Chương 15: Vết Dầu Loang Góc Phố
Tuấn vừa bước khập khiễng tới khúc ngoặt đầu ngõ Hàng Khoai thì bóng đen cao gầy ấy đã lọt trọn vào tầm mắt anh.
Trời chập choạng tối cữ sáu giờ, rét căm căm. Gió bấc từ phía bờ đê sông Hồng thốc tháo tràn về, quất từng đợt buốt rát qua những thân bàng trơ trụi lá. Thấy Cúc mang chiếc xô nhôm đi trả bà Nhẫn mãi chưa quay vào ngõ, vết sẹo đạn cối nơi bắp chân phải lại nhói lên từng hồi báo hiệu trở trời, Tuấn liền khoác vội tấm áo bông trần bước ra ngoài trông chừng. Nào ngờ, vừa lách qua bức tường rêu phong loang lổ vết vôi của dãy nhà cổ, anh đã thấy Cúc đứng sững lại như chôn chân trước hiên quán nước, hai bàn tay nắm chặt quai xô run lên bần bật.
Cách Cúc chỉ chừng vài bước chân, một gã đàn ông trùm kín chiếc áo mưa cánh dơi màu xám chuột đang khom lưng bên mép vỉa hè. Tay phải gã xách chiếc can nhựa đen mười lít nặng trĩu, những ngón tay gầy guộc đang từ từ vặn nắp. Một mùi khét lẹt, tanh tưởi và hôi nồng nặc của thứ dầu máy cặn bẩn bốc lên theo chiều gió, xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén của người lính trinh sát.
Bản năng trận mạc tức thì bùng cháy trong lồng ngực Tuấn. Không một giây chần chừ, anh sải bước dài, gằn giọng quát lớn như một tiếng điểm hỏa “Đứng lại! Làm trò gì đấy?”
Tiếng quát đanh gọn, đầy uy lực của người lính dạn dày bom đạn rền vang giữa góc phố vắng tanh, xé toạc không gian mịt mùng sương gió. Gã áo mưa giật thót mình như bị điện giật. Bàn tay đang vặn nắp can nhựa run bắn lên, khiến nắp can rơi lách cách xuống nền gạch, vài giọt dầu đen ngòm sánh đặc văng ra mép đường. Quay ngoắt lại thấy một người đàn ông vai rộng sừng sững tiến tới với ánh mắt sắc lẹm, gã hoảng hồn ôm ghì lấy chiếc can nhựa, cắm đầu cắm cổ lao thục mạng vào bóng tối mịt mùng của ngõ sau dẫn ra bến xe Long Biên.
Tuấn toan lao theo truy đuổi, nhưng bắp chân phải vừa rách miệng ban sáng bỗng nhói buốt dữ dội khiến bước chân anh hơi sượng lại. Biết không thể bỏ lại Cúc một mình giữa lúc đêm hôm thanh vắng, Tuấn nén đau dừng bước, quay sang đỡ lấy cánh tay đang run rẩy của cô “Cô Cúc! Cô có sao không?”
Cúc giật mình ngẩng lên, gương mặt trắng trẻo không còn một giọt máu, đôi mắt bồ câu mở to đầy bàng hoàng. Nhìn thấy bờ vai vững chãi của Tuấn bên cạnh, hơi thở cô mới dần bình ổn trở lại, giọng nghẹn ngào trong gió buốt “Anh Tuấn… Hắn… hắn vừa định dốc cả can dầu bẩn thỉu ấy xuống góc vỉa hè chỗ mình kê gánh phở… May mà có anh ra kịp…”
Tuấn cúi xuống quan sát kỹ mép đường. Dưới ánh đèn đường vàng vọt le lói, mặt vỉa hè chỉ mới dính vài vệt dầu luyn bắn loang lổ cỡ bàn tay, bốc mùi nồng nặc khó chịu. Gã gian tế bị kinh động quá bất ngờ nên chưa kịp trút cả can dầu xuống như dã tâm ban đầu. Tuấn nhặt chiếc xô nhôm từ tay Cúc, bàn tay thô ráp khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của cô để trấn an “Kẻ xấu thấy động nên chạy rồi. Mới dính vài vệt nhỏ ngoài rìa đường nhựa, chưa ngấm vào gạch đâu. Trời rét lắm, cô cầm xô về phòng trọ với bé Mây đi. Để tôi kiểm tra chung quanh một lượt rồi vào khóa cổng ngõ.”
