Chương 9: Bản đồ Hai Mươi Dặm
Thấy ba gã lính thiết giáp nằm sõng soài trên cát lạnh, Thiết Bá siết chặt chuôi búa đục đá, gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay trần “Cụ Quý! Là quân của Cáp Đồ Nhĩ! Bọn chúng rình rập hại ta, trời phạt vùi cát thế này là đáng đời!”
“Chớ nói vậy chú em,” cụ Huỳnh Tấn Quý nghiêm giọng, bước chân vội vã băng qua bãi cát còn ẩm lạnh. “Trước bão cát đất trời, ai nấy đều là sinh linh bằng xương bằng thịt. Thấy người gặp nạn mà bỏ mặc thì lòng dạ nào cầm nổi thước dọi trắc địa? Mau, chú cùng tôi kéo họ vào vòm đá!”
Cụ Quý cúi xuống, luồn đôi bàn tay thô ráp xốc nách Ba Đồ. Thiết Bá nghiến răng, dù hậm hực nhưng không dám trái lời, vội buông búa chạy lại cùng cụ già khiêng Ba Đồ vào trong hốc đá vôi. A Lãng đỡ hai người lính còn lại, chân thoăn thoắt dọn bớt lớp cát vụn phủ trên mặt họ.
Cụ Quý đặt Ba Đồ tựa lưng vào vách đá bằng phẳng, nhẹ nhàng tháo gỡ miếng giáp che ngực đã méo mó. Cụ dùng vạt áo chàm lau sạch cát bụi bám đầy trong khóe mắt, lỗ mũi của viên đội trưởng, rồi rút chiếc bầu nậm bằng gỗ đeo bên hông. Cụ khẽ nâng cằm Ba Đồ, nghiêng bầu nậm nhỏ từng giọt nước thảo dược vào đôi môi khô nứt toác.
Từng giọt nước mát lành tí tách thấm vào cuống họng cháy rát. Lồng ngực Ba Đồ giật thót một cái, bật ra cơn ho khan dữ dội, tống ra một búng đờm lẫn cát mịn. Đôi mắt trũng sâu từ từ mở ra trong ánh sao mờ rọi qua cửa vòm.
Nhìn thấy râu tóc bạc phơ của cụ già 139 tuổi kề sát bên cạnh, rồi liếc sang Thiết Bá đang lăm lăm cây búa đục và A Lãng với bả vai băng vải thô, Ba Đồ bàng hoàng co rúm người lại, giọng khàn đặc “Lão trượng… Là các người? Ta… ta chưa chết sao?”
Cụ Quý mỉm cười đôn hậu, đưa thêm nắp nước thảo dược ấm áp sang “Chú em qua cơn nguy khốn rồi. Uống thêm ngụm nước này cho ấm tỳ vị. Bão cát đã tan, trời thương nên giữ lại mạng cho ba người.”
Ba Đồ run rẩy đỡ lấy nắp gỗ. Nước trôi xuống đến đâu, cảm giác sống lại lan tỏa đến đó. Viên đội trưởng nhìn quanh, thấy hai người lính dưới quyền cũng đang được A Lãng chăm sóc cho nhấp từng ngụm nước ngọt quý giá. Một nỗi hổ thẹn lẫn xót xa dâng trào bóp nghẹt tim gan anh. Những kẻ mà lãnh chúa gọi là “lũ giòi bọ”, “lão già gàn dở”, những người mà quân lính của anh từng xua đuổi, bắt bớ ở quảng trường, lại sẵn lòng san sẻ từng giọt sống thiêng liêng giữa hoang mạc để cứu lấy mạng anh.
“Tại sao… lại cứu chúng tôi?” Ba Đồ nghẹn ngào, bàn tay siết chặt mảnh giáp sắt sứt sẹo. “Các người không sợ ta báo về ốc đảo, dẫn quân tới lấp miệng hang sao?”
