nhau rồi cùng nở nụ cười rạng rỡ. Anh Phong vỗ vai Tuấn “Nghe ngọt lịm thế kia thì bao nhiêu mệt nhọc trên đời này trôi sạch sành sanh chú mày nhỉ!”
Tuấn xúc động gật đầu, ánh mắt ngập tràn vẻ trìu mến dõi theo bóng dáng bé nhỏ của con gái. Anh bước vào góc phòng, cẩn thận đỡ chiếc thùng thiếc đựng bộ bát chiết yêu men lam Hải Dương vẽ hoa chanh gia truyền của cụ Cần từ tay Cúc. Anh xếp từng chiếc bát men sứ bóng loáng, trắng muốt điểm hoa văn xanh biếc lên chiếc giá gỗ gụ ba tầng vừa được gắn chắc chắn trên vách tường sát bệ bếp.
Sau đó, Tuấn bước lại bậu cửa sổ gỗ lim nhìn ra khoảng giếng trời lộng gió. Chấn song gỗ hình con tiện đã được lau chùi sạch bong bụi bặm. Từ trong túi đồ của mình, Tuấn trang trọng lấy ra chiếc khăn len màu ghi xám mà Cúc đã thức trắng những đêm đông đan tặng anh. Anh gấp lại ngay ngắn, treo lên chiếc móc áo bằng gỗ gắn bên vách tường gỗ cạnh khung cửa.
Ngay trên bậu cửa sổ đón trọn ánh nắng ấm áp, anh cẩn thận đặt chú chim sẻ gỗ Sẻ Nâu—kỷ vật đầu tiên anh dùng dao nhíp gọt đẽo tặng bé Mây trong gian chái củi cũ. Dưới ánh nắng hanh hao của ngày đông, chú chim gỗ thông nhỏ nhắn dường như cũng đang nghiêng đầu mỉm cười nhìn gian nhà cổ khoác áo mới. Chiếc khăn len sưởi ấm tâm hồn và chú chim gỗ nối nhịp tình thân—đó là hai chứng nhân đã đi cùng họ qua những ngày gian khó, cơ hàn nhất nơi vỉa hè phố chợ, và hôm nay chúng được đặt trang trọng ở nơi ấm áp nhất của tổ ấm mới.
Khi ánh hoàng hôn dần buông xuống trên những ngọn cây xà cừ già phố Hàng Khoai, gió bấc thổi mạnh hơn mang theo cái lạnh thấu xương của đêm đông, công việc sửa sang cũng vừa vặn hoàn thành trọn vẹn.
Anh Lâm đứng trên chiếc thang gỗ, vặn chặt đui sứ nối đường dây điện mới toanh vừa câu từ cột đồng hồ vào nhà.
“Bật cầu dao thử xem nào Tuấn ơi!”
Tuấn bước lại góc tường, gạt chiếc cầu dao sứ cổ điển cái “tách”.
Lập tức, chiếc bóng đèn Điện Quang tròn xoe công suất bảy mươi lăm oát treo giữa trần nhà bừng sáng. Ánh sáng vàng rực, ấm áp tỏa lan khắp không gian hai mươi mét vuông. Màu vôi ve vàng mơ trên bốn bức vách như bừng tỉnh, phản chiếu ánh đèn tạo nên một vầng hào quang rực rỡ, xua tan đi toàn bộ sự ẩm thấp, u tối của những năm tháng cũ. Dưới ánh đèn, sáu dãy bàn ghế gỗ thông vàng óng, bệ bếp đỏ au màu gạch chỉ và những chồng bát chiết yêu men lam lấp lánh như đang hân hoan đón chào một vận hội mới.
Lúc bấy giờ, bác Thược phu xe kéo bến Long Biên cùng bà Nhẫn hàng nước đầu ngõ cũng tất tả bước sang. Chú Đạt, Trưởng Công an phường Hàng Mã, trong bộ quân phục công an nhân dân chỉnh tề sau ca tuần tra chiều cũng ghé vào thềm.
“Ôi chao ôi! Đẹp quá, sáng sủa quá các chú các cô ơi!” Bà Nhẫn chống gậy bước qua bậu cửa lim, đôi mắt kèm nhèm trào dâng hai giọt nước mắt vui mừng. “Tôi sống ở cái phố Hàng Khoai này ngót sáu mươi năm rồi, chưa thấy gian nhà nào sửa lại mà đượm vẻ ấm cúng, tinh tươm như thế này. Cụ Cần dưới suối vàng chắc ngậm cười mãn nguyện lắm đây!”
Bác Thược nhìn dãy bàn ghế chắc nịch, đưa tay vỗ mạnh xuống mặt bàn gỗ thông rồi cười vang “Thế này thì cánh cửu vạn chúng tôi tha hồ kéo sang ngồi ăn bát phở nạm gầu nóng rẫy mà không sợ gió lùa rét mướt nữa rồi! Chú Tuấn khéo tay quá, đúng là lính công binh có khác!”
Chú Đạt mỉm cười gật đầu, siết chặt tay Tuấn “Chúc mừng cậu Tuấn, chúc mừng cô Cúc! Gian quán rất khang trang, gọn gàng và đảm bảo trật tự an toàn. Công an phường sẽ luôn là chỗ dựa vững chắc để bà con yên tâm lao động, làm ăn lương thiện!”
“Nào, anh em mình ơi! Giờ thiêng đến rồi, treo biển lên thôi!” Anh Lâm hào sảng hô to.
Bốn người đàn ông—Tuấn, anh Lâm, anh Phong và anh Tiến—cùng nhau nâng phiến gỗ mít già nặng trịch từ sân giếng trời bước ra trước cửa.