Cúc nhìn Tuấn, đôi mắt đượm buồn ánh lên vẻ âu lo khôn xiết “Liệu… đêm nay chúng nó có quay lại quấy phá nữa không anh? Cả cơ nghiệp của mẹ con tôi chỉ trông vào góc hiên này…”
“Tôi sẽ để mắt canh chừng. Cô cứ yên tâm chợp mắt lấy sức, mai còn bán hàng sớm.”
Giọng Tuấn trầm ấm, chắc nịch như đinh đóng cột. Nhìn dáng vẻ điềm tĩnh và ánh mắt kiên định của anh, cõi lòng Cúc dần lắng xuống. Cô gật đầu, kéo vạt áo bông sờn rồi lẳng lặng bước nhanh vào ngõ sâu.
Đêm ấy, phố cổ chìm trong cái rét buốt thấu xương của đợt gió mùa tăng cường. Trong gian chái trọ ẩm mốc rộng chưa đầy mười mét vuông, Tuấn nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp, đắp tấm chăn chiên xám cũ kỹ. Bắp chân phải co rút từng cơn âm ỉ, vết rách dù đã được Cúc tỉ mỉ rửa nước muối và băng lại bằng vải xô sạch ban sáng nhưng mỗi khi cử động mạnh vẫn buốt rát tận tủy. Dẫu vậy, thói quen cảnh giác thời chiến ở mặt trận Vị Xuyên khiến anh không tài nào ngủ say. Đôi tai anh căng ra giữa đêm thanh vắng, lắng nghe từng tiếng gió rít qua khe cửa liếp, tiếng chuột chạy lách cách trên mái fibro xi măng, và tiếng chuông trầm đục từ nhà thờ Cửa Bắc điểm từng canh giờ.
Mãi đến cữ canh ba lạnh giá nhất—khoảng hơn hai giờ sáng, khi sương muối giăng đặc quánh như khói và toàn bộ khu xóm trọ đã chìm sâu vào giấc ngủ say sau một ngày lao động mệt nhoài, cơn mệt mỏi cùng cái buốt rát nơi bắp chân mới khiến Tuấn thiếp đi chập chờn. Để rồi sáng hôm sau khi quan sát hiện trường, anh mới nhận định kẻ thủ ác hẳn đã âm thầm quay trở lại vào chính cữ giờ ấy, không đi qua lối ngõ chính nơi có ánh đèn đường mà lén lút tiếp cận từ phía khoảng đất trống ven đường ray xe lửa giáp mép tường sau.
Đúng bốn giờ ba mươi phút sáng, Tuấn bật dậy theo phản xạ chuẩn mực của người lính. Anh dùng gáo dừa múc nước lạnh từ chiếc chậu nhôm rửa mặt cho tỉnh táo, khoác chiếc áo bông trần đã được Cúc khâu lại chỗ sờn vai chiều qua, rồi bước khập khiễng sang giếng khơi gánh nước. Đôi thùng tôn nặng trĩu trên chiếc đòn gánh tre đực hun khói dẻo dai nhịp nhàng theo từng bước chân của anh hướng ra đầu ngõ. Theo lệ thường, anh sẽ ra trước nửa tiếng để quét tước vỉa hè, lau sạch dãy bàn ghế gỗ thông và chõng tre của bà Nhẫn, sẵn sàng đón gánh phở của Cúc dọn ra lúc năm giờ.
Thế nhưng, vừa bước chân tới bậu cửa ngõ Hàng Khoai, một mùi hôi nồng nặc, khét lẹt đến tức ngực đã xộc thẳng vào mũi Tuấn.
Tuấn khựng lại, đôi thùng nước trên vai khẽ chao nghiêng.
Dưới ánh đèn đường vàng ệch hắt qua màn sương mù mờ ảo, cảnh tượng trước mắt khiến lồng ngực anh thắt lại vì phẫn nộ. Toàn bộ khoảng vỉa hè lát gạch đỏ bên thềm gạch nhà bà Nhẫn—nơi Cúc vẫn cẩn thận kê đôi thùng phở và mấy chiếc bàn gỗ mộc mỗi sáng—đã bị phủ kín bởi một lớp dầu luyn thải đen ngòm, nhờn nhẫy và bốc mùi tanh tưởi kinh hoàng.
