Chương 13: Thử Thách Ở Lò Mổ
Sau khi cánh cửa gỗ của tiệm Vạn Lộc sập mạnh lại giữa đêm khuya, bóng tối nơi đầu ngõ Hàng Khoai lại dường như càng đặc quánh hơn. Trong căn phòng trọ chật chội, Cúc vẫn ngồi lặng bên chiếc bàn gỗ nhỏ, đôi mắt đăm đắm nhìn theo quầng sáng dịu nhẹ của ngọn đèn dầu hoa kỳ. Hơi ấm từ bàn tay thô ráp của Tuấn như vẫn còn vương vấn trên từng ngón tay gầy guộc của cô, xua bớt đi nỗi giá lạnh đã ngấm sâu vào da thịt suốt hai năm ròng rã chịu cảnh tang chế muộn phiền.
Bỗng nhiên, từ ngoài bậc thềm gạch, tiếng bước chân khập khiễng quen thuộc vội vã quay trở lại. Ba tiếng gõ cửa dè dặt nhưng dồn dập vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịch.
“Cô Cúc, là tôi đây. Cô mở chốt cửa một lát.”
Giọng Tuấn thì thào qua khe liếp, trầm đục và mang theo một luồng khí lạnh căm căm. Cúc vội vàng buông chiếc khăn len trên tay, bước nhanh ra gạt then cài. Cánh cửa gỗ vừa hé mở, ngọn gió bấc liền ùa vào phòng làm tim đèn dầu chao đảo. Tuấn đứng sừng sững trước bậc cửa, hai hàng lông mày nhíu chặt, lồng ngực phập phồng sau lớp áo len dày sờn rách, hơi thở phả ra thành từng làn khói trắng nhờ nhờ.
“Có chuyện gì thế anh Tuấn?” Cúc khẽ hỏi, lòng dấy lên một nỗi bất an mơ hồ.
Tuấn đưa mắt nhìn quanh quất ra ngoài khoảng sân ngõ vắng ngắt, rồi hạ thấp giọng: “Ban nãy tôi ra kiểm tra then cổng ngõ thì thấy thằng Hải Búa vừa đạp xe tới. Cánh tay phải nó quấn băng trắng treo lủng lẳng trước ngực, nhưng chân cẳng vẫn còn hung hăng lắm. Lão Tài vừa mở cửa kéo tuột nó vào trong tiệm Vạn Lộc rồi cài then sắt chặt mít. Nửa đêm nửa hôm tụi nó thậm thò thậm thụt bàn mưu tính kế, chắc chắn không ngoài việc giở trò bẩn thỉu nhắm vào gánh phở của cô.”
Nghe đến cái tên Hải Búa và lão Tài, tim Cúc khẽ thắt lại. Cô nhớ lại vẻ mặt hiểm ác của lão chủ tiệm đối diện ngã tư sáng hôm qua, cùng vết thương rách toạc rỉ máu trên bắp chân Tuấn sau trận ẩu đả. Sự căm phẫn và âu lo đan xen khiến đôi môi cô khẽ mím chặt.
“Chắc chắn chúng nó cay cú vì gánh phở của mình đông khách, lại hậm hực chuyện thằng Hải bị anh bẻ tay,” Cúc nói, ánh mắt bồ câu ánh lên nét kiên nghị. “Nhưng chúng ta buôn bán lương thiện trên vỉa hè, có chú Đạt công an phường để mắt tới, chẳng lẽ chúng nó dám làm càn giữa thanh thiên bạch nhật?”
“Lũ lưu manh chợ búa cùng phường gian thương một ruộc ấy ít khi ra mặt ban ngày,” Tuấn lắc đầu, ánh mắt nghiêm nghị đầy kinh nghiệm trận mạc. “Tôi chỉ lo cữ sớm nay cô đạp xe ra bãi sông lấy thịt xương, đường sá ngoại thành vắng vẻ, chúng nó đón đường giở trò thì nguy hiểm vô cùng. Hay là để tôi đạp xe đi cùng cô? Có hai người vẫn hơn.”
Nhìn bờ vai rộng vững chãi nhưng dáng người hơi nghiêng vì bên chân thương tật của Tuấn, Cúc lập tức lắc đầu từ chối. Cô nhìn xuống lớp vải xô trắng quấn quanh bắp chuối chân phải của anh, nơi vết rách sâu do mảnh đạn cối chiến trường cựa quậy còn chưa kịp liền miệng.
