Chương 1: Vết Mực Giờ Thìn
Tiếng giọt nước từ lậu hồ bằng đồng nơi góc tường gian hành sự rơi xuống chiếc phễu thiếc, gõ nhịp đều đặn điểm khắc thứ sáu của canh Dần. Hoàng Uyển Nghi đặt thanh mực tùng yên xuống nghiên đá Đoan Khê, ngón trỏ tay phải với vết chai sần quen thuộc miết nhẹ dọc đường gấp nếp của trang sổ Khởi Cư Chú vừa ráo mực.
Đây là trang ghi chép ngôn hành ngự giá cuối cùng của đêm nay. Sau khi ấn con dấu khắc lậu bằng đồng thau hình sóng nước xác nhận thời khắc, nàng sẽ bàn giao hòm chìa khóa viện cho người tiếp quản, chính thức bước vào kỳ nghỉ phép bảy ngày được mong đợi suốt hai năm qua. Mười năm giam mình sau bốn bức tường thâm nghiêm của Khởi Cư Viện, nước da nàng đã ngả sang sắc trắng xanh vì hiếm khi nhìn thấy ánh nắng trưa, nhưng đôi mắt thì chưa từng mỏi mệt trước bất kỳ con chữ nào. Nàng chỉ muốn dùng bảy ngày phép này về lại làng cũ ngoại ô kinh thành, thắp nén nhang lên phần mộ thân phụ — cố Thái sử lệnh Hoàng Đạo Bình.
“Chưởng thư tỷ tỷ! Có việc gấp rồi!”
Cánh cửa ngách gian hành sự khẽ rung lên. Thiếu nữ sử Từ Bình đẩy cửa bước vội vào, tà áo lam thạch còn vương hơi sương lạnh buốt của buổi sớm tàn canh. Trên tay nàng cầm một ống đồng niêm sáp đỏ của Nội vụ phủ.
Uyển Nghi không ngẩng đầu, tay vẫn vững vàng xếp thẳng mép giấy dó “Từ Bình, trong viện cấm chạy nhảy hấp tấp. Tiếng guốc gỗ làm kinh động tàng thư, phép tắc mười điều trên vách gian tiền sảnh ngươi quên rồi sao?”
Từ Bình hít một hơi sâu, cố nén nhịp thở dồn dập, chìa ống đồng ra trước án thư “Nô tỳ biết lỗi. Nhưng đây là trát khẩn từ Nội thái giám Phùng Chính Ân vừa phát xuống. Nội vụ phủ lệnh cho Khởi Cư Viện chúng ta nội trong sáng nay phải kiểm kê, đối chiếu toàn bộ ba tập sổ Khởi Cư Chú của tháng Tám để chuẩn bị niêm phong hòm sắt đưa vào tàng thư các sớm hơn lệ thường ba ngày.”
Đôi mày thanh tú của Uyển Nghi khẽ nhíu lại. Sổ nhật ký ngự giá mỗi tháng đều phải niêm phong đưa vào kho lưu trữ vĩnh viễn, đó là điển lệ bốn trăm năm của triều đình Đại Lạc. Thế nhưng lệ thường luôn là ngày cuối cùng của tháng Chín mới tiến hành niêm phong sổ tháng Tám, sao hôm nay mới ngày hai mươi bảy tháng Chín mà Nội vụ phủ đã giục giã bất thường như vậy?
“Nội vụ phủ có nói rõ duyên do vì sao đẩy sớm thời hạn?” Uyển Nghi nhận lấy ống đồng, ngón tay lướt qua vết triện sáp đỏ nguyên vẹn.
“Dạ không,” Từ Bình lắc đầu, giọng hạ thấp xuống nửa phần, vẻ mặt đầy e ngại. “Viên thái giám đưa trát chỉ nói khẩu dụ của bệ hạ muốn dọn dẹp thư phòng, lệnh cho các nha môn nội cung phải hoàn tất sổ sách tồn đọng trước giờ Ngọ.”
