Chương 12: Nỗi Niềm Bên Đèn Dầu
Tuấn vẫn ngồi nguyên trên chiếc ghế gỗ thấp bên hiên quán nước bà Nhẫn, bàn tay thô ráp ghì chặt lấy mép bàn để nén cơn nhức buốt đang giần giật nơi bắp chân phải. Dải băng vải xô trắng mà Cúc vừa tỉ mẩn quấn quanh vết rách hãy còn vương lại một vệt đỏ thẫm mờ mờ đã bắt đầu se miệng. Bắt gặp ánh mắt Cúc bỗng dưng khựng lại, nụ cười nhẹ nhõm vừa hé nở trên gương mặt thanh tú thoáng chốc biến mất, Tuấn lập tức cảnh giác đưa mắt nhìn theo hướng nhìn của cô sang bên kia ngã tư Hàng Khoai – Hàng Lược.
Dưới tấm biển hiệu sơn đỏ bạc màu của tiệm phở Vạn Lộc, bóng dáng béo lùn của lão Tài sừng sững in trên khung cửa kính cáu bẩn. Lão mặc chiếc áo khoác bông cổ lông mờ ám, khuôn mặt phị ra xám xịt như tro tàn, đôi mắt ti hí sâu hoắm tựa hai lưỡi dao cau sắc lẻm đang gườm gườm nhìn về phía góc hiên này. Bàn tay mập mạp đeo chiếc nhẫn vàng to bản của lão run rẩy đặt trên mặt chiếc bàn gỗ ngoài hiên, những ngón tay ngắn cũn gõ liên hồi xuống mặt gỗ đầy vẻ sốt ruột và căm hận khôn lường. Ánh nhìn độc địa ấy chẳng khác nào loài rắn độc đang rình mồi trong bụi rậm, chứa đầy tà tâm và những toan tính hiểm ác sau khi chứng kiến đôi thùng phở của Cúc bán sạch veo, trong khi tiệm ăn của lão vắng tanh không một bóng người qua lại.
Tuấn nghiến chặt quai hàm, hai bên thái dương giật giật. Bản năng của người lính trinh sát từng lăn lộn nơi chiến hào biên giới khiến toàn thân anh căng lên như dây cung. Chống một tay xuống mặt bàn, Tuấn gượng đứng dậy, bước khập khiễng lên nửa bước. Vóc dáng cao ráo, bờ vai vuông vức vững chãi trong chiếc áo trấn thủ rách mép của anh lập tức chắn trọn lấy luồng nhìn ác ý của lão Tài, che chở hoàn toàn cho bóng hình mảnh mai của Cúc ở phía sau. Tuấn ngẩng cao đầu, ánh mắt đanh thép, lạnh lùng như thép nguội ghim thẳng sang bên kia đường.
Chạm phải cái nhìn sắc lẹm, không chút e dè của người lính phục viên, lão Tài thoáng giật thót mình. Hàm răng đang nghiến chặt của lão khẽ run lên, đôi mắt ti hí cụp xuống tránh né. Lão hậm hực thu tay về, lùi lũi quay người bước vội vào gian tiệm ẩm tối, kéo sập cánh cửa gỗ cũ kỹ lại để che đi sự bẽ bàng và tức tối tột cùng.
Tuấn khẽ thở ra một làn hơi ấm giữa làn gió bấc buốt giá, quay lại nhìn Cúc. Gương mặt cô vẫn còn vương chút âu lo, đôi bàn tay gầy gò đang siết chặt lấy chiếc khăn lau bàn ẩm ướt.
“Đừng sợ, cô Cúc,” giọng Tuấn trầm thấp, chắc nịch như đinh đóng cột. “Bọn họ chỉ dám đứng trong tối giở trò tiểu nhân thôi. Chừng nào tôi còn đứng vững ở đây, không ai có thể đụng đến mẹ con cô và gánh phở này được đâu.”
