Chương 1: Máu đỏ Lòng Giếng Cổ
Tiếng kẻng sắt treo dưới gốc đa đầu đình vừa dứt ba hồi giục giã giờ ra đồng của hợp tác xã thì từ phía Giếng Cả dưới bóng cây thị cổ thụ bỗng vang lên những tiếng la hét thất thanh. Đòn gánh tre va vào thùng tôn loảng xoảng, tiếng guốc mộc gõ dồn dập trên con đường đất đỏ. Mấy cô xã viên đội sản xuất số hai mặt cắt không còn giọt máu, vứt cả quang gánh tháo chạy toán loạn qua trước ngõ, vừa chạy vừa chỉ tay về phía miệng giếng mà lạc giọng “Nước máu! Cứu với bà con ơi, giếng sôi máu rồi!”
Tiếng hô hoán xé toang không khí tĩnh mịch của cữ sáng mùa thu năm 1978 ở làng Đồi Ong. Cụ Vệ Thường Sơn đang ngồi bên bậc cửa căn nhà đất ba gian, tay cầm dũa mài lại lưỡi đục dẹp, liền buông đồ nghề đứng bật dậy. Đôi mắt quắc thước của người thợ giếng bảy mươi tuổi hơi nheo lại. Cụ với lấy chiếc nón mê rách mép rồi sải bước thật nhanh ra ngõ. Ngay đầu dốc, Chủ nhiệm hợp tác xã Nguyễn Văn Thịnh trong bộ áo đại cán bốn túi bạc màu, một bên hông đeo chiếc túi cốt đựng sổ sách công điểm, cũng đang hớt hải rảo bước tới.
“Cụ Sơn! Giếng Cả có biến lớn rồi, cháu mời cụ ra xem ngay cho!” Thịnh th* d*c, vẻ mặt căng thẳng nhưng ánh mắt vẫn giữ vẻ cương nghị của một cán bộ trẻ.
Cụ Sơn khẽ gật đầu, giọng trầm tĩnh “Tôi vừa nghe tiếng la. Đi thôi chú Thịnh, để già này ra xem rốt cuộc đá giếng phát bệnh gì.”
Hai người vội vã rẽ qua rặng duối tiến về phía gò đất cao đầu làng. Dưới tàn lá rậm rạp của cây thị trăm tuổi, miệng Giếng Cả trơ trọi giữa khoảng sân lát đá ong. Miệng giếng rộng gần hai mét, xây bằng những khối đá ong nâu sẫm đẽo gọt vuông vức, ăn khớp ngàm mộng từ thuở tiền nhân lập làng, vốn là nguồn nước ngọt nuôi sống cả trăm nóc nhà qua bao mùa hạn hán. Nhưng lúc này, mặt nước tĩnh lặng thường ngày đã biến mất. Dưới độ sâu mười lăm mét hun hút, mặt giếng đang cuộn lên từng đợt bọt trắng xóa, sôi ùng ục như có chảo lửa nung dưới đáy. Dòng nước trong veo ngọt lịm mọi khi giờ đây đổi thành một màu đỏ quạch thẫm lại, lờ lờ như máu loãng, trào dâng những gợn váng đục ngầu.
Hàng chục xã viên kéo đến đứng vây quanh từ xa, ai nấy thì thầm sợ hãi, không một người nào dám bước lại gần bờ giếng. Cụ Sơn bước tới mép đá ong nhẵn bóng – nơi hàng triệu lượt dây thừng kéo gàu qua nhiều thế hệ đã mài lõm thành những đường rãnh sâu. Gió sớm từ lòng giếng hắt lên mặt cụ một luồng khí nồng ẩm, ram ráp. Không hề tỏ ra nao núng, cụ Sơn với tay cầm lấy chiếc gàu sắt móc vào sợi thừng chão bện bằng vỏ cây móc dai chắc treo bên thành giếng. Cụ thả chiếc gàu buông thẳng xuống đáy sâu.
“Bõm!”
Tiếng gàu sắt va vào mặt nước dội ngược lên vách đá nghe đanh giòn. Bằng đôi bàn tay to bè, nổi rõ những đường gân xanh và chằng chịt vết sẹo đá cứa, cụ Sơn thoăn thoắt kéo thừng thu gàu lên miệng giếng.
Chiếc gàu sắt đặt cạch lên mặt đá ong, sánh ra thứ chất lỏng đỏ sẫm ma quái. Xã viên xung quanh rùng mình lùi lại một bước. Cụ Sơn điềm đạm cúi xuống, nhúng hai ngón tay chai sạn vào lòng gàu nước. Cụ miết nhẹ đầu ngón tay cái, cảm nhận độ trơn nhẫy lẫn những hạt sạn bùn li ti, mịn màng nhưng sượng sắc. Đoạn, cụ đưa ngón tay lên sát mũi, hít một hơi thật sâu. Khứu giác thính nhạy của người thợ ba đời nghe hơi đá lập tức nhận ra mùi vị quen thuộc: đó là mùi ngai ngái nồng đượm của quặng sắt laterite bị oxy hóa từ vách đá vỡ, hòa lẫn mùi ngấu mục của chất mùn hữu cơ rỉ ra từ sâu trong lòng đất, hoàn toàn không phải mùi tanh của máu người.
Cụ Sơn thở hắt ra một hơi, ánh mắt lóe lên vẻ suy ngẫm trầm ngâm.
“Tránh ra! Tất cả dạt ra cho tôi!”
