Chương 22: Bình Minh Trên Cát Trắng
Cụ Huỳnh Tấn Quý đứng trước cửa lều, nheo đôi mắt nâu nhìn ra triền dốc cát thoai thoải. Cỗ xe pháo đá bằng gỗ mun gầm rít trên từng khớp trục, bánh xe nghiến rào rào qua lớp sỏi trắng rồi dừng khựng lại cách mép xóm cát chưa đầy mười lăm trượng. Tám con lạc đà phì phò phả hơi nóng, bọt mép sủi trắng xóa bên những dải da thồ nạm đồng.
Trên lưng con lạc đà đầu đàn, Cáp Đồ Nhĩ ngạo nghễ vung cao chiếc roi da cán nạm ngọc, đôi mắt ti hí đảo quanh tìm kiếm cảnh tượng hoang tàn như mường tượng. Gã hít một hơi thật sâu, giọng khàn đục the thé vang lên qua tấm che mặt bằng vàng ròng “Lão già gàn dở! Hạn định một ngày một đêm đã điểm đúng bóng tròn chân cọc! Lũ tiện dân các ngươi đã đục thủng được tấc đá nào chưa, hay chỉ biết chui rúc chờ pháo đá của bản bá tước nghiền nát thành bùn cát? Mau quỳ xuống nhận tội, bằng không một hòn đá xanh này sẽ san phẳng toàn bộ xóm lều Hạc Cốt!”
Tiếng quát tháo vừa dứt, Cáp Đồ Nhĩ đột ngột khựng lại. Gã chớp chớp mắt, ngón tay bọc giáp sắt khẽ run rẩy ghì chặt dây cương.
Không có tiếng than khóc xin tha mạng. Không có cảnh tượng những kẻ khát cháy cổ nằm la liệt chờ chết. Thay vào đó, một luồng gió mát rượi mang theo hơi nước thanh khiết thổi thốc vào mặt gã, xua đi cái oi nồng ngột ngạt ngàn đời của hoang mạc. Cáp Đồ Nhĩ trố mắt nhìn xuống những con mương đá mới đào tỏa nhánh khắp các ngõ lều. Nước. Nước ngọt trong vắt, óng ánh dưới ánh mặt trời rực rỡ, đang róc rách luồn qua từng bờ đất, đổ đầy ắp những bể chứa bằng đá vôi xốp và tràn cả ra những vũng cát mịn quanh gốc cỏ lạc đà. Dân làng tộc Cát Trắng tay bưng bầu gốm, tay cầm gáo dừa, quần áo ướt đẫm những giọt nước ngọt mát lành, ánh mắt rạng ngời nhìn thẳng vào cỗ xe pháo đá đồ sộ mà không hề có nửa phần khiếp sợ.
“Nước… Nước ở đâu ra thế này?” Cáp Đồ Nhĩ lắp bắp, mặt vuông biến sắc, hàm râu quai nón giật giật từng cơn kinh hãi. “Giả tạo! Đây chắc chắn là trò ma mị của lũ tiện dân! Quân bay đâu, châm ngòi pháo đá! Bắn nát cái mương kia cho ta!”
“Không một ai được chạm vào cần pháo!”
Một tiếng thét đanh thép vang lên xé toạc bầu không khí căng thẳng. Đội trưởng Ba Đồ thúc lạc đà phi vọt lên phía trước, thanh đao tuốt trần giơ cao trong nắng sớm. Phía sau anh, hàng trăm binh lính thiết giáp áo đính đinh sắt đồng loạt tiến bước, tiếng giáp sắt va vào nhau rộn rã, vang dội cả một góc trời. Họ không chĩa mũi giáo vào dân làng, mà dàn thành ba hàng ngang vững chãi, đan chéo những ngọn giáo sắt sáng loáng chắn ngang giữa cỗ xe pháo đá và lối vào thung lũng.
Ba Đồ ghìm cương, ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào vị lãnh chúa mà mình từng phục tùng, dõng dạc cất lời “Thuộc hạ xin bẩm đại nhân! Mạch ngầm Hoàng Tuyền Thủy Ngụy đã được khai thông an toàn! Nước ngọt chảy qua kênh ngầm Kharez dài đúng hai mươi dặm, về tới thung lũng Hạc Cốt trước khi hết hạn một khắc! Chân đập Bích Lăng đã ngừng rò rỉ, hiểm họa sụp đổ địa tầng không còn nữa! Chúng tôi là con em xứ cát, chúng tôi giương giáo sắt để bảo vệ nguồn sống của quê hương, tuyệt đối không bao giờ làm tay sai giết hại đồng bào ruột thịt!”
