Chương 1: Tiếng Nứt Nửa đêm
“Rắc!”
Âm thanh khô khốc, sắc lẹm xé toạc màn đêm thanh vắng của làng Bần Yên Nhân.
Trên chiếc phản gỗ lim gian giữa, ông Khổng Đình Quý giật thót mình, mở choàng mắt. Tiếng động ấy nhỏ thôi, lọt thỏm giữa tiếng dế rỉ rả ngoài bụi chuối và tiếng xe tải gầm rú vọng lại từ quốc lộ 5 cách đó nửa cây số, nhưng với một người ba mươi năm ăn ngủ cùng chum vại như ông, nó chẳng khác nào tiếng sét đánh ngang tai. Ông vùng dậy, với vội chiếc đèn dầu Hoa Kỳ đặt nơi đầu giường, quẹt que diêm bấc rồi đẩy then cửa liếp bước xăm xăm ra ngoài.
Gió đêm từ bãi bồi sông Hồng thổi qua rặng nhãn lồng xào xạc. Khoảng sân gạch Bát Tràng rộng hơn ba trăm mét vuông chìm trong quầng sáng vàng vọt lờ mờ. Tám mươi chiếc chum sành da lươn Thổ Hà và Hương Canh xếp thẳng tăm tắp thành mười hàng, im lìm như những người lính gác trung thành.
Mùi thơm sực lên nồng nàn. Không phải mùi đỗ mốc đang độ lên men ngòn ngọt ngai ngái, mà là hương tương ngấu đượm vị mật mía, bùi ngậy và sâu thẳm của thứ tương cốt đã dãi qua hai mùa nắng trọn vẹn.
Tim ông Quý thắt lại. Ông bước vội về phía hàng chum thứ tư mé tây sân gạch. Đưa ngọn đèn dầu soi sát miệng chum, bàn tay ông bắt đầu run rẩy.
Một vệt đen sẫm đang rỉ dọc từ vành miệng chiếc chum sành Thổ Hà cổ xuống tận chân đế. Vết nứt há miệng như một vết chém nghiệt ngã, để dòng tương sánh đặc màu nâu cánh gián đang ri rỉ trào ra, loang thành một vũng sẫm màu trên nền gạch đỏ. Chiếc chum này do chính tay cụ thân sinh ông chuốt gốm, nung củi từ nửa thế kỷ trước, là chiếc chum giữ cốt tương ngon nhất xưởng Quý Đức.
“Trời đất ơi…”
Ông Quý thốt lên nghẹn ngào, khuỵu hai gối xuống mặt gạch nhám lạnh ngắt. Ông áp lòng bàn tay thô ráp chai sần vào vết nứt, như thể hơi ấm da thịt của mình có thể hàn gắn lại lớp sành nung đã mỏi mệt vì thời gian. Dòng tương ấm nóng, trơn mượt trào qua kẽ ngón tay ông, mùi thơm ngào ngạt phả vào sống mũi mà cõi lòng ông đắng ngắt. Một mảnh sành nhỏ cỡ ngón tay ở mép nứt khẽ mẻ ra, rơi đánh cạch xuống đất. Cổ nhân làng Bần vẫn bảo, chum sành tự nứt giữa đêm lặng gió là điềm gở của đất trời, báo trước những biến thiên chẳng lành giáng xuống mái nhà.
Ông lúi húi dùng chậu nhôm hứng lấy phần tương cốt còn lại, chắt chiu từng giọt sánh như giọt máu của nghề tổ. Đốt ngón tay trỏ bên bàn tay phải bỗng giật giật từng cơn tê dại vì chứng đau khớp tái phát. Ông cắn răng nén đau, ngước nhìn lên vòm trời đen thẫm không một gợn mây, thở hắt ra một làn hơi buốt buốt.
Tờ mờ sáng hôm sau, tiếng còi xe khách liên tỉnh bóp dồn dập ở đầu con ngõ lát gạch nghiêng dẫn vào xưởng Quý Đức.
Khổng Nhã Uyên bước xuống xe, dáng người mảnh khảnh trong chiếc áo sơ mi trắng đóng thùng gọn gàng. Hai mươi tư tuổi, con gái lớn của ông vừa tốt nghiệp thủ khoa ngành Công nghệ Thực phẩm từ Hà Nội trở về. Đón cô không phải những va ly quần áo thời trang xúng xính của gái phố, mà là lỉnh kỉnh ba thùng xốp chống sốc dán niêm phong cẩn mật.
“Bố để đấy, nặng lắm, để con bê cho!”
Thấy cha bước vội ra với manh áo cánh nâu bạc màu, Uyên liền lên tiếng ngăn lại. Nhưng ông Quý đã nhanh tay đỡ lấy thùng xốp to nhất. Vừa chạm tay vào mép thùng, ông khẽ nhíu mày khi nghe thấy tiếng kim loại và kính va vào nhau lách cách.
“Cái gì mà cồng kềnh thế này hả con? Quần áo sách vở đâu?” Ông Quý hỏi, giọng trầm đục pha chút mệt mỏi sau một đêm thức trắng.
“Kính hiển vi quang học hai mắt, máy đo độ ẩm hạt cầm tay với mấy khay ủ vi sinh vô trùng đấy bố,” Uyên quệt vệt mồ hôi lấm tấm trên trán, ánh mắt sáng lên vẻ kiên định, tự hào. “Đồ của phòng thí nghiệm trường thanh lý, con phải nhờ thầy hướng dẫn mãi mới mua lại được giá rẻ. Mang về đây để chuẩn hóa lại quy trình cho xưởng nhà mình.”Ông Quý khựng lại nửa nhịp, cổ họng nghẹn ứ nhưng không nói gì. Trước khi Uyên bước vào cổng, ông đã kịp giấu mảnh sành vỡ đêm qua cùng tờ giấy thông báo nhắc nợ ngân hàng vào tận đáy chiếc hòm gỗ lim kê dưới gầm phản. Khoản nợ hai trăm triệu đồng vay ba năm trước để chạy thận cho bà Thục – mẹ Uyên – nay như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên từng nhịp thở của ông.