Thứ chất lỏng đen kịt, cặn bã của máy móc công nghiệp hạng nặng ấy bị kẻ gian trút xối xả từ góc tường ra tận mép rãnh thoát nước, loang lổ thành một vũng lớn rộng hơn hai mét vuông. Dầu luyn đã ngấm sâu vào từng kẽ gạch tàu xốp, đọng lại thành từng mảng bóng nhẫy, nhớp nhúa. Trên nền dầu đen đặc quắt còn in hằn vài vệt giẻ lau kéo lê quẹt quẹt, như thể kẻ đổ dầu còn cố tình dùng cây chổi rách quét dàn đều ra khắp lối đi để không ai có thể đặt chân hay kê ghế.
Nếu đặt nồi nước dùng thơm lừng hương quế hồi, đặt thúng bánh phở trắng ngần hay kê bàn ghế ăn uống lên bãi dầu nhớp nhúa bốc mùi hôi thối này, thì chỉ cần đứng từ xa mười mét khách ăn phở cũng phải bịt mũi quay xe. Không một ai có thể nuốt nổi một thìa nước dùng khi mùi dầu khét lẹt bủa vây chung quanh. Độc địa hơn, thứ dầu luyn này cực kỳ trơn trượt; người già, trẻ nhỏ hay phu xe kéo bước vào rất dễ trượt ngã đập đầu xuống nền đá.
Đúng lúc đó, cánh cửa gỗ bức bàn của nhà bà Nhẫn khẽ cọt kẹt mở ra. Bà Nhẫn tay cầm cây đèn bão bước ra định bắc bếp đun nước pha chè mạn. Vừa bước chân qua bậu cửa, mùi dầu hăng hắc xộc vào cuống họng khiến bà ho sặc sụa. Đưa ngọn đèn bão soi xuống khoảng sân gạch, bà Nhẫn sững sờ đánh rơi cả chiếc que khêu bấc đèn xuống đất.
“Trời đất quỷ thần ơi! Cái giống súc sinh thất đức nào làm trò bẩn thỉu thế này hở trời!”
Tiếng bà Nhẫn the thé cất lên giữa màn sương sớm, hai tay bà vỗ bôm bốp vào đùi, giận đến nỗi hàm răng đen nhánh run lên bần bật “Giết người không dao! Quân tiểu nhân bỉ ổi rắp tâm triệt đường sống của mẹ con người ta! Quân bay ăn hạt cơm của trời mà trong bụng toàn giòi bọ, rồi trời tru đất diệt, con cháu chúng mày gánh hết tội nghiệp cho coi!”
Tiếng chửi đổng đầy uất ức của bà hàng nước xé toạc không gian tĩnh mịch của góc phố. Cùng lúc ấy, tiếng xích líp xe đạp lách cách vang lên từ trong ngõ sâu. Cúc đẩy chiếc xe đạp Thống Nhất chở hai thúng bánh phở mới lấy bọc lá chuối tươi cùng các âu sành gia vị bước ra. Đi bên cạnh cô là bé Mây, mắt nhắm mắt mở, tay ôm chặt chú chim sẻ gỗ thông, tấm áo len đỏ trùm kín cổ.
Vừa nhìn thấy vũng dầu luyn đen ngòm phủ kín cả góc vỉa hè quen thuộc, nụ cười dịu dàng chuẩn bị chào ngày mới trên môi Cúc vụt tắt. Chiếc xe đạp khẽ chao đảo, Cúc vội vàng bóp phanh đứng chôn chân tại chỗ. Khuôn mặt cô tái mét, đôi môi run rẩy không thốt nên lời.
Giờ mở bán đã cận kề. Nồi nước dùng đại bổ ninh suốt mười bốn tiếng đang sôi lục bục trên bếp than ủ trong ngõ trọ, thịt bắp hoa tươi roi rói lấy từ lò bác Ba Râu đã thái sẵn sàng, khách quen từ bến Long Biên và chợ hoa quả sắp sửa đổ về ăn lót dạ cữ sáng. Thế mà khoảng đất duy nhất để mẹ con cô nương náu mưu sinh nay đã biến thành một bãi phế thải tanh tưởi, trơn trượt không một chỗ đặt chân.