Cúc ngước nhìn anh, đôi mắt bồ câu đượm buồn khẽ chớp, ánh lên niềm xúc động sâu xa. Cô gật đầu thật nhẹ, khóe môi khẽ mỉm cười dịu dàng: “Vâng, tôi hiểu rồi. May có anh ở bên cạnh... Thôi, anh ngồi nghỉ cho đỡ mỏi chân, để tôi với u Nhẫn dọn nốt rồi dắt xe về ngõ.”
Cùng với sự giúp đỡ của bà Nhẫn, ba người nhanh chóng thu vén đồ đạc. Chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ chất đầy đôi thùng gỗ đã cọ rửa sạch sẽ, thau chậu và xoong nồi được Tuấn dùng một tay dắt cẩn thận từng vòng bánh lăn qua con phố Hàng Khoai loang lổ vết vôi vữa, hướng về phía ngõ trọ ẩm thấp.
Buổi chiều mùa đông buốt giá trôi qua trong sự tĩnh lặng khác thường. Sau khi phụ Cúc chuyển hết đồ nghề vào gian chái trọ và phụ khiêng tảng thịt bò bắp cùng mớ xương ống tươi ngon vào vại sành ướp muối, Tuấn trở về gian phòng trọ nhỏ hẹp rộng chưa đầy mười mét vuông của mình sát vách tường rêu bốt nước Hàng Đậu. Anh cởi chiếc áo trấn thủ sờn rách, thay miếng gạc sạch đắp lên vết rách ở bắp chân rồi xoa chút dầu tràm cay nồng mà bà Nhẫn đưa cho. Cơn đau buốt thấu xương nơi vết thương cũ dần dần dịu đi, nhường chỗ cho cảm giác ấm áp lan tỏa từ chiếc khăn len màu ghi xám mà Cúc đã tự tay đan tặng. Tuấn nằm ngả lưng trên chiếc giường dát tre ọp ẹp, mi mắt nặng trĩu chìm vào giấc ngủ ngắn sau một buổi sáng căng thẳng đối đầu với bọn du côn bến bãi.
Khi sương muối bắt đầu buông dày đặc trên những mái ngói rêu phong của khu phố cổ, chuông đồng hồ điểm cữ tối muộn. Tiếng gió mùa rít qua khe cửa liếp, quất từng cơn rét buốt vào những rặng bàng khẳng khiu ngoài đầu ngõ.
Nhớ đến việc Cúc còn phải chuẩn bị nguyên liệu cho buổi chợ sớm mai, Tuấn xỏ chân vào đôi dép cao su đúc, khoác lại chiếc áo bông trần cũ kỹ rồi chống cây gậy tre tập tễnh bước sang gian trọ của hai mẹ con.
Cánh cửa gỗ khép hờ hắt ra vệt sáng vàng vọt ấm áp. Tuấn khẽ gõ nhẹ hai tiếng lên then cửa: “Cô Cúc ơi, tôi sang đây.”
“Cửa không cài đâu, anh Tuấn vào đi!” Tiếng Cúc vọng ra từ bên trong, trong trẻo và dịu dàng như một làn gió xuân ấm áp xua tan đi cái lạnh căm căm ngoài sân ngõ.
Tuấn đẩy cửa bước vào. Gian phòng trọ nhỏ chừng mười mét vuông của Cúc tuy đơn sơ, vách tường vôi vàng loang lổ những vết ẩm mốc theo năm tháng, nhưng mọi thứ đều được sắp đặt gọn gàng, tinh tươm đến lạ lùng. Không khí trong phòng đượm nồng mùi khói than tổ ong ủ ấm và mùi thơm ngọt ngào, ngầy ngậy của nồi nước dùng đang ninh liu riu trên chiếc lò đất nung kê sát góc tường. Mùi tủy bò hầm kỹ quyện chặt với hương thơm cay nồng của quế chi, thảo quả nướng cháy xém và vài lát gừng già đập dập, tạo nên một thứ phong vị ấm cúng, đậm đà rất đỗi thân quen của phố cổ Hà Nội những ngày đông giá.