“Không được đâu anh Tuấn,” Cúc nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát. “Vết thương ở chân anh vừa mới cầm máu, đi lại bình thường trong ngõ còn nhức buốt, làm sao gồng mình đạp xe vượt dốc đê gập ghềnh mấy cây số giữa trời rét cắt da cắt thịt này được? Đụng phải ổ gà dằn xóc, vết rách toạc ra nhiễm trùng thì khổ cả đời. Anh cứ ở lại phòng trọ nghỉ ngơi, đợi đến cữ bốn giờ sáng thì dậy nhóm giúp tôi lò than và trông nom bé Mây. Con bé đêm đông hay đạp chăn, có anh ở cạnh canh chừng tôi mới yên tâm đi chợ.”
Tuấn ngập ngừng, đôi bàn tay to bè nắm chặt lại rồi lại buông ra. Anh biết người phụ nữ này tuy dáng vẻ mảnh dẻ, dịu dàng nhưng bên trong lại mang một ý chí quật cường, một khi đã quyết điều gì vì người khác thì khó lòng lay chuyển.
“Vậy cô phải hết sức cẩn thận,” Tuấn căn dặn, giọng trầm ấm đầy ân cần. “Đi đường cái lớn rải nhựa, đừng rẽ vào mấy lối tắt ven bãi ngô tối tăm. Đến lò mổ lấy hàng xong thì quay về ngay, đừng nán lại nói chuyện lâu.”
“Tôi biết rồi. Ở lò mổ bãi sông, bác thợ già râu quai nón vốn là chỗ thâm tình sống chết với thầy tôi từ mấy chục năm trước. Bác ấy là người ngay thẳng, trọng tình nghĩa, chẳng đời nào nghe lời xúi bẩy của phường gian thương đâu. Anh cứ về phòng chợp mắt thêm một lúc đi.”
Tiễn Tuấn về gian chái củi, Cúc gài then cửa cẩn thận. Cô quay lại giường, nhẹ nhàng dém lại góc chăn bông chần cho con gái. Bé Mây nằm ngủ say sưa, hai má phúng phính ửng hồng trong giấc nồng, đôi tay nhỏ bé vẫn ôm chặt chú chim sẻ đẽo bằng gỗ thông mà chú Tuấn tặng hôm nào. Nhìn gương mặt thơ ngây của con, bao nhiêu âu lo, sợ hãi trong lòng Cúc bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một quyết tâm sắt đá: Dù giông bão có ập đến, cô cũng phải bảo vệ bằng được nồi nước dùng gia truyền, bảo vệ tương lai của đứa con côi cút này.
Đồng hồ trên vách tường điểm ba giờ sáng. Xa xa qua màn sương mờ mịt, tiếng chuông giáo đường ngân dài từng hồi trầm đục, báo hiệu canh tư đã tàn, chuyển sang cữ chợ sớm.
Cúc khẽ cựa mình ngồi dậy. Vừa đặt đôi bàn chân trần xuống nền gạch hoa buốt cóng, một cơn đau nhói buốt đột ngột từ khớp mắt cá chân phải giật ngược lên tận đầu gối khiến cô khẽ xuýt xoa. Vết trẹo chân sau lần ngã ở dốc Hàng Đậu mấy hôm trước vẫn chưa tan hết máu bầm; gặp tiết trời đông giá ẩm ướt, khớp xương lại sưng tấy và căng cứng. Cúc vội với lấy chai dầu tràm Huế mà bà Nhẫn cho, đổ vài giọt vào lòng bàn tay rồi xoa bóp kỹ lưỡng quanh mắt cá cho đến khi lớp da nóng ran lên, cảm giác tê dại mới dần dịu bớt.
Cúc mặc chiếc áo chần bông dày ấm vào người, quấn thêm chiếc khăn len sợi màu tro quanh cổ, rồi vấn lại mái tóc đen nhánh sau gáy bằng chiếc cặp ba lá gọn gàng. Cô ghé mắt nhìn vào góc bếp nhỏ: chiếc nồi nước dùng gánh đi bán sớm mai vẫn đang được ủ kỹ trên vầng than hồng rực, làn khói thơm dịu mùi xương tủy và quế hồi thoang thoảng bay lên trong đêm tĩnh mịch. Cô kiểm tra lại chiếc hộp sắt đựng tiền lận trong túi áo trong, rồi nhẹ nhàng mở cửa bước ra sân.
Sương muối giăng mờ mịt khắp khoảng ngõ Hàng Khoai. Những mái ngói rêu phong của phố cổ chìm trong giấc ngủ say, chỉ có vài đốm đèn dầu le lói từ những gánh hàng rong bắt đầu lục tục nhóm lửa chuẩn bị cho phiên chợ Đồng Xuân.