Nỗi tuyệt vọng và sự bất lực trào dâng khiến khóe mắt Cúc đỏ hoe, hai giọt nước mắt chực lăn dài trên đôi gò má tái tê vì sương muối “U Nhẫn ơi… anh Tuấn ơi… thế này thì… làm sao dọn hàng được nữa…”
Bé Mây thấy mẹ khóc, sợ hãi nép sát vào vạt áo bông của Cúc, bàn tay nhỏ xíu níu chặt lấy ngón tay mẹ “Mẹ Cúc ơi… hôi quá… con sợ…”
Nhìn giọt nước mắt lăn trên má người phụ nữ tần tảo và ánh mắt ngơ ngác của đứa trẻ vô tội, ngọn lửa phẫn nộ trong lòng Tuấn bốc lên ngùn ngụt, nhưng ngay lập tức được sự trầm tĩnh, tôi luyện của người lính ghìm lại. Anh hạ đôi thùng nước xuống bệ đá, bước nhanh tới đỡ lấy chiếc ghiđông xe đạp từ tay Cúc, giọng nói vững vàng, đanh thép phát ra từng lời “Cô Cúc, cô bình tĩnh lại. Đừng hoảng! Kẻ tiểu nhân chỉ mong thấy cô khóc lóc bỏ cuộc thôi. Việc đâu còn có đó, có tôi ở đây rồi, dứt khoát không để gánh phở phải nghỉ bán sáng nay!”
Ánh mắt kiên định, sáng quắc như ánh thép của Tuấn dường như có một sức mạnh vô hình truyền sang Cúc, kéo cô ra khỏi bờ vực hoảng loạn. Cúc gạt vội giọt nước mắt trên khóe mi, khẽ gật đầu “Vâng… nhưng vũng dầu này ngấm hết vào gạch rồi, dội nước lã vào chỉ làm nó trơn trượt loang rộng ra thêm thôi anh ạ…”
“Tôi biết cách xử lý thứ này,” Tuấn quả quyết. “Thời ở đơn vị công binh, xe kéo pháo và xe tải quân sự bị rỉ dầu luyn ra nền xi măng suốt. Dội nước thường hay nước nóng vào lúc này là hỏng bét, dầu sẽ nổi lên mặt nước trôi lênh láng khắp ngã tư. Muốn trị nó, việc đầu tiên là phải dùng tro bếp nóng để hút sạch chất nhớt!”
Nói đoạn, Tuấn quay sang bà Nhẫn “U Nhẫn dắt bé Mây vào trong nhà cho ấm, lấy giúp cháu cái xẻng sắt với mấy chiếc bao tải gai cũ!”
Bà Nhẫn lập tức hiểu ý, lau vội khóe mắt, đon đả kéo bé Mây:“Có, có! Trong góc bếp u có cái xẻng xúc than với cả xô tro tổ ong hôm qua vừa thay ra! Mây ngoan, vào với bà kẻo trúng gió con!”
Không lãng phí một giây phút nào, Tuấn xách chiếc xô sắt, khập khiễng chạy nhanh vào các ngõ ngách gom tro bếp. Trong các dãy trọ nghèo cuối ngõ Hàng Khoai, những lò than tổ ong ủ qua đêm đã cháy kiệt thành những viên xỉ than đỏ hồng và lớp tro xốp mịn, khô khốc và nóng rực. Tuấn dùng xẻng sắt xúc đầy từng xô tro than nóng hổi, nhanh thoăn thoắt xách ra góc vỉa hè.
Đứng trước bãi dầu luyn đen đặc, Tuấn vung xẻng, rải đều từng lớp tro bếp nóng phủ kín lên toàn bộ bề mặt nhớp nhúa.
“Xèo… xèo…”
Những hạt tro than khô nỏ, nóng rẫy vừa tiếp xúc với dầu luyn liền phát ra những tiếng xèo xèo lách tách khe khẽ. Tro xốp như hàng triệu chiếc bọt biển tí hon, lập tức hút lấy từng giọt dầu đen ngòm, ngăn không cho chất dầu nhờn ngấm sâu thêm vào mạch gạch. Chỉ sau chừng năm phút, lớp dầu bóng nhẫy đã bị tro than hút khô, vón lại thành từng tảng bùn đất màu xám xịt, xốp vụn và mất hẳn độ trơn trượt.
Tuấn cầm chiếc chổi rễ cán dài, dùng hết sức bình sinh quét mạnh. Từng nhát chổi dứt khoát, chắc nịch gom toàn bộ lớp tro ngậm dầu vào chiếc xẻng sắt, đổ trút vào bao tải rách buộc túm miệng lại đem vứt ra thùng rác công cộng cách xa góc phố.