Uyển Nghi lặng im một thoáng. Sinh tồn mười năm chốn thâm cung hiểm hóc, nàng hiểu rõ quy luật khắc nghiệt nơi này: phàm là việc gì đi ngược lại lệ thường định sẵn, ắt hẳn đằng sau đều có ẩn tình. Nhưng trên trát có con dấu son của Nội vụ phủ, nàng thân là Chưởng thư nữ sử, không thể cự tuyệt.
“Đi lấy chìa khóa hòm sắt giáp tự,” Uyển Nghi buông ống đồng xuống bàn, giọng nói vẫn giữ trọn vẻ điềm đạm. “Thắp thêm hai ngọn nến sáp ong. Ta cùng ngươi kiểm kê theo đúng thể thức.”
Từ Bình vâng lời, thoăn thoắt mở tủ gấm lấy ra chùm chìa khóa đồng. Chẳng mấy chốc, hòm gỗ sơn son chứa trọn vẹn ba tập sổ của tháng Tám được đặt ngay ngắn trên chiếc bàn dài bằng gỗ mun giữa gian phòng. Mỗi tập sổ ứng với mười ngày, ghi chép tường tận từng bước chân, lời nói, sắc chỉ của Thiên Hy Đế từ canh Tý sang canh Hợi.
Uyển Nghi thắp ngọn nến lớn, đặt chiếc giá nến bằng đồng sang mép trái án thư để ánh sáng rọi xiên qua mặt giấy. Kiểm kê sổ Khởi Cư Chú không đơn thuần là đếm số tờ. Từng trang giấy dó vỏ dướng Kinh Bắc đều phải trải qua ba tầng thẩm tra nghiêm ngặt: thứ nhất là độ nguyên vẹn của thớ giấy, thứ hai là tính đồng nhất của sắc mực tùng yên ngự chế, và thứ ba là sự tương ứng chuẩn xác giữa các con dấu nhật khuê ban ngày và khắc lậu ban đêm.
Mùi khói thông tùng yên ngàn năm quyện với nhựa hổ phách tỏa ra dịu nhẹ khi từng trang sổ được lật mở. Tiếng sột soạt quen thuộc vang lên đều đặn trong gian phòng vắng lặng. Uyển Nghi lật từng trang, đối chiếu ngón tay với từng mốc giờ: từ ngày mùng một, mùng hai, cho đến giữa tháng. Con dấu đá hoa cương đo bóng nắng nhật khuê in hình vòng tròn khắc vạch bóng mặt trời sắc nét; con dấu đồng khắc lậu lượn sóng nước thanh mảnh, không một nét thừa.
Đến tập sổ thứ hai, bàn tay nàng dừng lại ở trang ghi chép ngày 17 tháng Tám.Đó là một ngày mưa bão lớn kéo dài từ chập tối sang tận canh năm hôm sau, từng được nữ sử trực phiên ghi chú rõ ở góc phải. Ánh mắt Uyển Nghi lướt qua hàng chữ chân phương chép mốc ngự giá: giờ Thìn bệ hạ thăng triều, giờ Tỵ ngự giá Tố Hằng Cung thăm Hiền phi, giờ Thân ngự thiện tại Càn Đức Cung, giờ Tuất dự yến tiệc Trung thu muộn cùng các cung tần...
Ánh lửa nến lay động. Đầu ngón trỏ của Uyển Nghi dừng sững lại tại mép dưới của lề trang.
Nơi ấy, sát cạnh dòng chữ ghi nhận buổi ngự giá Tố Hằng Cung vào ban ngày, có ba vệt mực mờ nhạt bất thường.
Uyển Nghi khẽ nheo mắt, cúi thấp người xuống. Nàng nâng ngọn nến sáp ong, điều chỉnh góc chiếu nghiêng chừng ba mươi độ để ánh sáng vàng rọi quét qua bề mặt tờ giấy dó.