Dưới nền xi măng ẩm ướt cạnh bể nước mưa công cộng bên bực thềm, đôi thùng gỗ đựng đồ nghề bán phở đã được cọ rửa sạch bóng, hong khô ráo nước. Tuấn không nói một lời, lặng lẽ cầm lấy chiếc chổi đót dựng ở góc tường, khập khiễng quét sạch từng mảnh mùn cưa và tàn than rơi vãi quanh chân bếp. Anh ngồi xuống chiếc đẩu gỗ, cẩn thận nhấc từng chiếc bát chiết yêu men lam Hải Dương vẽ hoa chanh—những báu vật gia truyền mà người cha quá cố của Cúc để lại—lau lại thật khô bằng chiếc khăn xô sạch tinh, rồi xếp chúng thành từng chồng ngay ngắn, chèn thêm vài mảnh vải mềm xung quanh để sáng mai khi gánh hàng ra phố, bát đĩa không bị va quệt sứt mẻ.
Đôi bàn tay thô ráp của người lính, từng quen cầm súng trường, cuốc xẻng đào công sự nơi chiến hào ác liệt, lúc này lại nâng niu từng chiếc bát sành mỏng manh với một sự cẩn trọng, tỉ mỉ hiếm thấy.
“Anh Tuấn, anh cứ để đấy tôi làm nốt cho!” Cúc từ trong gian buồng nhỏ bước ra, trên tay cầm một chiếc khay gỗ mộc. Thấy Tuấn ngồi cặm cụi dưới ánh đèn vàng, hai đầu gối gập lại khiến vết thương ở bắp chân căng tức, cô vội vàng bước tới, giọng đầy vẻ ái ngại: “Chân anh vừa bị rách sâu như thế, máu chảy ướt cả ống quần buổi sớm, bác sĩ bảo phải kiêng vận động mạnh kia mà. Sao anh không nằm nghỉ bên phòng cho lại sức, cứ sang đây làm lụng vất vả thế này?”
Tuấn ngẩng lên, nhìn thấy ánh mắt lo lắng chân thành của Cúc, lòng anh dâng lên một cảm giác ấm áp khó tả. Anh khẽ lắc đầu, đặt chiếc bát cuối cùng vào thùng gỗ: “Vết thương ngoài da thôi cô Cúc ạ, chẳng nhằm nhò gì so với hồi ở mặt trận đâu. Nằm một chỗ tôi bứt rứt không yên. Sang đây phụ cô chân tay một lát, nhìn thấy ngọn lửa bếp than hồng tự dưng thấy lòng thanh thản, vết đau cũng như dịu hẳn đi.”
Cúc nhìn anh, đôi mắt rưng rưng nhưng khẽ mỉm cười. Cô đặt chiếc khay gỗ lên chiếc bàn tròn mộc mạc kê giữa phòng. Trên khay là một chiếc ấm tích bọc trong giỏ giành lót bông giữ nhiệt, một ấm trà gốm da chuối nhỏ nhắn bốc khói nghi ngút và một đĩa sành đựng nhúm lạc rang cát giòn rụm, những hạt lạc đỏ au nứt vỏ lụa tỏa mùi thơm bùi ngậy.
“Bé Mây ngủ say rồi hả cô?” Tuấn nhìn về phía góc giường, khẽ hạ thấp giọng hỏi.
“Vâng, con bé đùa nghịch cả buổi chiều với chú chim gỗ anh đẽo cho, mệt quá nên vừa đặt lưng xuống manh chiếu là ngủ say tít rồi,” Cúc khẽ đáp, ánh mắt ngập tràn vẻ âu yếm của người mẹ.
Tuấn đưa mắt nhìn sang chiếc giường gỗ mộc kê sát vách trong. Trên manh chiếu hoa Hải Phòng phẳng phiu, bé Mây nằm cuộn tròn ngoan ngoãn dưới chiếc chăn con công đỏ rực ấm áp. Khuôn mặt bầu bĩnh của con bé ửng hồng lên vì hơi ấm, hai hàng mi dài cong vút khép lại yên bình. Trong đôi bàn tay nhỏ xíu bụ bẫm, con bé vẫn ôm khư khư chú chim “Sẻ Nâu” bằng gỗ thông mà Tuấn đã tỉ mẩn gọt dũa từng thớ gỗ tặng bé hôm nào. Hơi thở trẻ thơ đều đặn, êm đềm như tiếng gió thoảng ngoài hiên, xua tan đi tất cả những giông bão, hiểm nguy của cuộc mưu sinh nhọc nhằn nơi phố chợ.
