Chương 16: Chặn Lối đào Tẩu

Nhận định của ông nội quả nhiên không sai lệch một li.

Nửa đêm canh hai, gió thu xứ Đoài hun hút thổi qua các triền đồi cằn cỗi, kéo theo những dải sương mù dày đặc quánh buốt trùm kín đường làng Đồi Ong. Nép mình sau lùm tre gai rậm rạp đan xen bờ duối cổ thụ nơi ngã ba rẽ ra bến đò sông Tích, Vệ Thường An khẽ rùng mình trước làn hơi ẩm ngấm qua làn áo lính. Bên cạnh anh, hai đoàn viên thanh niên trong đội tự vệ thôn là Cường và Tiến cũng đang thu mình im phắc, tay nắm chặt những thanh gậy tầm vông vót nhọn.

Từ ngã ba này, chỉ cần men theo dốc đất thoai thoải chừng ba trăm thước là tới bến đò ngang. Đêm hôm khuya khoắt, nếu để một người lọt qua sông Tích sang đất Ba Vì rồi đón xe khách liên tỉnh xuôi về mạn ngược, việc truy tìm sẽ chẳng khác nào mò kim đáy bể. Bàn tay An đặt lên ngực áo, nơi bức thư nhòe máu mực sim tím của người đội trưởng du kích năm xưa vẫn nằm im lìm, phẳng phiu và ấm nóng. Nỗi căm phẫn cùng tinh thần cảnh giác của người lính trẻ khiến đôi mắt anh sáng quắc, chăm chú soi vào từng chuyển động mờ ảo giữa màn đêm tĩnh mịch.

Chừng nửa khắc trôi qua, tiếng sỏi sạn giẫm lạo xạo ngắt quãng bỗng truyền tới từ lối mòn xóm Trại.

Một bóng người đẫy đà lầm lũi hiện ra trong màn sương mờ đục. Kẻ đó mặc chiếc áo lụa đũi thùng thình, trên vai khoác chiếc bao tải con độn căng tròn, chiếc nón cời sụp xuống tận trán. Bóng người vừa bước vừa dáo dác ngoái nhìn sau lưng, bước chân vội vã, lập cập như bị đàn ong đuổi sát gót. Dáng đi khom khom cùng vạt áo đũi bay phấp phới kia không thể là ai khác ngoài cố vấn hưu trí Trần Khắc Đạt.

Khi bóng Đạt chỉ còn cách lối rẽ xuống bến đò chừng mười bước chân, An khẽ huých nhẹ tay ra hiệu cho đồng đội. Người lính trẻ dứt khoát bước tách khỏi lùm tre gai, bấm chốt chiếc đèn pin vỏ nhôm ba pin của Huyện đội.

“Tách!”

Luồng ánh sáng trắng lóa rực rỡ xé toang màn sương dày, rọi thẳng vào khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi của Đạt.

Lão giật bắn người, loạng choạng thụt lùi lại hai bước, theo phản xạ giơ ống tay áo lên che mặt. Chiếc nón cời tuột khỏi đầu rơi xuống đất bùn, để lộ mái tóc bạc xơ xác rối bời cùng đôi mắt vằn đỏ, đảo lia lịa đầy sợ hãi.

An đứng sừng sững giữa ngã ba, giọng nói vang lên đanh thép mà mực thước: “Đêm hôm khuya khoắt, sương muối giá buốt thế này, ông Đạt khoác tay nải đi đâu vội vã thế ạ?”

Đạt run rẩy hạ cánh tay xuống, cổ họng giật giật từng cơn. Lão cố gượng ép khóe môi nhếch lên một nụ cười méo mó, giọng run bắn: “A... cháu An đấy à? Tôi... tôi có đứa cháu họ trên thị xã Sơn Tây vừa gửi người nhắn về, bảo bà chị ruột tôi trên ấy trúng gió trở bệnh nặng, thập tử nhất sinh... Tôi phải tranh thủ xuống đò sớm sang sông, đón chuyến xe ca đầu ngày lên tỉnh thăm nom cho kịp. Chuyện gấp gáp quá nên chưa kịp báo cho ban chủ nhiệm...”

“Chuyện người nhà ốm đau thì quả là hệ trọng,” An tiến thêm một bước, nheo mắt nhìn chiếc bao tải con trên vai lão, “nhưng lệnh của hợp tác xã đêm nay còn cấp bách hơn. Kính mời cố vấn Đạt quay lại trụ sở để dự cuộc họp đột xuất của ban quản trị.”

Sắc mặt Đạt thoắt cái chuyển từ tái mét sang xám ngoét. Lão thoái lui, chân dẫm phải gờ đá suýt ngã nhào, giọng the thé gắt gỏng: “Họp hành gì vào lúc nửa đêm canh ba thế này! Tôi là cán bộ hưu trí, các anh không có quyền ngăn cản việc riêng của tôi! Tránh ra để tôi xuống bến đò!”

Vừa dứt lời, lão toan lách người lao về phía dốc đò. Nhưng từ hai lối rẽ sau lưng lão, ánh đèn bão bỗng bừng sáng. Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh trong bộ đại cán bốn túi bước ra, phía sau là hai đội trưởng đội sản xuất cùng các dân phòng vạm vỡ khóa chặt mọi nẻo đường.