Cúc dắt chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam đã tróc sơn ra cổng ngõ. Hai chiếc sọt tre đan dày dặn buộc chắc chắn hai bên gacbaga sau xe, bên trong lót sẵn những tấm bao tải sạch và mấy tệp lá chuối tây tươi xanh mướt. Gió bấc từ mạn sông Hồng thổi ngược lên dốc Hàng Đậu buốt như kim châm. Cúc kéo cao vạt khăn len che kín mũi miệng, cẩn thận đặt chân lên bàn đạp. Mỗi vòng quay của bàn đạp xe gập ghềnh trên đường đê lại dằn xóc mạnh, khiến khớp mắt cá chân phải của cô nhức buốt âm ỉ. Cúc khẽ nghiến răng nén đau, cố gắng dồn trọng tâm cơ thể sang bên chân trái lành lặn, hai bàn tay ghìm chặt ghiđông sắt để giữ xe thăng bằng qua những đoạn đường đất lầy lội hướng về phía lò mổ ngoại thành ven bãi sông.
Đoạn đường đê dài hơn bốn cây số vào cữ ba giờ sáng vắng hoe, chỉ thi thoảng có tiếng xích líp khô khốc của vài chiếc xe thồ chở rau muộn xé toang màn đêm. Hơi thở của Cúc phả ra thành từng luồng sương trắng đục, hai bàn tay buốt cóng đến mức gần như mất cả cảm giác. Thế nhưng, trong lồng ngực cô, ngọn lửa của niềm hy vọng và trách nhiệm mưu sinh vẫn âm ỉ cháy, thôi thúc cô vượt qua từng cơn đau nhức để đi đến đích.
Gần bốn giờ kém mười lăm, ánh đèn măngsông sáng quắc cùng tiếng lợn, tiếng bò kêu rống xao xác từ khu lò mổ ngoại thành hiện ra sau rặng chuối ven bãi bồi sông Hồng. Không khí nơi đây nồng nặc mùi bùn đất, mùi vôi bột khử trùng, mùi rơm rạ ẩm ướt quyện lẫn với mùi gây nồng đặc trưng của thịt gia súc tươi sống. Hàng chục ngọn đuốc dầu và đèn bão lập lòe soi rõ những thân hình vạm vỡ của cánh thợ mổ đang c** tr*n trùng trục giữa trời đông giá, mồ hôi nhễ nhại bên những vạc nước sôi bốc hơi nghi ngút.
Cúc vừa phanh xe trước cổng rào tre dẫn vào lò mổ thì chợt giật mình khựng lại.
Dưới gốc cây duối cằn cỗi sát cổng rào, một bóng người đàn ông cao gầy, bận chiếc áo dạ cũ màu cứt ngựa, đội chiếc mũ nồi xùm xụp đang đứng bồn chồn. Gã liên tục rít những hơi thuốc lá hoa mai đỏ rực đầu ngón tay, mắt đảo liên hồi về phía lối vào gian nhà xẻ thịt trung tâm. Bộ dạng lén lút, bất minh của gã khiến bản năng cảnh giác trong Cúc trỗi dậy. Khi ánh đèn xe đạp quét qua gò má gồ ghề đầy sẹo rỗ của gã, Cúc nhận ra ngay đây chính là tên đàn em thân cận của Hải Búa—kẻ từng cùng lũ du côn kéo đến nẹt pô xe máy thị uy trước ngõ Hàng Khoai mấy ngày trước.
Bàn tay Cúc siết chặt ghiđông xe đạp, lòng dấy lên linh cảm chẳng lành: Lời cảnh báo của Tuấn quả nhiên không sai một li!
Không để tên lưu manh kịp nhận diện, Cúc lặng lẽ dắt xe vòng qua lối cổng phụ rải đầy xỉ than dẫn thẳng vào gian chái sau của lò mổ—nơi bác thợ mổ già râu quai nón thường đích thân pha lọc những tảng thịt bò tơ ngon nhất cho các mối quen lâu năm.
Vừa bước qua tấm rèm bao tải che chắn gió bấc, một cảnh tượng căng thẳng đập ngay vào mắt Cúc.
Dưới ánh sáng chói lòa của chiếc đèn măngsông treo trên xà nhà, bác thợ mổ già ngoài năm mươi tuổi, thân hình vạm vỡ như một bức tượng đồng hun, chòm râu quai nón rậm rạp điểm bạc đang đứng sừng sững bên chiếc thớt gỗ nghiến to bản. Trên tay bác là con dao bài sáng loáng, bản dày, lưỡi sắc lẻm đang thoăn thoắt lóc từng mảng mỡ bám quanh tảng thịt đùi lớn.
Ngay bên cạnh thớt gỗ, một gã đàn ông trạc ba mươi tuổi vận chiếc áo da bóng lộn—cũng chính là một tay chân khác của lão Tài—đang đứng khoanh tay, vẻ mặt vừa ngạo mạn vừa nài nỉ. Trên mặt thớt gỗ nghiến, cạnh những vệt máu tươi vừa rỉ ra, chình ình một cọc tiền giấy dày cộp, loại tiền một nghìn và năm nghìn đồng mới cứng được buộc chặt bằng dây chun cao su.