Cúc bước đến chiếc bàn con, khẽ vặn chiếc bấc của ngọn đèn dầu hoa kỳ đặt ở góc bàn. Ngọn lửa hình hạt đỗ bừng sáng lên một sắc vàng ấm áp, xua đi những khoảng tối mờ mịt nơi góc phòng, hắt bóng hai người lên bức tường vôi loang lổ.
Cô rót một chén nước trà màu hổ phách sóng sánh đưa sang trước mặt Tuấn: “Trà mạn ướp sen Tây Hồ đấy anh ạ. Chút quà của một bác khách quen phố Hàng Bông biếu hôm trước, tôi để dành mãi, nay pha ấm nước nóng mời anh uống cho ấm bụng, giải bớt cơn đau.”
Tuấn đón lấy chén nước nóng hổi từ tay Cúc. Hương thơm thanh khiết của hoa sen quyện với vị chát ngọt sâu đằm của búp chè mạn Thái Nguyên lan tỏa khắp khoang miệng, khiến lồng ngực anh ấm sực lên. Anh nhấp một ngụm nhỏ, cảm nhận làn khói mỏng manh lượn lờ trước mặt, rồi ngước nhìn người phụ nữ đang ngồi đối diện mình.
Dưới ánh đèn dầu hoa kỳ lay lắt, gương mặt Cúc hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, đoan trang mà u buồn. Chiếc áo len cổ lọ màu hạt dẻ đã sờn chỉ ở cổ tay càng làm tôn lên chiếc cổ thon thả và làn da trắng xanh vì những đêm thức khuya dậy sớm ninh xương, quạt than. Đôi mắt bồ câu của cô phẳng lặng như mặt nước hồ mùa đông, nhưng sâu thẳm bên trong lại ẩn chứa một sức sống bền bỉ, kiên cường đến lạ kỳ.
Hai người ngồi lặng im trong vài phút. Không gian tĩnh mịch đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe liếp, tiếng than tổ ong nổ lách tách khe khẽ nơi góc bếp và tiếng giọt nước rỉ đều đặn ngoài bể xi măng.
Nhìn chiếc khăn len màu ghi xám trên cổ Tuấn, Cúc khẽ cất lời phá tan sự im lặng, giọng cô ngập ngừng nhưng chứa chan niềm cảm kích: “Hôm nay... nếu không có anh liều mình lao ra bẻ gãy gậy sắt của bọn lưu manh, thì chắc gánh phở của tôi đã bị chúng đạp đổ tan tành rồi. Nồi nước dùng sôi sùng sục cả trăm độ ấy mà đổ ụp xuống, chẳng biết mẹ con tôi và bà con xung quanh sẽ ra nông nỗi nào nữa... Anh vì mẹ con tôi mà để vết thương cũ toác ra, tôi mang ơn anh nhiều lắm, cả đời này không biết lấy gì đền đáp.”
Tuấn đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ, ánh mắt nhìn sâu vào ngọn lửa đèn dầu đang chập chờn theo từng cơn gió luồn. Nét mặt anh trầm mặc, những vết nhăn nơi khóe mắt hằn sâu vẻ từng trải của người đàn ông đã bước qua ranh giới giữa sự sống và cái chết.
“Cô Cúc đừng nói thế,” Tuấn khẽ lắc đầu, giọng anh trầm đục, mang theo sức nặng của những ký ức đau thương từ quá khứ dội về. “Tôi là người lính, thấy chuyện bất bình, thấy phụ nữ và trẻ nhỏ bị ức h**p mà đứng nhìn thì còn mặt mũi nào nhìn lại bộ quân phục mình từng mặc. Với lại... nhìn thấy mẹ con cô tần tảo sớm hôm, tôi lại nhớ đến những người đồng đội của tôi năm xưa.”Cúc chăm chú lắng nghe, đôi mắt cô mở to, lộ rõ vẻ tò mò pha lẫn xót xa: “Ở chiến trường... ác liệt lắm phải không anh?”
