Chương 21: Dòng Ngọt Trỗi Dậy

Tiếng tù và bằng vỏ ốc biển từ giếng số ba mươi sáu ngoài thung lũng Hạc Cốt vẫn ngân dài từng hồi trầm hùng, luồn qua các vòm đá vôi sâu hun hút dội xuống đáy vực. Dưới ánh sáng lấp lánh phản chiếu từ gương đồng, cụ Huỳnh Tấn Quý đứng tựa lưng vào mép đá, lắng nghe tiếng lòng đất đang chuyển mình.

Dòng nước mát lạnh róc rách trôi êm ả dưới máng sa mộc. Không còn tiếng rên xiết gầm rú, không còn những bọt khí lưu huỳnh độc hại xộc lên cay xè sống mũi. Áp suất khổng lồ của cổ mạch Hoàng Tuyền Thủy Ngụy sau khi được mở rãnh xả đúng ba phân trên mỗi mười trượng đã hoàn toàn thuần thục, uốn mình xuôi theo con kênh ngầm dài hai mươi dặm.

Cụ Quý cúi người, lấy ngón tay miết chặt từng then gỗ sa mộc kẹp bên hông rốn đá. Cụ gõ nhẹ chuôi búa trắc âm kiểm tra độ khít khao của mộng giằng, rồi ngẩng đầu bảo Thiết Bá “Mọi then chốt đều ăn khớp vững như bàn thạch, chú Bá à. Tầng đá vôi ngậm nước đã định hình, áp lực nước chia đều sang lòng kênh ngầm nên vách hẻm này sẽ không còn nguy cơ nứt toác sụt lở nữa đâu. Giờ ta kiểm tra lại dây cáp rồi lên mặt đất thôi.”

Thiết Bá đưa tay quệt vệt máu khô nơi khóe môi, hai bàn tay thô ráp đen đúa vì bám bụi than siết chặt lấy thanh giằng gỗ một lần cuối. Gã cười khà khà, tiếng cười rung rinh v*m ng*c vạm vỡ “Cả đời thằng này đục đá nung vôi, chưa từng thấy phép mầu nào chắc nịch như nhịp búa của cụ! Nước đi rồi, êm như ruột lạc đà!”

A Lãng nhanh nhẹn tháo móc sắt của rọ mây bọc da gai, kéo dây báo hiệu cho toán thợ trên đỉnh vực. Chiếc rọ mây lắc lư hạ xuống đáy sâu năm mươi trượng. Cụ Quý nhường cho hai người thợ đá bị thương nhẹ lên trước, rồi cụ cùng Thiết Bá và A Lãng bước vào rọ sau cùng. Dây tời làm từ da lạc đà bện chặt căng cước, chầm chậm kéo cả ba rời khỏi đáy Hẻm Quỷ Khóc tối tăm, vươn dần về phía vòm trời xanh ngắt rực nắng.

Vừa đặt chân lên gờ miệng vực, cụ Quý bất giác nheo mắt trước ánh dương rực rỡ chan hòa. Nhưng đập vào mắt cụ không phải là cảnh hoang mạc chết chóc khô cháy quen thuộc của Bạch Sa Giới.

Từ miệng giếng số một ngay sát hẻm núi, trải dài dằng dặc hai mươi dặm về hướng thung lũng Hạc Cốt, ba mươi sáu miệng giếng thông khí thẳng đứng tựa như ba mươi sáu búp sen đá đang tỏa ra luồng hơi ẩm mát rượi. Và ở tận đáy lòng chảo xa xa, nơi miệng giếng số ba mươi sáu trổ ra các mương đá tự chảy, một cột nước ngọt trong vắt cuồn cuộn dâng trào, túa ra các rãnh mương đan xen như mạng nhện.