Một giọng nói the thé mà đạo mạo cất lên rẽ đám đông xã viên. Ông Trần Khắc Đạt rảo bước tiến vào khoảng sân giếng. Người đàn ông sáu mươi tám tuổi này có dáng người đẫy đà, mái tóc hoa râm chải chuốt cẩn thận, khoác chiếc áo sơ mi lụa đũi phẳng phiu đối lập hẳn với vẻ lam lũ của bà con xung quanh. Từng là Chủ nhiệm hợp tác xã những khóa đầu, nay giữ vai trò cố vấn hưu trí, tiếng nói của ông Đạt vẫn đầy uy quyền. Thế nhưng, cụ Sơn tinh ý nhận ra khóe mắt phải của ông Đạt đang giật máy liên hồi từng chặp, hai bàn tay giấu sau lưng run rẩy, ánh mắt nhìn xoáy xuống làn nước đỏ quạch vừa lộ vẻ khiếp đảm vừa ẩn chứa nỗi hoảng loạn tột cùng.
Đứng trước miệng giếng, ông Đạt vung tay, giọng run run nhưng cố gằn thật to để kích động dân làng “Bà con thấy rõ chưa! Đây chính là máu tươi từ cõi âm trào lên! Giếng Cả bị tà ma ám hại, long mạch đất này đã nổi giận rồi! Nếu còn tiếc nguồn nước này mà để lại, tai ương sẽ giáng xuống từng mái nhà, vụ lúa mùa này sẽ mất trắng!”
Quay phắt sang phía Chủ nhiệm Thịnh, ông Đạt lớn tiếng dồn ép:“Chú Thịnh! Với tư cách cố vấn hưu trí và là người đi trước, tôi yêu cầu ban quản trị hợp tác xã phải lập tức điều đội xe bò chở đất đá lấp vĩnh viễn cái giếng này lại ngay trong ngày hôm nay! Phải chôn lấp vĩnh viễn tà khí dưới đáy sâu thì làng Đồi Ong mới mong giữ được bình yên!”
Lời kích động của cựu Chủ nhiệm như dầu châm vào lửa. Đám đông xôn xao hẳn lên “Lấp đi thôi chủ nhiệm ơi! Nước thế này ai dám ăn dám uống nữa!”
“Đúng đấy, khéo quỷ thần quở phạt thì cả làng khốn đốn!”
Giữa lúc dân tình đang hoang mang cực độ, cụ Vệ Thường Sơn chậm rãi đứng thẳng dậy. Cụ rút chiếc khăn vải dù vắt ngang vai lau khô những vệt nước đỏ còn đọng trên ngón tay, giọng cụ vang lên khoan thai, đanh thép át cả tiếng rì rầm “Khoan đã, thưa ông Đạt và bà con! Già này làm nghề thợ giếng từ thuở lên mười, cùng cha ông nếm từng giọt nước, nghe từng thớ đá ong ở dải đất Đoài Bình này. Thành Giếng Cả ghép bằng đá ong mẹ trăm năm, ngàm mộng khít khao, lọc nước sạch tinh tươm cho bao thế hệ, làm sao có chuyện tự phát tác tà ma quỷ quái?”
Cụ Sơn đưa chiếc gàu sắt lên trước mắt mọi người “Nước đỏ quạch là do mạch ngầm sâu bên dưới gặp biến động sụt lở, khiến vỉa quặng sắt trong lòng đá ong bị rữa ra, ngấu lẫn mùn rễ cây mục nát mà thôi. Đất đá dưới lòng đất cũng có quy luật của nó, sao ông Đạt lại vội vã đổ cho ma quỷ để đòi lấp đi nguồn sống của cả làng?”
Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh lập tức bước lên đứng cạnh cụ Sơn, gương mặt vuông chữ điền đanh lại dứt khoát “Cụ Sơn nói rất chí lý! Bà con bình tĩnh, trật tự nghe tôi nói! Chúng ta là xã viên hợp tác xã tiến bộ, không thể hễ thấy hiện tượng lạ là tin theo lời đồn nhảm nhí mê tín dị đoan. Giếng Cả là nguồn sống, là huyết mạch tưới tiêu và sinh hoạt của hàng trăm con người. Bác Đạt chớ vội hoang mang. Khi chưa kiểm tra thực địa cặn kẽ địa tầng đáy giếng, tuyệt đối không ai được động một viên đá, một xẻng đất nào!”
Bị cụ Sơn bóc trần và bị vị Chủ nhiệm trẻ gạt phắt ý kiến, sắc mặt ông Đạt thoắt trắng bệch rồi chuyển sang tím tái. Khóe mắt ông ta giật dữ dội hơn, đôi môi mỏng run bần bật như muốn nói điều gì đó để chống chế nhưng nghẹn ứ lại trong cổ họng.
Thế nhưng, lời phản bác chưa kịp thốt ra thì không khí bỗng nhiên đặc quánh lại.
Từ sâu thẳm dưới đáy giếng sâu mười lăm mét, một luồng gió xoáy lạnh buốt xộc thẳng lên qua miệng giếng đá ong, mang theo hơi ẩm nhớp nháp hắt thẳng vào mặt những người đứng gần. Cùng lúc đó, trong lòng giếng sâu hun hút bỗng dội lên một chuỗi âm thanh rền rĩ, ai oán “U... u... u...”
Âm thanh lúc trầm đục nghẹn ngào, lúc réo rắt sắc nhọn như tiếng một linh hồn đang tức tưởi than khóc giữa ban ngày ban mặt, văng vẳng dội vào từng vách đá ong rồi bung ra giữa không trung tĩnh mịch.
Tiếng khóc ma quái vừa cất lên, toàn bộ xã viên có mặt tại sân giếng bỗng chốc rụng rời kinh hãi, mặt mày xám ngoét, không một ai thốt nổi nên lời.
Lần Vết Rêu Đỏ Đáy Giếng Đá Ong