Tuấn khẽ thở dài, một nụ cười chua chát thoáng hiện trên môi. Anh đưa bàn tay chai sạn xoa nhẹ lên bắp chân phải đang quấn băng, nơi có mảnh kim loại sắc lạnh của đạn pháo cối vẫn còn nằm sâu trong thớ thịt: “Ác liệt lắm cô ạ. Mùa đông năm 1985, đơn vị tôi chốt giữ ở sườn đồi Yên Ngựa, mặt trận Vị Xuyên. Những ngày tháng ấy, trời rét buốt thấu xương như thế này, nhưng mặt đất thì lúc nào cũng nóng bỏng vì bom đạn. Pháo cối của giặc bên kia biên giới dội xuống như mưa rào, cày nát từng mỏm đá vôi xám xịt thành tro bụi. Đêm nằm trong hầm đá ngập bùn, anh em chia nhau từng mẩu lương khô mốc, từng ngụm nước suối vẩn đục.”
Giọng Tuấn nghẹn lại, lồng ngực anh phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập. Ký ức về một buổi chiều đỏ lửa nơi chiến hào lại hiện về rõ mồn một trong tâm trí anh: “Hồi ấy, trong tiểu đội trinh sát của tôi có cậu Kiên. Cậu ấy mới tròn hai mươi tuổi, người mảnh khảnh, quê ở ngay phố Hàng Đào đây thôi. Kiên vui tính lắm, đêm nào ngồi gác hai anh em cũng thì thầm tâm sự. Cậu ấy bảo ước mơ lớn nhất sau khi hết giặc là được trở về Hà Nội, đưa mẹ già đi dạo một vòng quanh hồ Gươm, rồi ghé vào một gánh phở rong đầu phố Hàng Khoai ăn một bát tái gầu thật nóng, rắc thật nhiều hành hoa cay nồng cho bõ những ngày đói rét nơi biên ải...”
Tuấn dừng lại, ánh mắt anh nhòe đi sau làn khói trà nghi ngút. Hai bàn tay anh siết chặt lại thành nắm đấm đặt trên mặt bàn: “Thế rồi một buổi chiều mùa đông, đạn cối địch tập kích bất ngờ. Lúc ấy tôi đang lúi húi nối lại đường dây thông tin ngoài chiến hào. Nghe tiếng rít xé gió trên đầu, Kiên từ trong hầm lao bổ ra, xô tôi ngã sấp xuống rãnh đất... Quả đạn nổ ngay bên cạnh. Mảnh đạn phạt bay một mảng đá, găm thẳng vào ngực Kiên và xé toạc bắp chân tôi. Cậu ấy... ngã gục ngay trên lưng tôi, máu ướt đẫm cả chiếc áo trấn thủ trần bông.”
Cúc khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào, bàn tay cô vô thức đưa lên ngực, đôi mắt ngấn lệ nhìn người cựu binh đang run rẩy trước nỗi đau quá khứ.
“Trước khi nhắm mắt,” Tuấn tiếp tục, giọng khàn đặc như có cát nghẽn nơi cổ họng, “Kiên nắm chặt lấy tay tôi, cậu ấy không kịp trăng trối điều gì nhiều, chỉ thều thào bảo: ‘Anh Tuấn... anh cố sống mà về... về ăn giúp em... bát phở Hà Nội...’. Cậu ấy hy sinh trên tay tôi, lạnh ngắt giữa sương mù Vị Xuyên. Tôi sống sót trở về, nhưng mảnh đạn cối găm sâu vào xương thịt bắp chân này không lấy ra được. Ngày phục viên cầm chiếc ba lô con cóc bước xuống ga Long Biên, nhìn người xe tấp nập, phố xá rộn rã trong công cuộc Đổi Mới, tự dưng tôi thấy mình lạc lõng, bơ vơ vô cùng.”