Hơn một vạn hai nghìn người dân tộc Cát Trắng từ khắp các triền cát trập trùng đang đổ xô về quanh mương nước. Tiếng tù và vỏ ốc rền vang hòa cùng tiếng gõ mâm đồng, tiếng reo hò rợp trời dậy đất. Có những cụ già tóc bạc phơ quỳ sụp bên dòng nước, vục từng vốc nước mát xoa lên trán, lên đôi mắt mờ đục vì bụi cát mà bật khóc nức nở như con trẻ. Lũ trẻ con c** tr*n hò reo, nhảy cẫng lên té nước vào nhau, giọt nước bắn tung tóe dưới ánh mặt trời lấp lánh như chuỗi hạt ngọc.

“Nước về rồi! Trời phật ơi, nước ngọt thật rồi!”

“Mạch sống chảy rồi bà con ơi!”

Cụ Quý mỉm cười đôn hậu, lồng ngực già nua phập phồng niềm xúc động khôn xiết. Cụ bước nhanh theo lối mòn đá dăm đi xuống sườn đồi, chiếc túi da bên hông khẽ đung đưa. Đội trưởng Ba Đồ trong bộ giáp sắt bám đầy bụi đỏ đứng đón ở đầu dốc. Thấy cụ Quý bình an trở về, gã vội bước tới, đôi mắt quầng thâm rực lên vẻ kính phục tột bực.

“Lão trượng!” Ba Đồ siết chặt chuôi đao, giọng nghẹn lại. “Đập đá Bích Lăng… vừa có tin báo về. Ngay khi tiếng tù và nổi lên, chân tường thành hoa cương đã ngừng hẳn hiện tượng rỉ bùn đỏ. Túi khí ngầm xẹp xuống, con đập đá đã đứng vững hoàn toàn. Hoang mạc này… thật sự thoát nạn diệt vong rồi!”

Cụ Quý vỗ nhẹ vào cánh tay bọc sắt của người đội trưởng, từ tốn nói “Nước không muốn phá đập đâu chú em. Bị chặn nghẽn quá lâu thì nó phải vùng vẫy tìm đường thoát thôi. Nay mở lối cho nước tự chảy vào kênh ngầm Kharez chia đều cho muôn người, đất trời tự khắc thuận hòa, tai ương ắt dứt.”

Lúc bấy giờ, A Lãng từ sau lưng cụ Quý bước nhanh tới mép mương đá đầu nguồn. Cậu thiếu niên run run thò tay vào ngực áo, lấy ra mảnh đá phong hóa vỡ mép mà người ông nội quá cố đã để lại. Cậu quỳ một gối, cẩn trọng áp cạnh vỡ của mảnh đá vào vỉa đá vôi ngậm nước nơi dòng chảy vừa tràn qua mương dẫn.Dưới ánh nắng rọi xiên qua làn nước trong vắt, những đường vân thạch cao màu xám trắng trên mảnh đá vỡ khớp chuẩn xác đến từng kẽ răng cưa với mạch đá ngầm dưới đáy mương. Mạch nước ngọt mát lạnh luồn qua kẽ đá, gột sạch lớp bụi cát bám hàng chục năm ròng, làm lộ rõ ánh tinh thể lấp lánh như ngọc.

“Ông nội ơi… đúng rồi… đúng là ở đây rồi!” A Lãng nghẹn ngào thốt lên, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má đen sạm, rơi xuống hòa vào dòng nước mát. “Cổ mạch Hoàng Tuyền Thủy Ngụy có thật… Lời ông dặn năm xưa cháu đã tìm ra rồi!”

Thiết Bá bước tới, đặt bàn tay nặng trịch lên vai cậu bé, đôi mắt người thợ đục đá cũng đỏ hoe vì xúc động.

Cụ Quý mỉm cười bước lại gần. Cụ tháo chiếc gáo múc nước bằng gỗ dừa tiện khảm đồng đeo bên hông, cúi xuống vục một gáo nước ngọt mát lành đầu nguồn sóng sánh. Dòng nước tinh khiết không một gợn cát, tỏa ra mùi hương thanh tao của khoáng thạch cổ xưa. Cụ trao gáo nước vào tay A Lãng “Cầm lấy gáo nước này về cho mẹ cháu đi, A Lãng. Uống ngụm nước đầu nguồn do chính công sức cháu đào hầm dẫn về, bệnh tình của mẹ cháu ắt sẽ tiêu tan.”