“Bác Ba Râu ạ, chỗ tiền này là năm vạn đồng tròn, lão Tài chủ tiệm phở Vạn Lộc gửi biếu bác làm quà giáp Tết,” gã áo da hếch hàm, giọng điệu sặc mùi trịch thượng của kẻ cậy tiền. “Lão Tài chỉ có một yêu cầu cỏn con: Từ sáng nay cho tới hết tháng Giêng, toàn bộ phần thịt bắp hoa ngon nhất, nạm gầu giòn và hai yến xương ống tủy tươi của lò mổ này, bác phải gom hết giao cho tiệm Vạn Lộc. Tuyệt đối không được xẻ dù chỉ một lạng thịt hay một khúc xương cho con mụ góa bán phở gánh ở đầu ngõ Hàng Khoai.”
Bác thợ mổ già không ngẩng đầu lên, lưỡi dao bài trong tay bác vẫn lướt đi dứt khoát qua từng thớ thịt, phát ra những tiếng xé ngọt xớt. Bác lạnh lùng hừ một tiếng qua kẽ răng “Tao xẻ thịt ở cái bãi sông này hơn ba mươi năm, thịt ngon thịt dở đều có mối quen đặt từ trước. Tiệm Vạn Lộc của chúng mày xưa nay toàn chuộng mua thịt nạc mông dai ngoách với xương đầu bò giá rẻ để bớt chi phí, nay tự dưng lại vung tiền đòi ôm trọn bắp hoa với xương ống tủy là có ý gì?”
Gã áo da cười khẩy, ghé sát tai bác thợ mổ thì thào nhưng giọng điệu lại đầy vẻ đe dọa: “Ý tứ gì thì bác cần gì bận tâm! Lão Tài nhà tôi quan hệ rộng, từ ban quản lý chợ Đồng Xuân đến cánh vận tải đường dài đều nể mặt. Bác nhận số tiền này, vừa bán được thịt giá cao gấp rưỡi, vừa giữ được mối làm ăn lâu dài. Còn con mụ góa kia thân cô thế cô, gánh phở rong ba bữa nữa là sập tiệm, bác giữ mối với nó làm cái giống gì cho thiệt thân? Nếu bác không biết điều, mai này lò mổ của bác muốn vận chuyển hàng vào nội thành trót lọt qua mấy trạm gác bến bãi, e là khó đấy!”
Từng lời lẽ bẩn thỉu của gã áo da lọt vào tai Cúc như những nhát búa nện vào lồng ngực. Cô đứng chôn chân bên cột gỗ dựng lán, hai bàn tay buốt lạnh run lên vì tức giận. Lão Tài quả nhiên thâm độc khôn cùng! Lão biết gánh phở rong của cô sống được là nhờ bát nước dùng ngọt thanh từ xương ống tươi và những lát thịt bắp hoa đỏ hồng giòn ngọt. Nếu cắt đứt nguồn nguyên liệu tươi sống này, ép cô phải dùng thịt ôi trôi nổi hoặc xương tạp, thì hương vị phở gia truyền của cha cô sẽ lập tức sụp đổ, khách hàng sẽ tự động quay lưng bỏ đi.
Trong khoảnh khắc ấy, Cúc nín thở nhìn về phía người thợ mổ già. Năm vạn đồng thời điểm năm 1989 là một món tiền rất lớn, đủ để trả tiền thuê trọ cả năm hoặc sắm sửa một cái Tết tươm tất cho cả gia đình. Liệu trước sức cám dỗ của đồng tiền và lời đe dọa bến bãi, người bạn cũ của cha cô có lay chuyển?
Bất thình lình, một tiếng “phập” vang lên đanh gọn làm rung chuyển cả gian lán gỗ!
Bác thợ mổ già vung tay, cắm phập con dao bài sắc lẻm ngập sâu nửa lưỡi vào mặt thớt gỗ nghiến. Bác ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt ti hí quắc lên những tia nhìn nảy lửa, quai hàm bạnh ra khiến chòm râu quai nón rung lên bần bật vì phẫn nộ.
“Mày câm ngay cái mồm thối lại!” Tiếng bác thợ mổ gầm lên như sấm rền, lấn át cả tiếng nước sôi sùng sục xung quanh. “Mày về bảo với thằng Tài bụng phệ rằng, bác Ba này tuy là thằng đồ tể chém thịt mổ bò, cả đời tay dính máu tanh, nhưng cái tâm này chưa bao giờ bị đồng tiền làm cho dơ bẩn!”
Gã áo da giật nảy mình, lùi lại nửa bước, mặt biến sắc: “Bác... bác điên rồi à? Chê tiền tươi thóc thật sao?”