Tuấn cúi đầu nhìn xuống đôi chân tập tễnh của mình, giọng anh chùng xuống đầy mặc cảm: “Đôi chân tàn tật này khiến tôi đi đứng khập khiễng, nặng nhọc. Suốt mấy tháng trời, tôi chật vật tìm việc làm thuê, ai nhìn thấy bộ dạng tôi cũng ái ngại lắc đầu. Đã có những đêm nằm co ro trong gian chái củi ẩm mốc, nghe tiếng mưa rơi rả rích trên mái fibro xi măng, tôi tự hỏi bản thân: Mình trở về lành lặn thế này để làm gì? Một kẻ tàn phế, vô dụng giữa thời bình, không gia đình, không nghề ngỗng, chẳng biết sống tiếp để làm gánh nặng cho ai... Nỗi mặc cảm ấy nó gặm nhấm tâm can tôi từng ngày, cô Cúc ạ.”
Lắng nghe từng lời gan ruột của Tuấn, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu trong khóe mắt Cúc bỗng trào ra, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc. Cô cắn chặt bờ môi dưới để ngăn tiếng nấc nghẹn ngào. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn hoa kỳ phản chiếu trong đôi mắt đẫm lệ của cô một nỗi xót xa vô hạn.
“Anh đừng nghĩ thế... xin anh đừng bao giờ nghĩ mình là kẻ vô dụng,” Cúc nghẹn ngào cất tiếng, giọng cô run rẩy nhưng chứa chan sự đồng cảm sâu sắc. “Nếu không có những người lính như anh và anh Kiên hy sinh xương máu nơi biên cương sương gió, thì làm sao bà con phố chợ chúng tôi có được những ngày tháng bình yên để buôn bán, mưu sinh thế này... Nghe anh kể về anh Kiên, tôi lại nhớ đến... nhà tôi.”
Tuấn khẽ ngẩng lên, nhìn người phụ nữ đối diện. Dưới ánh đèn dầu, dáng vẻ cô đơn, côi cút của Cúc như chạm vào góc khuất mềm yếu nhất trong lòng anh.
Cúc đưa tay lau vội giọt nước mắt vương trên má, ánh mắt nhìn vô định vào khoảng không mờ tối ngoài cửa liếp: “Chồng tôi... anh Thành, mất cách đây hai năm rồi. Anh ấy vốn là công nhân xây dựng, tính tình hiền lành, mộc mạc, chẳng bao giờ to tiếng với vợ con nửa lời. Hôm ấy là một buổi chiều giáp Tết năm tám bảy, công trường xây dựng khu nhà tập thể cao tầng bị sập giàn giáo... Người ta đưa anh ấy về, người lạnh ngắt, phủ kín tấm vải bạt công nhân. Lúc ấy bé Mây mới chập chững biết đi, vừa tròn hai tuổi, nó cứ ngơ ngác bò quanh giường lay gọi bố dậy bế đi xem tàu điện...”
Giọng Cúc nghẹn lại, đôi vai mảnh mai run lên bần bật dưới lớp áo len sờn: “Bao nhiêu tiền bạc tích cóp của hai vợ chồng dồn hết vào thuốc men, ma chay, rồi nợ nần chồng chất. Mãn tang chồng xong, tôi chỉ còn trơ trọi hai bàn tay trắng và một đứa con thơ dại. Người đời độc mồm độc miệng lắm anh ơi... Thấy tôi còn trẻ mà góa bụa, người ta xì xào bảo tôi mang số ‘sát phu’, gieo tai họa cho chồng. Đến khi tôi dốc số tiền dành dụm ít ỏi còn lại, mở lại gánh phở gia truyền của người cha quá cố để kiếm đồng rau đồng cháo nuôi con, họ lại bảo đàn bà góa chồng mà ra đường buôn thúng bán bưng là ngữ lăng loàn, đưa đẩy kiếm chốn nương tựa...”