Tiếng hô hưởng ứng của binh lính vang lên như sấm rền “Bảo vệ dòng nước! Bảo vệ thung lũng Hạc Cốt!”
Thấy lòng quân phản trắc ngay trước mắt, Cai đội Mông Cổ Lặc ngồi trên lưng lạc đà bên cánh tả bỗng nghiến răng trừng mắt. Hắn gầm lên một tiếng man rợ, bất thần rút đoản đao bên hông, toan lao thẳng về phía cụ Quý đang đứng ung dung phía trước “Lũ phản nghịch! Để tao lấy đầu lão già này dâng lên bá tước!”
Nhưng mũi đao của hắn chưa kịp vung hết sải tay thì một bóng người vạm vỡ như gấu đá đã lao tới chặn đứng. Bàn tay thô ráp nứt nẻ của Thiết Bá chộp chuẩn xác vào cổ tay Mông Cổ Lặc, siết chặt như gọng kìm thép. Một tiếng rắc giòn giã vang lên kèm theo tiếng rú thảm thiết của tên thám mã. Thiết Bá hừ lạnh một tiếng, vặn ngược khớp tay hắn ra sau rồi giật phăng thanh đoản đao ném cắm phập xuống cát. Ba người thợ đá dày dạn kinh nghiệm lập tức ùa tới, tước sạch bao tên, đè nghiến Mông Cổ Lặc xuống mặt đất cát trước sự chứng kiến của toàn thể binh sĩ.
Vòng vây của dân chúng và quân thiết giáp khép chặt lại. Mông Cổ Lặc nằm bẹp dí như con bọ hung gãy cánh, run rẩy không dám ngẩng đầu.
Cụ Quý lúc này mới từ tốn bước từng bước khoan thai qua hàng giáo sắt. Cụ mặc chiếc áo vải thô màu chàm sờn vai, bên hông lủng lẳng ống đồng đựng thước thủy đã ngả màu mắt cua. Dáng người cụ hơi còng nhưng bước chân vững chãi lạ thường, ánh mắt nâu đôn hậu nhìn Cáp Đồ Nhĩ đang ngồi chết lặng trên yên lạc đà.“Bá tước Cáp Đồ Nhĩ,” cụ Quý cất giọng trầm ấm, sang sảng rành rọt từng lời giữa bãi cát mênh mông. “Già này từng thưa với ngài, nước chảy chỗ trũng, luồn qua lòng đất để nuôi dưỡng vạn vật chứ không sinh ra để làm ngục tù giam hãm con người. Ngài dùng đá hoa cương xây thành đắp lũy, phong tỏa nguồn ngầm ở ốc đảo Bích Lăng, tưởng rằng nắm được giọt nước là nắm trọn sinh mệnh của muôn dân. Nhưng ngài đâu biết, khi áp lực nước tầng sâu bị đè nén quá mức, nó sẽ trở thành hiểm họa vùi lấp chính ngai vàng của ngài.”
Cụ Quý đưa tay chỉ về phía dòng kênh ngầm Kharez đang cuồn cuộn sóng nước mát lành “Nay ba mươi sáu miệng giếng đứng đã thông suốt, dòng nước tự chảy theo độ dốc vi sai ba phân trên mười trượng, chia đều sự sống cho cả vùng hoang mạc cằn cỗi. Áp suất trong lòng đá vôi đã tiêu tán, con đập ở ốc đảo của ngài nhờ đó mà được giữ yên, ba trăm quân lính của ngài cũng không phải bỏ mạng dưới lòng đất sụt lún. Sự khát cháy ngài dựng lên bấy lâu nay đã bị dòng nước ngọt lành này cuốn trôi sạch sẽ. Lòng người đã hướng về nguồn sống tự do, ngài còn định dùng hòn đá vô tri kia để dọa nạt ai nữa?”