Hai cha con hì hục dọn dẹp gian buồng nhỏ mười mét vuông ở góc chái nhà, nơi xưa nay ông vẫn dùng để chất các bao muối mỏ tinh khiết. Nhìn con gái thoăn thoắt lau chùi kệ gỗ, cẩn thận đặt từng chiếc ống nghiệm thủy tinh trong vắt, máy đo nhiệt kế hồng ngoại bên cạnh những chiếc nong tre bám bụi mốc cũ kỹ, lòng ông Quý dâng lên một nỗi bất an mơ hồ. Nghề làm tương đất này ba đời nay trông vào nắng trời, nghe tiếng gió bãi sông Hồng mà đoán cữ mốc hoa cau, giờ đưa mấy thứ máy móc vô hồn lạnh ngắt này vào, liệu có giữ nổi cái linh hồn của hạt gạo hạt đỗ hay không?
Bữa cơm chiều đầu tiên sau tròn ba năm ngày giỗ mẹ diễn ra trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Mâm cơm đạm bạc đặt trên chiếc bàn tròn bằng gỗ mít cũ: đĩa rau muống luộc xanh mướt, đĩa đậu phụ làng Mơ rán vàng ruộm, và chính giữa là bát tương Bần sánh vàng óng ánh như mật ong, dậy mùi thơm bùi ngậy. Nhưng chiếc ghế gỗ cạnh ông Quý vẫn trống hoác.
Từ căn buồng áp mái phía trên, tiếng đập huỳnh huỵch của dàn nhạc điện tử cùng những âm thanh kim loại rè rè méo mó dội qua khe vách gỗ, lúc khoan lúc nhặt như kim châm vào màng nhĩ. Khổng Đình Nam, cậu con trai út hai mươi tuổi, trốn biệt trên ấy từ sáng, khóa chặt cửa không chịu xuống nhìn mặt chị gái.
“Thằng Nam nó vẫn chưa chịu đi học lại à bố?” Uyên buông đũa, khẽ thở dài, đưa mắt nhìn lên trần nhà.
Ông Quý không đáp. Bàn tay phải của ông run rẩy dữ dội khi cầm đôi đũa tre gắp ngọn rau muống. Ông cố gồng các khớp ngón tay chai sạn để ghìm lại cơn co giật, nhưng ngọn rau vẫn run bần bật trước khi rơi tõm vào bát nước tương, làm b*n r* vài giọt nâu sẫm lên mặt mâm nhôm.
Uyên nhìn chăm chú vào bàn tay run rẩy của cha. Ánh mắt cô chùng xuống trong một thoáng xót xa, nhưng rồi nét cương nghị nhanh chóng thay thế. Cô hít một hơi sâu, giọng nói dứt khoát vang lên giữa gian nhà tĩnh mịch “Bố, con nói thật lòng. Bố nhìn tay bố xem, bố còn khuấy nổi tám mươi cái chum sành ngoài kia qua mùa nắng này nữa không? Quy trình làm tương thủ công phơi nắng ròng rã sáu mươi ngày của bố quá bấp bênh. Nắng mưa thất thường một cái là hỏng cả mẻ mốc, năng suất lại quá thấp. Xung quanh làng người ta đã chuyển sang công nghệ ủ men nhân tạo, bán hàng đi khắp các tỉnh. Cứ ôm mãi nếp cũ thế này, xưởng mình làm sao gánh nổi chi phí sinh hoạt, nói gì đến chuyện duy trì căn nhà này nữa!”
Từng lời của con gái sắc như dao cứa vào lòng ông Quý. Ông nhìn bát tương trên mâm, màu cánh gián trầm lắng phản chiếu gương mặt già nua đầy nếp nhăn của mình. Ông muốn nói với con rằng tương ngon phải có thời gian ngấu, giọt ngọt hậu sâu đượm nơi cuống họng không thể làm ra bằng những phép tính cơ học vội vã. Nhưng cổ họng ông nghẹn đắng, bờ vai hơi còng xuống dưới gánh nặng của sự bất lực.
“Chị thì biết cái gì về đất này…” Ông Quý gằn giọng, đôi mắt sâu thẳm hằn lên những tia đỏ quạnh.
Giữa lúc bầu không khí trong nhà căng như dây đàn, từ ngoài ngõ bỗng vang lên tiếng đập rầm rầm dồn dập vào cánh cổng sắt.
“Rầm! Rầm! Rầm!”
Tiếng then cài rung lên bần bật, kéo theo tiếng chó sủa ran khắp xóm. Một giọng đàn ông the thé, ráo hoảnh và đanh ác xé toạc không gian nhập nhoạng tối “Ông Khổng Đình Quý có nhà không? Mở cổng ra mau! Giấy báo nhắc hạn nợ ngân hàng gửi về tận xã rồi đấy! Khoản nợ hai trăm triệu đồng vay ba năm trước đến nay đã quá hạn, chỉ còn đúng sáu mươi ngày nữa là phát mãi tài sản! Liệu mà gom tiền ra tiếp chuyện, đừng có trốn trong nhà!”
Tiếng gào thét đòi nợ như sét đánh ngang tai dội thẳng vào mâm cơm. Đôi đũa trên tay Uyên rơi đánh cạch xuống mặt mâm. Cô sững sờ quay sang, nhìn chằm chằm vào gương mặt tái mét không còn một giọt máu của cha mình.
Nắng Lên Men Vị Ngọt Nhà Mình