Dưới ánh sáng xiên, một vùng thớ giấy nhỏ bằng đốt ngón tay hơi gợn lên một lớp bụi mỏng màu trắng xám. Bề mặt giấy ở vị trí đó mịn một cách bất thường, mất đi hoàn toàn những sợi vân dướng tự nhiên đan xen chằng chịt vốn có của xưởng giấy tiến triều. Đó là dấu tích của lưỡi dao trổ cực mỏng đã cẩn thận gọt cạo đi lớp mặt trên của trang giấy, sau đó người ta dùng đá mã não bóng mài nhẵn lại và phủ lên một lớp bột chu sa pha phấn vỏ trai hòng che mắt người xem.
Thế nhưng, kẻ cạo xóa dù có khéo léo đến đâu cũng không thể lừa được đôi mắt nàng.
Hoàng Uyển Nghi sở hữu tài năng quá mục bất vong do trời ban. Từ thuở bảy tuổi theo cha ngồi bên án thư Thái sử viện, bất kỳ nét chữ, vết mực hay tì vết nào từng lọt vào mắt, nàng đều có thể ghi nhớ vĩnh viễn trong tâm trí như khắc tạc trên bia đá.
Trang sổ ngày 17 tháng Tám này, chính tay nàng đã kiểm duyệt và đóng dấu giáp lai vào sáng ngày 18 trước khi cất vào hòm sắt. Nàng nhớ như in, tại góc lề dưới ấy vốn dĩ có một vết điểm chỉ bằng mực son chu sa của Thiếu nữ sử trực ban canh Thìn — một dấu vết cá nhân chứng thực người chép đã đối chiếu bóng nắng trên đài nhật khuê trước khi ghi lại việc ngự giá Tố Hằng Cung.
Thế nhưng hiện tại, vết điểm chỉ màu son ấy đã bị cạo sạch. Thay vào đó là ba vệt mực tùng yên mờ ám, được điểm xuyết khéo léo như thể chỉ là vết tàn nến vô tình rơi rụng khi sử quan lật trang.
Có kẻ đã dùng dao trổ cạo xóa vết điểm chỉ của phiên trực canh Thìn.
Tại sao lại phải cạo xóa một dấu vết chứng thực giờ Thìn ban ngày trên trang sổ của một tháng trước? Kẻ đó muốn xóa bỏ điều gì? Hay đúng hơn, kẻ đó đang chuẩn bị để thay đổi điều gì trên trang ghi chép về Tố Hằng Cung?
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Uyển Nghi. Sổ Khởi Cư Chú là bằng chứng tối thượng trước pháp đình nội cung, mỗi nét chữ đều định đoạt danh dự, địa vị, thậm chí là sinh mạng của những bậc chủ tử chốn hậu đình. Tự ý cạo sửa dù chỉ nửa nét chữ trên cuốn sổ này cũng là trọng tội khi quân, chu di tam tộc. Kẻ dám to gan ra tay ngay tại Khởi Cư Viện ắt phải có thế lực ngập trời che chở.
Từ Bình đứng bên cạnh đang mải miết ghi chép thẻ tre kiểm mục, thấy nàng đứng bất động hồi lâu liền ngẩng lên hỏi khẽ “Tỷ tỷ, trang ngày mười bảy có điều gì không ổn sao?”
Uyển Nghi khẽ rủ mi mắt, che giấu sự chấn động sâu kín trong lòng. Bàn tay nàng nhẹ nhàng khép tập sổ lại, thanh âm bình thản không chút gợn sóng “Không có gì. Chỉ là một vết mực loang cũ do giấy bắt ẩm trong đêm mưa bão mà thôi.”
Nàng đưa tay lên tóc, siết nhẹ chiếc trâm bạc hình bút lông — kỷ vật duy nhất thân phụ để lại trước ngày thụ nạn mười năm trước. Ngón tay nàng khẽ lướt qua ba vệt mực mờ ám trên mặt giấy dưới ánh trăng lạnh rọi qua khung cửa sổ chiếu thẳng vào đài nhật khuê ngoài sân, lòng dấy lên linh cảm bất an của người mười năm chấp bút.
Nét Chữ Khởi Cư Soi Rõ Án Cung Đình