Cáp Đồ Nhĩ run bần bật, gương mặt xám ngoét không còn chút sắc khí. Gã nhìn quanh, thấy hàng trăm mũi giáo của thuộc hạ đều hạ thấp hướng về phía mình, nhìn thấy ánh mắt căm hờn nhưng đầy cương nghị của vạn người dân tộc Cát Trắng đang nắm chặt cuốc xẻng búa đục. Cỗ xe pháo đá gỗ mun từng là biểu tượng quyền lực vô song của gã, nay trơ trọi giữa biển người như một đống củi khô mục nát bên bờ mương đầy nước.
Khí thế hung hãn tiêu tan hoàn toàn. Bạo quyền xây dựng trên nỗi sợ hãi và cơn khát cháy đã sụp đổ không kèn không trống trước tri thức trắc địa chân chính và sự đồng lòng của muôn dân.
Bàn tay bọc giáp vàng của Cáp Đồ Nhĩ buông lơi. Chiếc roi da nạm ngọc rơi xuống lớp cát trắng nghe đánh “bộp” một tiếng khô khốc. Gã cúi gằm mặt, bờ vai hộ pháp sụp xuống như một pho tượng đá vôi bị phong hóa rã rời, giọng nói đứt quãng không còn chút hống hách “Ta… ta nhận thua. Từ nay… ốc đảo Bích Lăng bãi bỏ tô nước… Mạch nước ngầm này… thuộc về toàn thể cư dân thung lũng Hạc Cốt…”
Một thoáng im lặng trôi qua giữa không gian hoang mạc, rồi bất thần vỡ òa thành một cơn địa chấn của niềm vui sướng.
“Thắng rồi! Chúng ta có nước rồi!”
“Mạch nước ngầm đã mở rồi! Hoan hô cụ Quý! Hoan hô anh em thợ đá!”
Tiếng reo hò dậy đất vang lên từ miệng giếng số 36 lan truyền sang tận rặng Hắc Nham xa xôi. Hàng vạn bàn tay vục lấy dòng nước mát té lên trời, bọt nước lấp lánh như những hạt ngọc dưới nắng ban mai rực rỡ. Binh lính thiết giáp vứt bỏ khiên sắt, ôm chồm lấy những người thợ đá và dân phu mà họ từng coi là kẻ thù, cùng nhau chia sẻ từng gáo nước ngọt ngào mát lịm.
Giữa biển người hân hoan rớt nước mắt, Thiết Bá bước tới trước mặt Ba Đồ. Bàn tay thô ráp chằng chịt vết sẹo đá dăm của người thợ đục đá đầu đàn nắm chặt lấy bàn tay đeo bao hộ thủ bằng sắt của người bạn thời niên thiếu. Hai người đàn ông từng đứng ở hai bờ chiến tuyến nhìn nhau, mắt rưng rưng nhưng nụ cười nở rộ trên môi.
“Chú em Ba Đồ,” Thiết Bá vỗ mạnh vào vai bạn, giọng ồm ồm xúc động. “Khá lắm! Nhát đao cắm xuống cát hôm nay của chú em xứng đáng được khắc vào bia đá đầu nguồn kênh ngầm!”
“Anh Bá,” Ba Đồ nghẹn ngào, siết chặt bàn tay chai sạn của Thiết Bá. “Tôi đã nợ bà con thung lũng này quá nhiều. Từ hôm nay, anh em chúng tôi xin nguyện cùng các anh cầm cuốc, cầm búa giữ gìn từng tấc kênh ngầm này!”
Cụ Quý đứng bên cạnh, bàn tay khẽ vuốt chòm râu bạc phơ như mây núi, mỉm cười đôn hậu ngắm nhìn hai người con của xứ cát. Ánh bình minh vàng rực chiếu rọi lên v*m ng*c áo sờn vai của cụ, phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ chiếc thước thủy bằng đồng cắm nghiêng nơi bao da.
Hòn đá xanh trên cỗ xe pháo kiêu ngạo của Cáp Đồ Nhĩ rồi sẽ được hạ xuống, nhưng không phải để bắn giết, mà để cùng cụ Quý, Thiết Bá và Ba Đồ đặt thành những viên đá móng đầu tiên cho một hội đồng chia nước tự quản của muôn dân xứ Cát Trắng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