“Tiền của thằng Tài chúng mày tanh tưởi lắm, tao không nuốt trôi!” Bác thợ mổ chỉ thẳng ngón tay thô ráp đầy vết sẹo vào mặt gã tay sai, từng lời thốt ra đanh thép như chém đá: “Mày có biết năm đói kém năm nào, mẹ con nhà tao ốm liệt giường vì dịch tả, không có tiền mua thuốc thang, ai là người cõng thầy thuốc vượt mưa gió rét mướt đến tận bãi sông này cứu mạng cả nhà tao không? Chính là cụ Cần phố Hàng Khoai! Bát phở cụ Cần nấu nuôi sống người lao động nghèo, nhân cách của cụ Cần dạy tao biết thế nào là chữ Tín của người làm ăn! Nay cụ mất rồi, con gái cụ là cháu Cúc góa bụa, dắt con thơ quẩy gánh mưu sinh bằng nghề của cha, tao đã nhận lời giữ phần thịt ngon cho nó thì dù chúng mày có đem cả trăm ngàn bạc đến đây ném vào mặt, tao cũng nhổ toẹt!”
Nói đoạn, bác thợ mổ già vung cánh tay hộ pháp, gạt phắt cọc tiền năm vạn đồng trên mặt thớt. Cọc tiền rơi thẳng vào ngực áo gã tay sai, văng tung tóe xuống nền đất lầy lội đầy xỉ than.“Cầm đống tiền bẩn của chúng mày xéo ngay khỏi lò mổ của tao!” Bác thợ mổ rút con dao bài lên, sống dao gõ chan chát xuống thớt. “Còn muốn giở trò dằn mặt chặn đường ở bến bãi à? Mày về bảo thằng Hải Búa, cánh thợ mổ bãi sông này toàn dân đi bộ đội về, súng đạn bom mìn còn chẳng sợ, dăm ba cái trò mèo của lũ du côn ranh con chúng mày chưa đủ tuổi dọa tao đâu! Cút!”
Tiếng quát lôi đình cùng khí thế áp đảo của người thợ mổ già khiến gã áo da mặt cắt không còn hạt máu. Biết không thể lay chuyển được người đàn ông gân guốc này, gã vội vã cúi nhặt những tờ tiền rơi vãi dưới đất, vừa lùi ra cửa vừa hậm hực buông lời đe dọa “Được... được lắm! Các người cứ đợi đấy, xem con mụ góa bán được bao nhiêu ngày!”
Gã tay sai hớt hải quay đầu, lủi nhanh ra phía cổng rào rồi biến mất vào màn sương đêm cùng tên đồng bọn đứng gác.
Căn lán trở lại vẻ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng củi cháy lách tách dưới đáy vạc nước sôi. Lúc này, Cúc mới khẽ thở ra, lồng ngực như trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng nãy giờ. Khóe mắt cô cay sè, những giọt nước mắt xúc động và biết ơn lăn dài trên đôi gò má tái tê vì gió rét.
“Cháu Cúc đấy phải không? Vào đây đi cháu!” Bác Ba thợ mổ quay đầu lại, ánh mắt rực lửa ban nãy bỗng chốc dịu lại, trở nên ấm áp và đôn hậu lạ thường khi nhìn thấy bóng dáng nhỏ nhắn của cô bên bậu cửa.
Cúc bước nhanh vào lán, nghẹn ngào cất tiếng: “Bác Ba... cháu cảm ơn bác. Ban nãy đứng ngoài nghe chuyện, cháu... cháu thật không biết phải đền đáp ân tình này của bác thế nào.”
Bác Ba xua xua bàn tay to bè, nở nụ cười hào sảng làm lộ hàm răng ám khói thuốc lào: “Ơn nghĩa gì đâu cháu! Năm xưa thầy cháu cứu sống cả nhà bác, cái ơn ấy bác trả cả đời cũng chưa hết. Thầy cháu là người một đời thanh bạch, bát phở cụ nấu ra bao giờ cũng trong vắt, ngọt từ tủy, thơm từ quế hồi, tuyệt đối không bao giờ làm ăn gian dối. Cháu nối nghiệp cha, chịu thương chịu khó mưu sinh nuôi con, bác không giúp cháu thì giúp ai? Lũ tiểu nhân ấy tưởng có mấy đồng bạc là mua được cả lương tâm thiên hạ chắc!”
