Chương 1: Cơn Khát Hạc Cốt
Cái nắng giữa trưa ở Bạch Sa Giới dội thẳng xuống đỉnh đầu tựa như chảo than nung đỏ, nướng chín từng hạt cát mịn trắng xóa dưới chân.
Cụ Huỳnh Tấn Quý một tay chống gậy gỗ trắc, một tay khẽ nâng quai túi da bò cũ sờn trên vai. Dáng người cụ hơi còng xuống sau hơn một thế kỷ gắn bó với những công trường đo đạc, nhưng từng bước nện trên cát vẫn vững chãi và điềm tĩnh. Dưới vành nón lá đã ngả màu xám khói, đôi mắt nâu sẫm của người thợ già một trăm ba mươi chín tuổi ánh lên tia nhìn ấm áp mà sắc sảo. Cụ đảo mắt nhìn quanh lòng chảo thung lũng Hạc Cốt. Đất đai nơi đây nứt toác thành những mảng mu rùa xám xịt. Xa xa, hàng trăm túp lều rách tả tơi của người Cát Trắng túm tụm lại tựa như những tổ mối bỏ hoang giữa hoang mạc cằn cỗi.
Một hồi trống đồng vang lên khô khốc từ phía chòi canh bằng đá vôi. Tiếng la ó, xô đẩy lập tức bùng nổ quanh trạm phân phối nước thuộc quyền kiểm soát của lãnh chúa ốc đảo Bích Lăng.
Hàng trăm người dân bản địa, từ những cụ già lưng còng đến đám đàn bà bế con thơ, rồng rắn nối đuôi nhau trong tuyệt vọng. Họ mặc những manh áo vải xơ thô ráp, da dẻ cháy sém vì gió bỏng, đôi môi nứt nẻ bật máu tươi thành từng vệt sẫm màu. Mỗi người đều run rẩy ghì chặt trong lòng một chiếc bát sành mẻ hoặc ống trúc con, ngước nhìn lên bồn nước bằng đá xanh mát rượi đặt trên cao.
Ở đó, những gã lính thiết giáp của Bá tước Cáp Đồ Nhĩ đang đứng chống giáo sắt, mặt mày vênh váo. Từng gáo nước đục ngầu, sủi bọt vàng bẩn thỉu được múc ra một cách keo kiệt, đổi lấy từng vốc đồng vụn hay những tấm da cừu mỏng manh mà người dân phải trầy da tróc vảy gom góp suốt cả tháng trời.
“Cút ra! Bấy nhiêu da vụn mà đòi đổi một gáo nước đầy à? Lũ sâu bọ này không biết điều!”
Tiếng quát tháo the thé chém ngang bầu không khí oi nồng. Cụ Quý nheo mắt nhìn về phía đầu hàng. Một bóng người gầy guộc vừa bị đá văng khỏi bậc đá, ngã dúi dụi xuống bãi cát bỏng rát ngay trước mặt cụ.
Đó là một thiếu niên chừng mười sáu tuổi, m*nh tr*n đen nhẻm, xương sườn nhô ra từng dải khô khốc như cành củi rào. Cậu bé ôm chặt lấy một bọc da thỏ rừng lép xẹp, khóe môi tứa máu, đôi mắt sáng quắc quật cường gườm gườm nhìn trừng trừng vào gã cai lính to béo đang lăm lăm ngọn roi da bò.
“Xin các ông xót thương… Mẹ cháu sốt mê man ba ngày rồi, họng khô cháy ra tro, không có hớp nước mát thì bà cụ không qua khỏi bữa nay đâu!” Cậu bé cắn răng gào lên, giọng khản đặc như tiếng sỏi cọ vào lòng máng rỗng. “Chỗ da thỏ này là công cháu rình bắt suốt năm đêm trên vách đá… Cháu chỉ xin nửa gáo nước thôi mà!”
Gã cai lính nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống lớp cát nóng, mặt xám xịt vì giận dữ “Thằng ranh con dám cãi lệnh à? Quy củ của Bích Lăng là một tấm da cừu lành lặn đổi một gáo! Mớ da thỏ rách này của mày đáng mấy xu? Lại còn dám làm bẩn giày chiến của tao!”
Gã vung cao ngọn roi da bò bện gân thú, xé gió quất thẳng xuống đầu thiếu niên đang nằm sóng xoài trên cát. A Lãng nhắm nghiền mắt, co rúm người lại theo bản năng nhưng hai tay vẫn ghì chặt bọc da thỏ trước ngực.
Bốp!
Tiếng roi da đét vào da thịt không vang lên như dự đoán. Thay vào đó là một tiếng giật khô gọn.
Ngọn roi da hung bạo bị chặn đứng giữa không trung, nằm gọn trong lòng bàn tay gân guốc, chai sần của cụ Quý. Bàn tay người thợ già chỉ khẽ siết lại, nhưng ngọn roi căng phắt như dây đàn, gã cai lính giật mạnh mấy lần mà không tài nào rút ra nổi. Mặt gã đỏ gay lên vì thẹn quá hóa giận.
“Lão già kia! Mày ở xó nào chui ra mà dám cản đường thị uy của quân tuần tra?” Gã lính quát tháo, tay kia toan rút thanh đoản đao bên hông.
Cụ Quý từ tốn buông ngọn roi ra, khóe môi khẽ nở nụ cười đôn hậu tựa như một người cha già trong xóm đang khuyên răn con trẻ. Cụ khẽ chắp tay, giọng nói trầm ấm và sang sảng cất lên, át đi cả tiếng gió rít qua hốc đá “Vị quân gia bớt giận. Già này từ phương xa tới kiếm miếng cơm manh áo, thấy đứa trẻ dại dột trong cơn túng bấn mà lỡ lời với ngài. Cơn khát giữa hoang mạc làm người ta quẫn trí, mong quân gia rộng lượng tha cho cháu nó một lần.”
