Chương 6: Vết Cắt Hẻm Quỷ Khóc
Âm vang “bong…” trầm đục dội ngược từ lòng đất như một sợi tơ vô hình thắt lấy lồng ngực những người ngồi trong xưởng đục đá. Ngọn đèn dầu lạc chao nghiêng, hắt bóng Thiết Bá đổ dài lên vách đá vôi xốp xù xì. Gã thợ cả nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng giần giật, bàn tay gân guốc siết chặt lấy chiếc quai búa đục đặt bên đùi.
“Hoàng Tuyền Thủy Ngụy… cổ mạch ngầm ba mươi trượng…”
Thiết Bá lẩm bẩm, giọng khàn đặc như hai hòn sỏi cọ vào nhau. Nhưng chỉ trong một chớp mắt, tia sáng le lói nơi đáy mắt gã bỗng chùng xuống, nhường chỗ cho nỗi sợ hãi truyền kiếp đã bám rễ qua bao đời dân ngụ cư nơi cát trắng. Gã ngước lên nhìn cụ Quý, giọng run rẩy “Nhưng thưa cụ Quý… người già trong thung lũng vẫn rỉ tai nhau về tai họa Hoàng Tuyền Huyết Mạch. Lòng đất này cất giữ con quái vật khí nén hung bạo, hễ mũi đục chạm vào không khéo làm rách màng đá, cả hoang mạc sẽ sụt lún thành một hố sâu chôn vùi vạn mạng người. Bá tước Cáp Đồ Nhĩ xây đập dày ba tầng đá hoa cương còn chẳng dám đục sâu, lũ thảo dân chúng tôi… liệu có đang rước vạ diệt tộc?”
Mấy người thợ đá ngồi cạnh khẽ rụt cổ lại, mắt đảo quanh nhìn nền đất nứt nẻ dưới chân như sợ nó chực há miệng nuốt chửng lấy mình. A Lãng ngồi bên cạnh cụ Quý, dẫu vai áo còn vương vệt máu khô từ vết thương bả vai, ánh mắt thằng bé vẫn rực lên ngọn lửa bướng bỉnh “Anh Thiết Bá sợ gì chứ! Chẳng nhẽ ngồi chờ ba ngày nữa để lão béo Cáp Đồ Nhĩ đem quân san phẳng xóm lều à? Thầy Quý chỉ cần gõ ba nhịp búa đã làm tường thành Bích Lăng rỉ nước, thầy nói có nước thì chắc chắn có nước!”
Cụ Quý điềm đạm mỉm cười, thong thả đưa tay vuốt chòm râu bạc như mây núi. Cụ vỗ nhẹ lên mu bàn tay gầy guộc của A Lãng để trấn an thằng bé, rồi ngước nhìn Thiết Bá bằng đôi mắt nâu ấm áp, sáng trong “Chú em nói không sai. Lòng đất ngậm khí nén và nước dữ chẳng khác nào con lạc đà bất kham, kẻ vụng về vung roi bừa bãi ắt bị nó quăng xuống vực. Đập đá Bích Lăng xây chặn họng thoát tự nhiên khiến áp lực tích tụ đến bờ vực vỡ tung, đó là do lòng tham che mờ mắt kẻ cai trị. Nước muốn xuôi dòng thì ta mở lối cho nước đi. Muốn khơi thông mà không làm sụt lở hoang mạc, già này phải tìm cho ra nguồn cấp nước thượng nguồn, đo từng tấc dốc, tính từng phân lực nén.”
Cụ Quý chỉ tay về hướng bắc, nơi bóng đen sừng sững của rặng núi Hắc Nham như lưỡi cưa khổng lồ khẽ rạch vào màn đêm “Cội rễ của mạch nước ngầm nằm ở Hẻm Quỷ Khóc. Đêm nay, già này cần lên đó khảo sát thực địa. Biết rõ độ cao đáy hẻm so với thung lũng Hạc Cốt, ta mới vạch được đường dẫn nước tự chảy an toàn.”