“Cô Cúc, đem cho tôi xô nước xà phòng đặc!” Tuấn gọi với vào trong ngõ.
Cúc đã chuẩn bị sẵn từ lúc nào. Cô khệ nệ xách ra một xô nhôm nước nóng già, bên trong đã hòa tan nửa bánh xà phòng Liên Xô màu vàng sẫm sủi bọt trắng xóa. Cúc vừa đặt xô xuống, toan xắn tay áo cúi xuống chà rửa cùng anh thì Tuấn đã nhẹ nhàng gạt tay cô ra “Nước nóng và xà phòng xút ăn tay lắm, chân cô mới đỡ đau, để tôi làm. Cô vào trong ngõ trông nồi nước dùng và chuẩn bị gánh thịt ra đi là vừa.”
Không để Cúc kịp phân bua, Tuấn cầm chiếc bàn chải xơ dừa to bản dội từng gáo nước xà phòng nóng rực xuống nền gạch. Anh quỳ một chân xuống chiếc bao tải lót, hai cánh tay rắn chắc gồng lên, chà miết từng đường gạch với lực ấn cực mạnh. Bọt xà phòng trắng xóa cuộn tròn, cuốn trôi những vệt màng dầu cặn bã cuối cùng bám trên kẽ đá.
Đúng lúc ấy, tiếng bước chân huỳnh huỵch từ đầu phố vọng lại. Bác Thược—người phu xe kéo ngoài năm mươi tuổi—quàng chiếc khăn rằn sờn chỉ, vừa kéo chiếc xe tay không đi qua ngã tư để đón chuyến hàng sớm ở ga Long Biên. Thấy Tuấn đang mồ hôi nhễ nhại cọ rửa vỉa hè nồng nặc mùi dầu, bác Thược dừng phắt xe lại, văng một tiếng chửi thề “Mả cha đứa nào chơi trò bẩn thỉu hạ lưu thế này! Chú Tuấn, cô Cúc, để đấy tôi giúp một tay!”
Nói rồi, bác Thược không ngần ngại quẳng chiếc xe kéo sát mép đường, xắn cao ống quần xông vào xách đôi thùng tôn chạy ra vòi nước máy công cộng gần bốt Hàng Đậu xách nước. Thêm hai người thợ bốc vác đêm của chợ rau đi ngang qua cũng xúm lại “Thằng nào dở trò dằn mặt gánh phở cô Cúc thế này? Rõ quân đốn mạt! Đưa cái chổi đây tôi cọ phụ cho!”
Sức mạnh của sự đoàn kết xóm giềng bình dân bùng lên giữa cữ sáng buốt giá. Người dội nước, người quét chổi, người chà xơ dừa. Những xô nước xà phòng nóng hổi liên tục được trút xuống, cuốn phăng lớp váng dầu đen ngòm theo rãnh nước chảy thẳng xuống cống ngầm. Chỉ sau hơn mười lăm phút đồng lòng chung sức, khoảng vỉa hè trước cửa quán bà Nhẫn đã trơ ra nền gạch đỏ au, sạch bong kin kít, không còn sót lại dù chỉ một chút nhớt bẩn.
Bà Nhẫn từ trong nhà bước ra, tay cầm chiếc chổi tre nhỏ quét dọn nốt những hạt nước đọng. Nhìn khoảng sân gạch tinh tươm nhưng vẫn thoang thoảng mùi khét lẹt đặc trưng của dầu máy chưa thể tan biến ngay trong không khí, bà Nhẫn quay sang nhìn Cúc, giọng xởi lởi và dứt khoát “Con Cúc nghe u! Vỉa hè tuy sạch gạch rồi nhưng cái mùi dầu luyn này dai dẳng lắm, gió bấc thổi tạt vào khách ngồi ăn vẫn thấy váng vất. Mày dẹp hết bàn ghế ngoài này đi! Khiêng hết đôi thùng phở với bàn ăn vào hẳn trong hiên nhà u mà bán!”