Vừa nói, bác Ba vừa thoăn thoắt đi về phía chiếc móc sắt lớn treo ở góc lán. Bác nhấc xuống hai dải thịt bắp hoa bò tơ tươi rói, màu đỏ hồng rực rỡ, bề mặt khô ráo, từng đường gân trắng trong xen kẽ tựa như những cánh hoa bung nở. Cạnh đó là phần nạm gầu giòn thơm lừng, lớp mỡ mỏng màu vàng mỡ gà tự nhiên ép chặt vào thớ nạc đỏ thắm. Tiếp đó, bác mở chiếc bao tải gai, lôi ra những khúc xương ống bò to bản, hai đầu khớp xương còn dính nguyên lớp tủy đỏ hồng, đặc quánh và tươi mới vô cùng.
“Đây, phần của cháu hôm nay đây,” bác Ba cẩn thận xếp từng tảng bắp hoa và nạm gầu bọc kín trong lớp lá chuối tươi, rồi chuyển hai yến xương ống đã được rửa sạch máu đọng vào sọt tre cho Cúc. “Thịt bắp hoa này luộc chín tới thì giòn sần sật, thái tái thì mềm ngọt lịm đầu lưỡi. Còn chỗ xương ống này là của con bò tơ mới hạ lúc nửa đêm, tủy đặc lắm, cháu đem về rửa sạch rồi ninh gối đầu đúng mười hai đến mười bốn tiếng, nước sẽ ngọt thanh, trong vắt như nước suối đầu nguồn, chẳng cần một hạt mì chính nào cả.”
Cúc cẩn thận đỡ lấy gói thịt và bao xương, hai tay run run vì xúc động. Cô mở chiếc hộp sắt bánh quy, rút ra từng đồng tiền mồ hôi nước mắt đã vuốt phẳng phiu, đếm đủ số tiền thịt xương trao tận tay bác Ba.
“Cháu gửi bác tiền hàng sáng nay ạ.”
Bác Ba nhận tiền, chỉ đếm lướt qua rồi vỗ nhẹ lên vai Cúc: “Được rồi. Trời sắp sáng rồi đấy, đường về gió rét, cháu đạp xe cẩn thận. Bọn Vạn Lộc vừa bị bác tống cổ, có thể chúng nó sẽ tìm cách khác để phá hoại, cháu buôn bán nơi phố chợ phải luôn đề cao cảnh giác.”
“Dạ, cháu nhớ lời bác dặn ạ. Cháu đội ơn bác nhiều lắm!”
Rời khỏi lò mổ ven bãi sông, chiếc xe đạp Thống Nhất của Cúc như nặng thêm gấp bội bởi hai yến xương tủy và những tảng thịt bò tươi rói sau gacbaga. Thế nhưng, đôi chân cô đạp trên từng con dốc lại thấy nhẹ tênh lạ kỳ. Mặc cho khớp mắt cá chân phải vẫn thi thoảng nhói lên từng cơn buốt rát khi gồng sức qua ổ gà, ngọn gió bấc rít qua tai dường như bớt lạnh lẽo, bởi trong sâu thẳm tâm can, niềm tin vào tình người, vào đạo đức làm nghề chân chính đã được thắp sáng rực rỡ. Giữa thời buổi kinh tế chuyển mình đầy xáo động, đồng tiền có thể làm mờ mắt bao kẻ tham lam, nhưng những giá trị nhân văn mộc mạc của đất kinh kỳ vẫn luôn âm thầm chảy trong huyết quản của những người lao động chất phác như bác Ba thợ mổ.
Hơn bốn giờ ba mươi sáng, chiếc xe đạp của Cúc lách qua cổng ngõ Hàng Khoai.
Từ xa, Cúc đã nhìn thấy quầng sáng đỏ rực ấm áp hắt ra từ góc sân ngõ trọ. Tuấn đã thức dậy từ lúc nào. Anh đã nhóm đỏ rực hai lò than tổ ong dày dặn, những viên than bén lửa tỏa ra hơi ấm hừng hực xua tan màn sương mù đặc quánh. Bên cạnh bể nước mưa công cộng, ba thùng tôn nước giếng khơi trong vắt đã được múc đầy, mặt nước phẳng lặng soi bóng ngọn đèn dầu.
Thấy tiếng xích líp xe đạp cọc cạch dừng trước cửa, Tuấn vội vã chống chiếc đòn tre bước nhanh ra đỡ lấy ghiđông xe. Nhìn thấy gương mặt ửng hồng vì gió lạnh nhưng ánh mắt sáng ngời của Cúc cùng hai sọt hàng đầy ắp, tảng đá đè nặng trong lòng anh mới hoàn toàn tan biến.
“Cô Cúc về rồi!” Tuấn cất tiếng, giọng trầm ấm đầy vẻ nhẹ nhõm. “Đi đường có gặp trắc trở gì không cô?”