Những giọt nước mắt tủi nhục, đắng cay của hai năm trời chịu đựng định kiến xã hội và cảnh ngộ bấp bênh tuôn rơi không dứt. Cúc gục đầu xuống bàn, hai bàn tay gầy guộc đan chặt vào nhau: “Nhiều đêm đông buốt giá, ôm con bé Mây ngủ trong gian phòng trọ dột nát, nghe tiếng gió rít ngoài ngõ sâu mà lòng tôi hoang mang cùng cực. Tôi sợ... sợ một ngày nào đó mình gục ngã vì kiệt sức, sợ không nuôi nổi con bé nên người, sợ những lời gièm pha ác ý bóp nghẹt tương lai của con. Nỗi cô đơn của một người đàn bà góa bụa giữa chốn chợ búa xô bồ này, nó buốt giá hơn cả những cơn gió bấc ngoài kia...”
Không khí căn phòng trọ như chùng xuống trong nỗi đau thương chất chứa của hai số phận. Một người lính trở về từ khói lửa chiến tranh mang theo vết thương thân thể và nỗi dằn vặt khôn nguôi về người đồng đội đã ngã xuống; một người phụ nữ góa bụa gồng gánh cả cuộc đời đứa con thơ giữa muôn trùng định kiến và cạm bẫy của cuộc mưu sinh thời giao thời. Hai vết thương lòng tưởng chừng ở hai thế giới khác nhau, nhưng lại cùng chung một nỗi cô đơn quằn quại và niềm khát khao cháy bỏng về một bến đỗ bình yên.
Nhìn bờ vai gầy của Cúc đang run lên từng hồi trong tiếng khóc nén, trái tim Tuấn thắt lại vì một niềm thương xót vô bờ bến. Mọi khoảng cách e dè, giữ kẽ giữa người chủ và người thợ phụ việc dường như tan biến sạch trơn dưới ánh đèn dầu ấm áp.
Tuấn khẽ đưa bàn tay to bè, thô ráp đầy những vết chai sần của mình qua mặt bàn, ngập ngừng trong giây lát rồi nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay nhỏ bé, lạnh ngắt của Cúc.
Bàn tay Cúc khẽ rụt lại theo phản xạ, nhưng trước hơi ấm vững chãi và sự run rẩy vụng về đầy trân trọng nơi bàn tay anh, cô ngập ngừng rồi dừng lại. Cúc không rút tay về nữa. Cô từ từ ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên, đôi mắt bồ câu đỏ hoe nhìn thẳng vào mắt Tuấn.
Ánh mắt của họ giao nhau giữa quầng sáng vàng dịu của ngọn đèn hoa kỳ. Trong đáy mắt sâu thẳm của người cựu binh từng đi qua mưa bom bão đạn, không có sự thương hại bề trên, cũng chẳng có chút tà ý buông tuồng, mà chỉ có sự thấu hiểu sâu sắc, niềm trắc ẩn bao la và một lời cam kết thầm lặng, thiêng liêng.
“Cô Cúc,” Tuấn cất lời, giọng anh khàn khàn nhưng từng từ từng chữ lại vô cùng kiên định, “những năm tháng ở chiến trường, đồng đội dạy tôi rằng, người sống sót không được phép gục ngã, vì chúng tôi phải sống thay cho cả phần của những người đã nằm lại. Cô cũng vậy. Cô phải sống kiên cường vì bé Mây, vì tâm huyết của cha cô gửi gắm nơi nồi phở gia truyền này. Miệng lưỡi thế gian độc địa, nhưng họ không sống thay cho mẹ con cô được. Từ nay về sau, con đường phía trước dù có mưa phùn gió bấc hay chông gai hiểm trở đến đâu, cô cứ để tôi cùng gánh vác. Đôi vai này tuy không còn lành lặn hoàn toàn, nhưng vẫn đủ sức che chắn cho mẹ con cô qua cơn giông bão.”