Thiết Bá giật mình nhìn ra ngoài trời “Hẻm Quỷ Khóc? Nơi đó địa hình hiểm trở, vách đá dựng đứng lại đầy bẫy cát lún. Hơn nữa, chốt canh của đám lính giáp sắt tuần tra ngặt nghèo lắm cụ!”
“Càng nguy hiểm, ta càng phải đi trước khi trời sáng,” cụ Quý cẩn thận xếp chiếc thước thủy bằng đồng vào bao da đeo bên hông, giọng kiên định lạ thường. “Nếu không đích thân đo đạc, ba ngày sau lấy gì để cứu vạn sinh linh thung lũng?”
Thấy quyết tâm không thể lay chuyển của cụ già trăm tuổi, ngực Thiết Bá phập phồng xúc động. Gã dằn mạnh chiếc búa đục xuống đất, nghiến răng “Được! Thằng này sinh ra từ đá, chết cũng chôn trong hốc đá. Để tôi dắt hai con lạc đà gầy đưa cụ đi đường tắt tránh trạm gác.”
“Cháu đi với!” A Lãng bật dậy, bàn tay thoăn thoắt nhét mảnh đá phong hóa có vệt khoáng ngậm muối sâu vào túi ngực. “Hẻm Quỷ Khóc là nơi ông nội cháu từng đặt chân tới, từng khe đá lối mòn cháu đều thuộc như lòng bàn tay!”
Cụ Quý nhìn vết thương bả vai của cậu bé, thấy nét mặt cậu rắn rỏi không chút nao núng thì khẽ gật đầu “Được, cháu nhỏ dẫn đường. Nhớ đi khẽ, giữ nhịp thở cho êm.”Nửa canh giờ sau, ba bóng người cùng hai con lạc đà sa mạc gầy guộc lặng lẽ rời khỏi thung lũng Hạc Cốt. Đêm hoang mạc lạnh thấu xương, gió buốt quất vào mặt rát buốt như dao cứa, đối lập hoàn toàn với cái nóng hầm hập thiêu đốt ban ngày. Cụ Quý quấn chặt manh áo vải thô màu chàm, ngồi vững chãi trên lưng con lạc đà đang lững thững bước từng bước êm ru trên cát mịn. A Lãng đi trước dẫn dây cương, nép mình dưới bóng râm của các vách đá phong hóa, khéo léo luồn lách qua những con đường mòn cheo leo để tránh ánh lửa bập bùng từ các chòi canh của quân lính Bích Lăng.
Khi vệt sáng rạng đông màu lòng đỏ trứng gà vừa nhú lên nơi chân trời phía đông, ráng mai lạnh lẽo quét qua hoang mạc cát trắng, soi rõ một vết nứt khổng lồ chia cắt đôi bờ đất đá. Hẻm Quỷ Khóc đã hiện ra ngay trước mắt.
Đó là một đoạn đứt gãy địa chất sâu hun hút nằm kẹp giữa những khối đá xám đen của rặng Hắc Nham. Hai vách đá dựng đứng chọc thẳng lên trời cao như hàm răng của loài quỷ dữ thời tiền sử, nham nhở và trơ trọi. Từng cơn gió sa mạc thổi thốc vào họng hẻm hun hút, luồn qua các hang rỗng và khe nứt tầng tầng lớp lớp, phát ra những tiếng rít u u, r*n r* nghẹn ngào như tiếng khóc than ai oán của oan hồn. Dưới đáy vực, đá tảng ngổn ngang phủ đầy bụi trắng, không một cọng cỏ lạc đà nào sống sót nổi.
“Đến nơi rồi cụ ơi,” A Lãng ghì chặt dây cương, hai hàm răng va vào nhau vì gió lạnh thốc qua khe núi. “Đáy hẻm này sâu lắm, gió luồn vào nghe ghê rợn nên người ta mới đặt tên là Quỷ Khóc.”