Cụ Quý từ tốn thu lại bầu nước, ánh mắt sáng trong như ánh sao trời “Nước không phân biệt sang hèn, kỹ nghệ không dùng để hại người. Già này đo đất tìm dòng sống cho muôn dân, trong đó có cả gia đình của chú em, mẹ già của chú ở khu lều nghèo thung lũng Hạc Cốt. Người cùng một đất cát, cớ chi phải dồn nhau vào chỗ chết?”
Ba Đồ nghe nhắc đến mẹ già, sống mũi cay xè, cúi gầm mặt xuống nền đá lạnh, hai vai run lên bần bật.
Nghỉ ngơi thêm nửa khắc, nhận thấy sức lực của ba người lính đã dần hồi phục, cụ Quý liền thu xếp hành trang. Cụ dặn dò Ba Đồ dẫn lính tìm lối mòn phía tây mà trở về ốc đảo, tránh đụng độ gió độc ban đêm. Đoạn, cụ cùng Thiết Bá và A Lãng dắt hai con lạc đà chở cọc tiêu, cẩn trọng men theo triền đá khuất gió, bí mật trở về thung lũng Hạc Cốt trước khi trời rạng.
Trở về căn lều đất nung kín đáo của Thiết Bá ở rìa xưởng đá, cụ Quý chẳng màng tới nỗi mệt nhọc sau chặng đường dài. Cụ bảo A Lãng châm ngọn đèn dầu lạc đà leo lét, rồi cùng Thiết Bá dọn sạch mặt đất nện bằng phẳng giữa gian lều.
Cụ Quý trải rộng một tấm da cừu lớn màu vàng ngà đã thuộc nhẵn nhụi lên mặt đất. Cụ lấy trong túi da ra thỏi mực than mài nhuyễn, chiếc thước thủy bằng đồng sáng bóng và cuộn giấy dó ghi chép các mốc cao trình vừa đo đạc ở Hẻm Quỷ Khóc.Cụ quỳ gối trên nền đất, lưng hơi còng xuống nhưng đôi mắt nâu ánh lên vẻ tinh anh khác thường. Từng nét mực than dứt khoát, chuẩn xác hạ xuống mặt da cừu. Cụ đặt cạnh thước thủy bằng đồng làm cữ, nheo mắt rà từng vạch khắc chia phân li li.
Đầu tiên là vách núi Hắc Nham sừng sững bên Hẻm Quỷ Khóc, nơi có con mắt đá phong ấn dòng cổ mạch Hoàng Tuyền Thủy Ngụy ngậm sâu năm mươi trượng dưới lòng đất. Từ điểm khởi nguồn ấy, ngòi bút than của cụ vạch một đường hầm ngầm uốn lượn mềm mại theo thế tầng đá vôi, xuôi dần về lòng chảo thung lũng Hạc Cốt.
“Các chú nhìn đây,” cụ Quý vừa vẽ vừa rành rọt giải thích, giọng trầm ấm vang vọng trong gian lều tĩnh mịch. “Địa hình từ đáy Hẻm Quỷ Khóc cao hơn thung lũng của ta đúng mười lăm trượng. Độ dốc vi sai ta vừa đo là ba phân trên mỗi mười trượng. Với độ nghiêng này, dòng nước ngầm sẽ tự chảy êm ả dưới đáy hầm kín, không bốc hơi dưới nắng quái hoang mạc, lại không cuốn trôi bùn cát hay làm bục vỡ vách đá.”
Ngòi bút của cụ Quý chấm từng điểm tròn đen thẫm, thẳng hàng tăm tắp dọc theo tuyến kênh “Đường hầm dài đúng hai mươi dặm. Nhưng ta không thể đào một mạch từ đầu đến cuối trong bóng tối ngột ngạt. Trên suốt hai mươi dặm này, ta phải mở đúng ba mươi sáu miệng giếng thông khí thẳng đứng từ mặt cát đâm thẳng xuống đáy kênh.”