“Có gặp đôi chút sóng gió anh ạ, nhưng may nhờ có bác Ba thợ mổ trượng nghĩa che chở, mọi việc đều bình an vô sự,” Cúc mỉm cười dịu dàng, khẽ gạt lọn tóc mai bết dính mồ hôi trên trán. “Lão Tài sai người mang năm vạn đồng đến mua đứt nguồn thịt xương để ép gánh phở mình vào đường cùng, nhưng bác Ba đã ném tiền vào mặt chúng nó đuổi đi.”
Nghe Cúc kể lại vắn tắt câu chuyện ở lò mổ, bàn tay Tuấn siết chặt lấy chiếc đòn gánh, quai hàm bạnh ra: “Lũ khốn nạn! May mà bác thợ mổ là bậc trượng phu trọng chữ Tín. Cô vào phòng uống ngụm nước chè nóng cho ấm người đi, việc chặt xương, rửa thịt cứ để mặc tôi làm.”
“Không sao đâu anh, mình cùng làm cho kịp giờ chợ sớm.”
Tuấn khẽ gật đầu, đưa tay chỉ về phía chiếc nồi tôn lớn đặt trên bếp than tổ ong đang ủ ấm: “Nồi nước dùng ninh từ chiều hôm qua để bán sáng nay tôi đã canh lửa suốt đêm. Nước trong vắt, xương tủy đã rục hết, nạc nạm và bắp hoa luộc chín tới tôi cũng vớt ra đĩa để ráo rồi. Giờ chỉ cần chuẩn bị mẻ xương mới này cho ngày mai thôi.”
Cúc bước lại gần, khẽ mở nắp nồi nước dùng bán sáng nay. Một làn khói thơm ngào ngạt bốc lên nghi ngút, cuộn tròn lấy góc sân nhỏ. Nước dùng qua hơn mười hai tiếng ninh ủ cẩn thận có màu vàng ánh mỡ gà tự nhiên, trong veo nhìn thấu tận đáy, ngọt đậm đà vị tủy bò và nồng nàn hương quế hồi, thảo quả nướng. Cúc dùng muôi khẽ hớt một vệt bọt nhỏ còn sót lại, trong lòng dâng lên niềm tự hào khôn xiết. Nồi nước cốt tinh túy này chính là công sức của cô và sự tận tụy canh lửa thâu đêm của Tuấn.
Sau đó, hai người nhịp nhàng bắt tay vào sơ chế mẻ xương mới lấy về từ lò mổ để ninh gối đầu cho buổi bán sau. Tuấn nâng chiếc búa nhỏ và con dao bài sắc bén, đôi bàn tay gân guốc thạo việc giáng từng nhát chuẩn xác xuống từng khúc xương ống bò to bản. Những tiếng “cốp, cốp” giòn giã vang lên, từng ống xương vỡ vát để lộ phần tủy đỏ au, tươi rói bên trong.
Cúc thoăn thoắt đón lấy từng khúc xương, thả vào chậu nước muối loãng pha gừng già đập dập để rửa sạch hết máu đọng. Tiếp đó, cô đổ xương vào nồi nước sôi bùng trên chiếc bếp than thứ nhất để chần qua một lượt, vớt sạch lớp bọt tanh, rồi mới cẩn thận xếp từng khúc xương ngay ngắn vào đáy chiếc nồi tôn gò dày dặn thứ hai.
Trên chiếc bếp than hồng rực lửa, Cúc đặt một chiếc vỉ sắt nhỏ, cẩn thận nướng mấy nhánh quế chi dày dặn, bốn bông hoa hồi cánh nở đều tăm tắp, hai quả thảo quả nâu sẫm cùng vài củ gừng già vỏ sần sùi. Hơi lửa than l**m vào vỏ quế, hoa hồi lập tức bốc lên một mùi hương thơm nồng, cay ngọt ngào ngạt lan tỏa khắp khoảng sân ngõ. Gừng nướng cháy xém vỏ được cạo sạch lớp than đen, đập dập vừa phải để giữ trọn tinh dầu. Tất cả thứ hương liệu tinh túy ấy, cùng năm con sá sùng khô rang thơm giòn đáy chảo, được Cúc gói gọn trong một bọc vải xô sạch sẽ rồi nhẹ nhàng thả vào giữa nồi xương mới, đổ ngập nước giếng khơi để bắt đầu một chu trình ninh hầm mười hai đến mười bốn tiếng cho mẻ phở ngày mai.
Nhìn làn khói thơm bảng lảng quấn quýt bên ánh lửa than hồng, rồi nhìn sang bóng dáng cao lớn, trầm mặc của Tuấn đang cặm cụi quét dọn khoảng sân gạch, Cúc thấy lòng mình trào dâng một cảm giác bình yên đến lạ kỳ. Bát phở gia truyền của người cha quá cố không đơn thuần là một món ăn mưu sinh kiếm sống, mà nó là kết tinh của mồ hôi, của lòng tự trọng và đạo đức nghề nghiệp thanh bạch. Dù bão táp ngoài kia có dữ dội đến đâu, chỉ cần giữ trọn được cái tâm trong sạch và hương vị tinh khiết này, gánh phở của cô nhất định sẽ đứng vững.