Dưới bàn tay thô ráp của Tuấn, bàn tay Cúc dần ấm lại, không còn run rẩy vì giá buốt. Nhìn khóe mắt ngấn lệ nhưng đã giãn ra vẻ nhẹ nhõm của cô, anh hiểu rằng những tủi hờn đè nặng suốt hai năm qua trong lòng người đàn bà góa bụa dường như đã vơi bớt đi quá nửa. Cúc khẽ mỉm cười qua làn nước mắt, nụ cười rạng rỡ và nhẹ nhõm như đóa hoa cúc nở rộ sau cơn mưa rào buốt giá. Cô khẽ lật bàn tay lại, để những ngón tay gầy guộc của mình đan nhẹ vào những vết chai sạn nơi lòng bàn tay anh.
“Cảm ơn anh... anh Tuấn,” Cúc khẽ thì thào, giọng nói dịu dàng như hơi thở. “Có anh cùng chia sẻ, tôi thấy lòng mình nhẹ nhõm và vững tâm hơn nhiều lắm.”
Ngọn đèn dầu hoa kỳ vẫn cháy bập bùng, tỏa ra ánh sáng ấm áp bao bọc lấy hai bóng hình đang ngồi kề bên nhau. Mùi hương quế hồi từ nồi nước dùng sau lưng họ vẫn lan tỏa nồng đượm, sưởi ấm cả gian phòng trọ nhỏ hẹp giữa đêm đông Hà Nội năm 1989.
Đêm đã về khuya, tiếng chuông nhà thờ điểm cữ nửa đêm đã ngân vang từ lâu. Tuấn dặn dò Cúc cài chặt then cửa rồi khập khiễng bước ra sân ngõ để trở về phòng nghỉ, chuẩn bị cho buổi chợ sáng mai.
Gió bấc vẫn thổi từng cơn hun hút qua con ngõ Hàng Khoai tĩnh mịch. Bản năng cảnh giác của một trinh sát viên khiến Tuấn không về phòng ngay mà bước lần từng bước chậm rãi ra phía cổng ngõ để kiểm tra then chắn.
Phố Hàng Khoai lúc này chìm sâu trong màn đêm đặc quánh. Những ngôi nhà cổ hai tầng đóng kín cửa im lìm dưới rặng bàng khẳng khiu rụng trụi lá. Chỉ có ánh đèn vàng vọt leo lét từ phía bốt nước Hàng Đậu hắt xuống mặt đường nhựa loang lổ bóng tối.
Bỗng nhiên, từ đầu phố Hàng Khoai giáp mạn chợ Đồng Xuân, một âm thanh lạ phá vỡ sự tĩnh mịch của đêm đông: tiếng xích líp xe đạp cọc cạch, khô khốc rít lên từng hồi xủng xoẻng mỗi lúc một gần.
Tuấn khẽ nép mình vào bóng tối của bức tường rêu phong đầu ngõ, đôi mắt sắc lẻm nhìn ra ngoài lòng đường.
Chiếc xe đạp Thống Nhất cà tàng dừng gấp ngay trước bậc thềm đá của tiệm phở Vạn Lộc bên kia ngã tư. Một bóng đen cao lớn, vạm vỡ nhảy phắt xuống xe. Dưới ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn đường xa xa, Tuấn nhận ra ngay dáng người quen thuộc: một bên cánh tay phải quấn băng vải trắng toát treo trước ngực, bước đi khập khiễng đầy vẻ hằn học—đó chính là Hải “Búa”.
Cánh cửa gỗ của tiệm Vạn Lộc khẽ hé mở một khe hẹp. Lão Tài trong chiếc áo bông thò cái đầu hói ra nhìn quanh quất, rồi vội vã kéo tuột Hải “Búa” vào bên trong. Cánh cửa gỗ nặng nề lập tức sập lại, tiếng then sắt cài chặt vang lên khô khốc giữa màn đêm.
Sau khe cửa gỗ khép kín, những tiếng thì thầm toan tính mơ hồ, đứt quãng vọng ra trong đêm buốt giá, báo hiệu một đợt sóng gió mới đầy hiểm độc sắp sửa ập đến gánh phở rong nơi góc ngõ phố cổ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