Cụ Quý dùng quả dọi chì đặt nhẹ lên từng điểm mốc, giảng giải mạch lạc “Ba mươi sáu miệng giếng này chính là mắt, là phổi của công trình. Nó lấy ánh sáng dẫn lối, hút dưỡng khí cho thợ đá đào hầm bên dưới, đồng thời là nơi kéo đất đá thải lên mặt đất. Miệng giếng thứ nhất ở chân núi Hắc Nham sâu gần ba mươi trượng, các giếng sau cạn dần theo độ dốc, cho tới miệng giếng thứ ba mươi sáu ở ngay lòng chảo này chỉ sâu chừng năm trượng. Khi ba mươi sáu miệng giếng thông suốt, mũi đục cuối cùng mở van đá tại Hẻm Quỷ Khóc, nước ngọt sẽ róc rách tuôn về từng bể chứa của bà con.”
Nhìn tấm bản đồ thi công mạch lạc, tỉ mỉ với từng con số đo đạc chuẩn xác đến từng phân, từng tấc, Thiết Bá đứng chết lặng. Người thợ đá dày dạn sương gió cả đời chỉ biết vung búa đục đá thô sơ, chưa từng thấy một công trình vĩ đại và nhân ái đến nhường này. Dưới ngòi bút của cụ già trăm tuổi, hy vọng hồi sinh vùng đất cằn cỗi không còn là giấc mơ hão huyền mà hiện rõ rành rành trên từng thớ da cừu.
Đôi mắt một mí của Thiết Bá đỏ hoe, ngực phập phồng nghẹn ngào. Anh bỗng quỳ sụp xuống mặt đất trước mặt cụ Quý, hai tay chắp lại dập đầu thật mạnh “Cụ Quý! Đại sư của lòng chúng tôi! Cả đời thằng này đục đá chỉ biết nộp tô đổi từng gáo nước bẩn cho lũ quan quân. Nay được tận mắt thấy tấm bản đồ này, tôi mới hiểu thế nào là kỹ nghệ cứu đời! Tôi xin đem cái mạng này, đem toàn bộ sức lực của mấy trăm anh em thợ đá thung lũng Hạc Cốt theo cụ dời non lấp bể! Dẫu có phải đào xuyên qua nghìn tầng đá, gãy hết búa đục, chúng tôi cũng quyết đào cho bằng được dòng nước này về cho con cháu!”
A Lãng đứng bên cạnh cũng rơm rớm nước mắt, nắm chặt cây thước gỗ học trò, quỳ xuống bên cạnh Thiết Bá.
Cụ Quý vội buông thỏi than, vươn hai bàn tay gầy guộc nhưng ấm áp đỡ Thiết Bá và cậu bé đứng dậy “Đứng lên đi chú em, đứng lên nào cháu nhỏ. Kỹ nghệ là của đất trời, sức lực là của muôn dân. Già này chỉ là người cầm thước chỉ đường, công trình này có thành hay không là nhờ vào từng nhát búa, giọt mồ hôi và tấm lòng đồng bọc của bà con. Chúng ta cùng chung một chí hướng, chớ quỳ lạy làm chi.”
Cụ Quý mỉm cười, ánh mắt chan chứa niềm tin tưởng. Cụ vừa cúi xuống chấm lại nét mực cuối cùng quanh miệng giếng số một thì bên ngoài vang lên tiếng bước chân nặng nề giẫm trên cát vụn.
“Két…”
Cánh cửa lều bằng cành cây khô đan sơ sài bỗng bị một bàn tay đẩy bật ra.
Gió đêm lùa vào làm ngọn đèn dầu lạc đà chao đảo dữ dội. Giữa ngưỡng cửa, bóng dáng cao lỏng khỏng của Đội trưởng Ba Đồ hiện ra sừng sững trong bộ giáp sắt sứt mẻ phủ đầy bụi cát, bàn tay phải của anh đang cầm chặt thanh đao tuần tra sáng loáng ánh thép.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