Hơn năm giờ sáng, bầu trời phố cổ Hà Nội dần chuyển từ màu đen kịt sang màu lam xám mờ ảo. Những tiếng còi tàu hỏa từ ga Long Biên rú lên từng hồi dài báo hiệu ngày mới bắt đầu. Tiếng cọt kẹt của cửa gỗ, tiếng chổi tre quét đường rào rào hòa cùng tiếng bước chân rậm rịch của cánh phu xe, dân buôn chuyến đổ về chợ Đồng Xuân khiến không gian trở nên nhộn nhịp.
Tuấn lồng chiếc đòn tre già bóng loáng vào đôi quang gánh phở nặng trĩu. Một đầu là lò than tổ ong ủ nồi nước dùng đã ninh đủ độ nghi ngút khói thơm, đầu kia là chiếc thùng gỗ chứa bát đĩa men lam vẽ hoa chanh, âu sành đựng dấm tỏi ớt hoa hồi, chanh cốm và chiếc làn mây xếp những tảng thịt bắp hoa, nạm gầu giòn tươi rói đã luộc chín tới. Đôi vai anh hơi nghiêng, bước chân khập khiễng nhưng vững chãi gánh đôi thùng phở bước từng bước nhịp nhàng ra khỏi cổng ngõ. Cúc một tay dắt bé Mây mặc chiếc áo len đỏ ấm áp, tay kia xách làn đựng bánh phở mướt mềm và rổ hành hoa, mùi tàu thái chỉ, rảo bước đi sát bên anh.
Bên góc hiên quán nước chè đầu ngõ Hàng Khoai, bà Nhẫn đã dọn sẵn mấy chiếc ghế gỗ con con kê sát chân tường gạch rêu phong. Nồi nước chè xanh của bà đang sôi sùng sục trên chiếc bếp trấu nhỏ, tỏa hương thơm ngát.
“Hai đứa ra rồi đấy à!” Bà Nhẫn cười đôn hậu, nhổ bã trầu vào chiếc ống bơ sữa bò, đon đả chạy ra đỡ lấy chiếc làn trên tay Cúc. “Mau mau đặt gánh xuống, mấy bác phu xe bốc vác đêm ở bến Long Biên vừa ghé qua hỏi thăm từ cữ năm giờ kém đấy!”
Tuấn nhẹ nhàng hạ đôi thùng phở xuống góc vỉa hè quen thuộc, kê lại chân kiềng cho thật thăng bằng. Cúc vội vàng bày biện dao thớt, xếp từng chiếc bát men lam sạch tinh tươm lên mặt bàn gỗ nhỏ, chuẩn bị mở nắp nồi nước dùng để đón lượt khách mở hàng đầu ngày.
Thế nhưng, vừa bước chân ra mép vỉa hè giáp ngã tư Hàng Khoai để đón khách, Cúc bỗng khựng lại.
Phía đối diện ngã tư, cánh cửa gỗ tiệm phở Vạn Lộc đã mở toang. Lão Tài trong chiếc áo bông trần cổ lông đang đứng tựa lưng vào khung cửa, hai tay đút túi quần, đôi mắt ti hí lấp lánh vẻ đắc thắng và xảo quyệt. Cách gánh phở của Cúc chừng vài bước chân, một nhóm ba người phụ nữ buôn chuyến rau quả từ ngoại thành gánh hàng đi ngang qua, đột nhiên dừng bước chỉ trỏ về phía đôi thùng phở của cô rồi xì xào bàn tán với giọng điệu đầy vẻ ghê tởm “Này, có phải cái gánh phở của con mụ góa này không?”
“Đúng rồi đấy! Tôi vừa nghe mấy người dưới bến chợ đồn ầm lên từ nửa đêm, bảo con mụ này ham rẻ, toàn lén lút ra mấy lò mổ lậu mua thịt bò chết dịch với xương ôi thiu phế phẩm về ninh nước bán cho dân lao động!”
“Khiếp đảm chưa! Thảo nào bán bát phở nạm gầu đầy ắp mà giá chỉ có nghìn rưởi, nghìn bảy! Đúng là quân thất đức, coi mạng người như cỏ rác!”
Từng lời lẽ cay độc, thất thiệt như những mũi kim nhọn hoắt đâm thẳng vào tai Cúc. Nụ cười vừa chớm nở trên môi cô bỗng chốc đông cứng lại, sắc mặt Cúc tái nhợt đi, hai bàn tay buốt lạnh khẽ run lên giữa làn gió bấc buốt giá của buổi sớm mai.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