Cụ Quý khẽ vỗ vai con lạc đà cho nó quỳ xuống, rồi bước chân trần xuống nền đá lởm chởm. Cụ không màng đến tiếng rít ma quái của gió cát, đưa mắt ngắm nhìn địa tầng tầng vỉa phơi bày trên vách đá đứt gãy. Từng lớp sa thạch đỏ, đá vôi xốp xám xịt xếp chồng lên nhau như những trang sách mở toang bí mật ngàn năm của lòng đất.
“Không phải quỷ khóc đâu cháu,” cụ Quý nói, giọng trầm ấm át đi tiếng gió rít. “Đó là tiếng hơi ẩm tầng sâu luồn qua hang rỗng thoát lên khi nhiệt độ thay đổi. Đất đá đang thở đấy thôi.”
Cụ bước tới mép một tảng đá phẳng nhô ra ở bờ vực, cẩn trọng tháo bao da, lấy ra cây thước thủy bằng đồng đỏ. Dưới ánh bình minh nhợt nhạt, thân thước đồng ánh lên nét đôn hậu, vững chãi. Cụ Quý ngồi xổm xuống, đặt cạnh thước áp sát vào vách đá ngắm theo phương vị đáy hẻm núi trổ về thung lũng Hạc Cốt xa xa. Giọt bọt dầu trong ống thủy tinh kẹp giữa thân thước khẽ dao động qua lại, rồi dừng lại ở một vạch chia vi sai chếch hẳn về một phía.
Cụ Quý nhíu mày nheo mắt, tay kia rút quả dọi chì hình hồ lô thả xuống một khe nứt thẳng đứng, kiểm tra đường vuông góc tương đối. Đoạn, cụ rút cuốn sổ tay bằng giấy dó sờn mép cùng mẩu than củi, cặm cụi ghi lại từng con số đo đạc.
Thiết Bá vác búa đứng chắn gió cho cụ, sốt ruột hỏi “Sao rồi cụ Quý? Đáy hẻm này có cao hơn cái thung lũng khát nước của chúng ta không?”
Cụ Quý ngẩng đầu lên, trong khóe mắt hằn sâu vết chân chim bỗng bừng sáng một niềm hân hoan rạng rỡ. Cụ chỉ ngón tay thô ráp xuôi theo sườn đứt gãy kéo dài “Trời không triệt đường sống của người lành, chú em ạ! Nhìn vạch bọt dầu này xem. Độ dốc tự nhiên từ đáy hẻm này xuôi về thung lũng Hạc Cốt thấp hơn đúng mười lăm trượng trên suốt chiều dài đường đi. Mười lăm trượng nghiêng vi sai! Một độ dốc hoàn hảo để dòng nước ngầm có thể tự chảy xuôi dòng mà không cần sức người tát, cũng không sợ dòng chảy quá dốc làm xói lở đáy hầm.”
Thiết Bá mở to mắt, ngực đập thình thịch “Nước… nước thật sự có thể tự bò về tận lều của bà con sao cụ?”
“Nước chảy chỗ trũng, đó là đạo của trời đất,” cụ Quý cười sang sảng, tiếng cười xua tan vẻ âm u lạnh lẽo của Hẻm Quỷ Khóc. “Chỉ cần ta đào được một đường ngầm xuyên lòng đá…”
Lời cụ chưa dứt, bất chợt từ đỉnh vách đá hoa cương dựng đứng phía trên đầu ba người, một bóng đen khoác giáp sắt lén lút lướt qua màn sương sớm.
“Cạch! Lộp cộp…”
Một hòn đá bị gót giày sắt giẫm phải trượt khỏi gờ vách, lăn lông lốc qua các tầng nứt rồi rơi trúng ngay sát chân cụ Quý, vỡ vụn làm đôi giữa làn bụi cát trắng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