Cúc tròn mắt kinh ngạc, lúng búng “Kìa u… hiên nhà u hẹp thế, lại vướng chiếc chõng tre b*n n**c chè với mấy hũ kẹo lạc…”
“Vướng cái gì mà vướng!” Bà Nhẫn xua tay quầy quậy, nét mặt cương nghị của người đàn bà phố cổ cả đời nếm trải phong ba lộ rõ: “U dẹp bớt cái chõng tre con này nép vào góc tường là thênh thang ngay! Hiên nhà u lát gạch hoa cổ, lại có mái che kín gió, vừa ấm áp vừa sạch sẽ gấp vạn lần ngồi ngoài mép đường hít bụi! Mày là con cháu trong ngõ, u không cưu mang mày thì cưu mang ai? Mau, chú Tuấn với bác Thược khuân đồ vào đi!”
Cúc nhìn bà Nhẫn, rồi nhìn sang Tuấn, khóe mắt lại ươn ướt nhưng lần này là những giọt nước mắt nghẹn ngào vì hơi ấm tình người.
“Cháu… cháu đội ơn u nhiều lắm…” Cúc cúi đầu, giọng run lên.
Tuấn khẽ mỉm cười. Anh cùng bác Thược nhanh nhẹn khiêng chiếc chõng tre của bà Nhẫn nép sát vào góc chái, nhường trọn khoảng hiên nhà cổ rộng rãi, khô ráo và thơm mùi gỗ mộc cho gánh phở.
Đúng năm giờ mười lăm phút, khi ngọn đèn đường ngoài ngã tư vừa chớp tắt báo hiệu rạng đông, đôi quang gánh phở của Cúc đã được an tọa vững chãi nơi góc hiên nhà bà Nhẫn. Lò than ủ rực hồng tỏa hơi ấm sực nức, nồi nước dùng tôn gò dày dặn bốc khói nghi ngút, phả ra mùi thơm ngọt lịm của tủy bò hầm kỹ quyện với hương quế chi, hoa hồi nướng và sá sùng rang thơm phức, lập tức lấn át hoàn toàn chút mùi dầu máy vương vất ngoài lòng đường.
Bát đĩa men lam Hải Dương vẽ hoa chanh được Tuấn xếp ngay ngắn thành từng chồng tinh tươm trên mặt bàn gỗ lau sạch bóng. Đĩa ớt tươi thái lát đỏ au, những quả chanh cốm mọng nước cùng âu sành giấm tỏi ớt ngâm hoa hồi tỏa hương chua thanh dịu nhẹ.
Năm giờ ba mươi phút, khách ăn phở bắt đầu lục tục kéo đến.
Cụ Khiêm—nhà giáo về hưu ở phố Hàng Than—quàng chiếc khăn dạ len xám, tay cầm chiếc gậy trúc bước tới đầu tiên. Thấy gánh phở hôm nay được chuyển hẳn vào trong hiên nhà ấm cúng, cụ Khiêm tấm tắc gật đầu “Kê gánh vào trong này hay lắm cô Cúc ạ! Kín gió, thơm tho mà lại ấm cúng. Nào, cho tôi một bát tái chín nhiều hành hoa, nước dùng thật nóng nhé!”
“Dạ, cháu có ngay thưa cụ!” Cúc đon đả đáp, đôi bàn tay thoăn thoắt thái từng lát thịt bắp hoa mỏng dính như cánh ve, chần bánh phở mềm mướt qua nồi nước sôi lăn tăn rồi chan ngập muôi nước dùng trong vắt, vàng ánh mỡ gà tự nhiên.
Tiếp sau cụ Khiêm, cánh phu xe bốc vác bến Long Biên, mấy bác tài xế xe tải đường dài cùng các bà, các chị tiểu thương đi chợ sớm kéo đến nườm nượp. Khách ngồi chật kín ba chiếc bàn gỗ thông trong hiên nhà bà Nhẫn. Tiếng xì xụp húp nước dùng nóng hổi, tiếng thìa va vào thành bát men lách cách rộn rã, tiếng trầm trồ khen ngợi vị ngọt thanh tao của bát phở xua tan đi cái giá lạnh căm căm của buổi sớm mùa đông. Ai nấy đều hả hê khi biết mưu đồ tạt dầu bẩn thỉu của lũ tiểu nhân đã bị dập tắt hoàn toàn bởi bàn tay khéo léo của chú bộ đội phục viên và tấm lòng thơm thảo của bà con lối xóm.