Vừa nói, bàn tay thô ráp của cụ Quý vừa thò vào chiếc túi vải bố bên hông, móc ra một vốc hạt cây màu nâu bóng bẩy, tỏa ra mùi thơm dịu nhẹ ngai ngái của thảo dược vùng đồi núi. Cụ bước tới hai bước, đặt vốc hạt vào lòng bàn tay hộ pháp của gã cai lính:“Đây là hạt thục mạch già này mang từ miền rừng núi tới, ngậm vào một hạt dưới lưỡi thì cả ngày mát giọng, tiêu trừ hỏa khí trong người do gió cát sa mạc hun đốt. Xin biếu quân gia dùng tạm giải nhiệt.”
Mùi thơm thanh khiết của thảo mộc lạ lùng lập tức xua tan cái ngột ngạt tanh nồng nơi trạm gác. Gã lính ngẩn người ra, nhìn vốc hạt quý hiếm mà ở chốn khô cằn này có tiền cũng không mua nổi. Cơn giận dữ bốc đồng xẹp xuống quá nửa, gã liếc nhìn cụ già râu tóc bạc phơ nhưng dáng vẻ đĩnh đạc lạ thường, rồi hừ lạnh một tiếng, nhét vội vốc hạt vào túi áo giáp.
“Hừ, nể mặt lão già biết điều! Cút ngay, đừng để tao thấy mặt thằng ranh này quanh bồn nước nữa!” Gã quay lưng, phất tay xua đuổi rồi hậm hực bước lên chòi gác.
Đám đông xung quanh thở phào nhẹ nhõm, ánh mắt nhìn cụ Quý vừa kinh ngạc vừa kính phục.
Cụ Quý không màng đến những lời xầm xì bàn tán, lập tức quay người lại, cúi lưng quỳ một bên gối xuống nền cát bỏng. Cụ vươn hai cánh tay vững chãi đỡ lấy A Lãng, nhẹ nhàng nhấc bổng cậu bé dậy rồi dìu vào dưới bóng râm của một phiến đá vôi phong hóa gần đó.
“Cháu nhỏ có sao không? Ngồi tựa lưng vào đá cho thoáng khí.” Cụ Quý ân cần hỏi, giọng nói như dòng suối êm trôi giữa trưa hè bỏng rát.
A Lãng ngơ ngác nhìn cụ già trước mắt. Cậu bé vừa thoát khỏi lằn roi sinh tử, toàn thân vẫn còn run lẩy bẩy, bờ môi khô khốc run rẩy không thốt nên lời. Đôi mắt cậu dại đi vì kiệt sức và mất nước, hơi thở đứt quãng phập phồng nơi lồng ngực gầy trơ xương.
Cụ Quý nhìn đôi môi rỉ máu của đứa trẻ, lòng dâng lên niềm xót xa vô hạn. Cụ với tay tháo chiếc ống nứa nhỏ cài bên hông túi da. Ống nứa được nút chặt bằng sáp ong, bên trong chỉ còn non nửa bát nước thảo dược tinh khiết cụ chắt chiu suốt chặng đường dài.
Cụ cẩn thận mở nút sáp, nghiêng nhẹ miệng ống.
Từng giọt nước trong vắt, mát lành nhỏ xuống, thấm ướt bờ môi nứt toác của A Lãng.
“Uống từng giọt một thôi cháu. Ngậm trong khoang miệng cho ngấm từ từ, đừng nuốt thốc kẻo lạnh dạ dày sinh đau.” Cụ Quý vừa đỡ cằm cậu bé, vừa dịu dàng dặn dò.
Giọt nước mát lạnh chạm vào đầu lưỡi tựa như cơn mưa rào cứu rỗi mảnh đất khô cằn. A Lãng khẽ rùng mình, dòng nước thanh ngọt trôi xuống cổ họng làm dịu đi cơn rát bỏng như lửa đốt. Đôi mắt đục ngầu của cậu dần dần lấy lại thần thái, sự sống như từ cõi chết quay trở về trên gương mặt xám ngoét.
Cậu bé run rẩy bấu lấy vạt áo chàm của cụ Quý, nước mắt ứa ra ròng ròng trên gò má lem luốc cát bụi “Ông cụ… ông cụ cứu cháu… Mẹ cháu… mẹ cháu ở trong lều còn đang đợi…”
“Cứ bình tâm, có già này ở đây rồi.” Cụ Quý cười đôn hậu, bàn tay vỗ nhè nhẹ lên bờ vai gầy của cậu bé.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc cúi người xuống để đỡ A Lãng đứng dậy, ánh mắt tinh tường của cụ Quý bỗng khựng lại.
Từ chiếc túi áo rách bươm của thiếu niên, một vật nhỏ vừa rơi lăn lóc ra nền cát trắng.
Đó là một mảnh đá phong hóa chỉ to bằng nửa bàn tay, bề mặt xù xì lấm tấm những mảng màu xám xanh kỳ dị. Nhưng điều khiến bàn tay từng đo đạc hàng ngàn con sông ngầm của cụ Quý phải rung lên khe khẽ, chính là đường rãnh nứt hẹp chạy dọc thân đá.
Nơi vết rạn ấy đọng lại một lớp màng vôi mỏng tang, lấp lánh những hạt tinh thể muối khoáng ngậm ẩm li ti – dấu hiệu không thể nhầm lẫn của tầng đá vôi xốp nằm sâu ít nhất năm mươi trượng dưới lòng đất, nơi chỉ có những mạch nước ngầm khổng lồ với áp suất cực lớn mới có thể tôi luyện nên.
Thước Thủy Bằng Đồng Nối Lại Mạch Nước Ngầm