“Dạ! Cháu đội ơn thầy Quý!”

A Lãng ôm chặt chiếc gáo gỗ bằng cả hai tay, cẩn thận từng bước chân chạy băng qua bãi cát hướng về khu lều rách nát ở cuối xóm cát. Cụ Quý cùng Thiết Bá và Ba Đồ rảo bước theo sau.

Trong túp lều xiêu vẹo lợp bằng lá chà là khô khốc, người mẹ gầy gò của A Lãng vẫn nằm thiếp trên manh chiếu rách. Tiếng reo hò ngoài thung lũng dường như đã đánh thức bà. Thấy con trai hớt hải chạy vào bưng theo gáo nước tỏa hơi lạnh thanh khiết, bà run rẩy chống tay gượng ngồi dậy.

“Mẹ ơi, nước ngọt của kênh Kharez đã về rồi! Thầy Quý bảo con mang gáo nước đầu nguồn về cho mẹ uống!” A Lãng quỳ xuống bên mép chiếu, cẩn thận kề miệng gáo vào bờ môi khô nẻ của mẹ.

Bà cụ hớp từng ngụm nhỏ. Dòng nước ngọt lịm, mát rượi thấm sâu vào cuống họng khô cháy bấy lâu. Cơn sốt li bì dường như tan biến sau từng hơi thở. Trước sự chứng kiến xúc động của những người hàng xóm vây quanh cửa lều, sắc mặt xám ngắt của bà cụ dần ửng hồng trở lại, đôi mắt trũng sâu lấy lại vẻ tinh anh, khỏe khoắn. Bà nắm lấy bàn tay chai sần của con trai, rưng rưng nhìn cụ Quý đứng ở cửa lều “Đội ơn trời đất… đội ơn cụ già nhân đức đã cứu sống mẹ con thảo dân…”

Cụ Quý bước vào, chắp tay khẽ nghiêng mình “Bà con đừng nói lời ơn huệ. Già này chỉ góp vài con tính trắc địa, còn con kênh ngầm hai mươi dặm này là do chính mồ hôi, máu và sự kiên gan của A Lãng, của chú Bá cùng toàn thể bà con tộc Cát Trắng hợp sức mà nên. Từ nay, nước ngọt đã là của muôn nhà, không ai còn phải chịu khát nhục nhã nữa.”

Bà con lối xóm quanh lều đồng loạt cúi đầu tạ ơn, tiếng vỗ tay và lời ca tụng vang dội khắp xóm nghèo thung lũng Hạc Cốt.

Nhưng đúng lúc niềm hân hoan đang lan tỏa ngập tràn khắp các ngõ lều, một hồi chuông báo động bằng sắt rít lên chói tai từ chòi canh phía rìa sa mạc.

Tiếng cát lún rào rào dội lại mỗi lúc một gần. Từ chân trời phía đông, bụi cát bốc lên mù mịt như một vòi rồng nhỏ. Giữa làn bụi vàng cuồn cuộn, cỗ xe pháo đá đồ sộ bằng gỗ mun bịt đồng thau do tám con lạc đà lực lưỡng kéo đang lừng lững tiến vào thung lũng.

Trên lưng con lạc đà đầu đàn, Bá tước Cáp Đồ Nhĩ khoác áo giáp vàng lấp loáng, tay lăm lăm ngọn roi da nạm ngọc, dẫn theo một toán kỵ binh thiết giáp giáo sắt rầm rộ áp sát ranh giới xóm lều. Bóng đen của cần pháo đá khổng lồ phủ trùm lên bãi cát trắng ngay khoảnh khắc bóng nắng tròn bóng dưới chân cọc mốc — thời hạn đúng một ngày một đêm mà gã áp đặt vừa chạm khắc cuối cùng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.