Ở phía đối diện ngã tư, cánh cửa tiệm phở Vạn Lộc hé mở một khe nhỏ. Sau tấm rèm vải mốc thếch, bóng lão Tài thoắt ẩn thoắt hiện. Lão đứng chết trân nhìn sang góc hiên nhà bà Nhẫn đang tấp nập khách khứa, tiếng cười nói rộn rã át cả tiếng gió bấc. Kế hoạch bẩn thỉu rắp tâm biến góc bán hàng của Cúc thành bãi rác nhớp nhúa đã hoàn toàn phá sản. Cánh cửa tiệm Vạn Lộc tức tối đóng sầm lại một tiếng “rầm” khô khốc, trơ trọi giữa góc phố đìu hiu không một bóng khách bén mảng.
Nhìn Cúc thoăn thoắt bưng bát, nụ cười rạng rỡ đã trở lại trên gương mặt thanh tú, lòng Tuấn dâng lên một cảm giác nhẹ nhõm và ấm áp lạ kỳ. Bé Mây ngồi trên chiếc ghế gỗ con cạnh bà Nhẫn, tay cầm mẩu quẩy giòn chấm nước dùng, miệng líu lo trò chuyện với cụ Khiêm. Khung cảnh ấy bình yên và thiêng liêng đến mức Tuấn thầm tự nhủ, dù có phải đánh đổi bằng bất cứ giá nào, anh cũng sẽ che chở cho hai mẹ con cô đến cùng.
Đến khoảng hơn tám giờ sáng, khi lượng khách bắt đầu giãn dần, Tuấn lẳng lặng cầm chiếc chổi tre bước ra lại góc vỉa hè để kiểm tra lần cuối. Mặt đường nhựa và nền gạch đỏ đã khô ráo hoàn toàn dưới làn gió đông, ráo hoảnh và sạch sẽ.
Với cặp mắt quan sát sắc bén được trui rèn qua hàng trăm chuyến trinh sát luồn sâu sau lưng địch ở mặt trận Vị Xuyên, Tuấn bước chậm rãi dọc theo bờ tường rêu phong loang lổ vết vôi. Anh cúi đầu, tỉ mỉ rà soát từng vết tích còn sót lại trên nền đất.
Đúng như dự đoán của anh, kẻ thủ ác khi tháo chạy trong đêm đã để lại những dấu vết không thể xóa nhòa.
Men theo bờ tường gạch ẩm ướt, Tuấn phát hiện những giọt dầu luyn đen đặc vương vãi đứt quãng trên nền đất cát. Từng giọt, từng giọt cách nhau chừng nửa sải chân, kéo dài thành một vệt mờ dẫn thẳng về phía con ngõ cụt tối tăm ngoằn ngoèo phía sau tiệm phở Vạn Lộc. Rõ ràng, chiếc can nhựa bị rỉ dầu qua kẽ nắp lỏng trong lúc kẻ gian ôm tháo chạy thục mạng.
Tuấn đi chậm theo vệt dầu rơi rớt, bước chân khập khiễng dừng lại trước một bụi cỏ gai mọc sát chân tường Pháp cổ giáp bờ rãnh thoát nước.
Ở đó, một mẩu giẻ lau thấm đẫm dầu máy đen ngòm bị vứt vội dưới gốc cây bàng rụng lá. Dường như kẻ gian đã dùng mẩu giẻ này để lau tay hoặc quấn quanh cổ can nhựa cho đỡ trơn, nhưng trong lúc hoảng hốt trèo qua bờ rào đất thấp đã đánh rơi lại.
Tuấn khẽ ngồi xổm xuống, nhặt mẩu giẻ lau lên kiểm tra. Đó là một mẩu vải vụn cắt ra từ chiếc bao tải rách của cửa hàng lương thực mậu dịch cũ.
Đang định đứng lên, ánh mắt trinh sát của Tuấn chợt đanh lại. Dưới lớp lá bàng khô mục đọng nước mưa cạnh bờ rãnh nước, một vật thể nhỏ xíu ánh lên sắc xám đục lọt vào tầm mắt anh.
Tuấn gạt nhẹ lớp lá ướt.
Nằm lấp xấp bên bờ gạch vỡ là một chiếc cúc áo bông trần màu xám tro bằng nhựa cứng, mép cúc còn dính một mẩu chỉ dù màu xanh bộ đội bị giật đứt toạc. Chiếc cúc áo này có hoa văn dập nổi hình ngôi sao năm cánh đã mờ—loại cúc áo bông chuyên dụng của dân lái xe tải vận tải đường dài thời bao cấp, thứ trang phục mà Tuấn từng nhìn thấy một người mặc cách đây không lâu.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