Tấm biển hiệu dày dặn, vàng óng màu gỗ mít già hiện ra trang trọng dưới ánh đèn đường đầu ngõ. Bốn chữ lớn được đục chìm tinh xảo bằng bàn tay người lính: PHỞ GÁNH THU CÚC, cùng dòng chữ nhỏ uốn lượn bên góc phải: Kế nghiệp cụ Cần Phố Hàng Khoai.
Tuấn trèo lên thang lim, anh Lâm và anh Phong đỡ hai đầu tấm biển. Bằng những chiếc móc sắt đặc cắm sâu vào xà gỗ và xích sắt đôi chắc nịch, tấm biển được cố định ngay ngắn, vững vàng ngay chính giữa mái hiên nhà cổ.
Cả góc phố Hàng Khoai như ngừng lại vài giây. Một vài người dân đi chợ chiều, cánh lái xe thồ dừng lại trầm trồ chỉ trỏ. Dưới mái hiên cổ kính, hai chữ “Phở Gánh” mộc mạc ngời sáng lên như một lời khẳng định đanh thép về đạo đức nghề nghiệp, về sự thủy chung son sắt với cội nguồn lam lũ, và về ngọn lửa kiên cường của một gia đình đã vượt qua muôn vàn giông bão để đứng vững bằng chính đôi bàn tay lao động chân chính.
Cúc đứng nép sát bên cạnh Tuấn dưới hiên nhà. Gió đông thổi lướt qua làm bay vài lọn tóc mai trên vầng trán thanh tú của cô. Tuấn khẽ đưa tay sang, những ngón tay thô ráp của anh nhẹ nhàng đan chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần của Cúc. Bàn tay cô ấm áp, run rẩy đáp lại cái siết tay của anh.
Anh Lâm cùng hai người đồng đội vác đồ nghề chuẩn bị đạp xe về mạn Yên Phụ và Gia Lâm. Tuấn tiễn họ ra tận gốc bàng đầu ngõ, cảm ơn không ngớt.
“Ơn nghĩa gì mày ơi, đồng đội với nhau cả,” anh Lâm ghì chặt vai Tuấn trước khi lên xe. “Ngày mai khai trương, sớm tinh mơ mấy anh em tao lại kéo sang mở hàng ăn bát phở nạm gầu của cô Cúc đấy nhé!”
“Nhất định rồi các anh!” Tuấn vẫy tay chào theo bóng ba chiếc xe đạp khuất dần vào màn sương đêm giáp Tết.
Phố Hàng Khoai về đêm tĩnh lặng dần. Bác Thược đã về lại bến bốc vác, bà Nhẫn dắt bé Mây sang quán nước ăn tạm bát cháo hoa để Cúc thu dọn nốt những xô chậu cuối cùng.
Gian nhà cổ lúc này chỉ còn lại một mình Tuấn. Anh bước chậm rãi quanh gian phòng rộng rãi, ngắm nhìn từng đường nét quen thuộc mà mồ hôi, công sức của anh và đồng đội vừa dựng nên suốt một ngày ròng rã.
Mùi vôi ve vàng mơ ấm sực quyện với hương thơm ngai ngái của gỗ thông mới xẻ tạo nên một cảm giác an yên đến lạ kỳ. Bệ bếp lò than tổ ong sừng sững, kiên cố nơi góc phòng đã sẵn sàng nổi lửa. Dãy bàn ghế gỗ ngay ngắn, phẳng phiu như đang đợi chờ những bước chân người lao động bến bãi, những cụ già trí thức phố cổ ghé chân vào sớm mai. Trên bậu cửa sổ, chú chim sẻ gỗ Sẻ Nâu nhỏ nhắn đứng cạnh chiếc khăn len ghi xám, lặng lẽ ngắm nhìn thế giới ấm áp bên trong.
Gió đông ngoài kia vẫn rít từng cơn lạnh buốt qua những tán cây trơ trụi, nhưng gian nhà này giờ đây đã có mái ngói che chở, có cửa đóng then cài kiên cố, không còn nỗi lo sợ những cơn mưa phùn dập tắt ngọn lửa than, không còn nỗi bất an của kiếp buôn thúng bán bưng vỉa hè, và bóng ma của những kẻ lưu manh chèn ép đã hoàn toàn lùi vào dĩ vãng.
Tuấn đứng lặng giữa gian phòng tinh tươm thơm mùi vôi mới. Trong lồng ngực anh, trái tim người lính rộn ràng những nhịp đập thiết tha, ấm nóng lạ thường.
Anh kín đáo đưa bàn tay thô ráp luồn sâu vào túi trong của chiếc áo trấn thủ chần bông màu cỏ úa Cúc may tặng.
Đầu ngón tay anh chạm nhẹ vào bề mặt nhung mềm mại của một chiếc hộp nhỏ hình vuông nằm ngay ngắn nơi lồng ngực trái. Bên trong chiếc hộp nhung ấy là chiếc nhẫn bạc trơn giản dị—kỷ vật anh đã chắt chiu từng đồng tiền phụ bếp sớm hôm và những đồng tiền trợ cấp thương binh ít ỏi bấy lâu nay, cẩn thận gìn giữ như một báu vật thiêng liêng nhất của cuộc đời mình.
Chạm vào chiếc hộp nhung nhỏ bé ấy, mắt Tuấn ánh lên một tia nhìn kiên định và rạng rỡ lạ thường. Một dự định lớn lao, một lời hẹn ước trọn đời cho người phụ nữ anh yêu thương và đứa con thơ đang bừng sáng rực rỡ trong tâm trí anh, ấm áp như ngọn than hồng đang chuẩn bị thắp sáng gian bếp mới vào sớm mai.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