Thịnh nhìn trừng trừng vào kẻ định đào tẩu, cất giọng sang sảng: “Bác Đạt ơi, việc nhà bác dù có gấp gáp đến đâu thì việc chung của cả làng Đồi Ong đêm nay còn hệ trọng hơn nghìn lần. Cụ thợ cả và toàn thể ban quản trị đang tề tựu đông đủ chờ bác ở đình làng. Bác không đi chuyến đò đêm nay được đâu.”Trần Khắc Đạt ngơ ngác nhìn quanh. Nhận ra bốn phía đều đã bị vây bọc trùng trùng, đôi chân lão mềm nhũn ra. Chiếc tay nải tuột khỏi vai rơi đánh phịch xuống nền cỏ ướt sương, làm lộ ra một góc áo ấm và mấy bọc đồ đạc gói ghém vội vã. Lão lảo đảo toan cúi xuống nhặt nhưng hai thanh niên tự vệ đã nhanh chóng bước tới cặp chặt hai bên nách. Bị áp giải giữa vòng vây, kẻ từng một thời thét ra lửa trong làng chỉ còn biết lủi thủi cúi gầm mặt bước đi trong tủi hổ.

Đoàn người rảo bước đưa Đạt về thẳng gian tả vu của ngôi đình cổ làng Đồi Ong.

Dưới ánh sáng vàng rực của ba ngọn đèn bão treo trên xà ngang, không khí trong gian phòng ẩm mùi rêu phong trở nên trang nghiêm và ngột ngạt lạ thường. Cụ Vệ Thường Sơn đã ngồi đợi sẵn bên chiếc bàn gỗ mộc thô nhám. Trước mặt cụ, chiếc bao tải gai đựng các chứng cứ trục vớt từ đáy Giếng Cả đã được mở toang.

An bước tới bên cạnh ông nội, cung kính đỡ cụ đứng dậy. Cụ Sơn không nói một lời, chỉ đưa đôi mắt quắc thước nhìn thẳng vào Đạt – kẻ đang ngồi bệt trên chiếc ghế băng dài, toàn thân run rẩy như người lên cơn sốt rét.

Chủ nhiệm Thịnh bước lên, dõng dạc nói trước sự chứng kiến của các cán bộ cốt cán: “Đêm nay, trước khi mặt trời mọc, chúng ta cần đối chiếu cho sáng tỏ mọi chuyện.”

Nói rồi, Thịnh ra hiệu cho cụ Sơn và An. Cụ Sơn thong thả thò tay vào túi áo trong, rút ra mảnh lụa đũi màu mỡ gà mà An nhặt được ở rào tre giếng cổ trong đêm đầu tiên. Cụ đặt mảnh vải lên bàn, rồi khẽ gật đầu bảo An. An lập tức bước đến, giữ lấy vạt áo bên phải của Đạt nhấc lên. Trước cặp mắt mở to của các đội trưởng sản xuất, mảnh lụa đũi rách nham nhở vừa khít từng đường sợi dệt với mảng áo bị cắt xén vội vã trên người Đạt, khớp đến từng vết chỉ khâu lược vụng về.

Chưa dừng lại ở đó, cụ Sơn đặt tiếp lên bàn một chiếc kẹp sắt gắp mũi dao rèn bản rộng có ngạnh hoa thị bốn cánh – dấu tích của lò rèn trứ danh nhà Đạt – cạnh chiếc nắp hòm lim bọc kẽm vẫn còn hằn sâu vết chém nham nhở.

An cẩn thận mở bọc vải điều, đặt chiếc hộp sọ của liệt sĩ Đỗ Trọng Lương lên bàn thờ tạm. Vết nứt dài ba đốt ngón tay sau gáy hiện rõ mồn một dưới ánh đèn bão, hoàn toàn ăn khớp với đường đi của mũi dao gãy. Cuối cùng, An rút từ ngực áo ra bức thư nhuốm máu mực sim tím năm 1953, trao tận tay Chủ nhiệm Thịnh.

Từng tang chứng rành rành được bày ra như một bản cáo trạng không lời sắc bén. Khuôn mặt Đạt cắt không còn hột máu, mồ hôi túa ra ròng ròng trên trán dù gió đêm lùa qua kẽ cửa buốt lạnh. Hai hàm răng lão va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách thảm hại, đôi bàn tay co quắp bấu chặt lấy mép bàn gỗ. Mọi lời chối quanh đều nghẹn ứ lại nơi cuống họng.

Chủ nhiệm Thịnh siết chặt nắm tay đập mạnh xuống mặt bàn, ánh mắt ánh lên ngọn lửa kiên định: “Chứng cứ đã rõ như ban ngày! Âm mưu chôn vùi sự thật của kẻ gian ác suốt hai mươi lăm năm qua không thể dung thứ thêm một giờ nào nữa. Đã đến lúc trả lại danh dự trong sạch cho đồng chí Đỗ Trọng Lương và đem lại nguồn nước bình yên cho toàn thể xã viên.”

Thịnh quay sang nhìn An và đội trưởng sản xuất, dứt khoát ra lệnh: “Trời sắp sáng rồi. Các đồng chí ra sân đình, đánh kẻng đồng triệu tập đại hội khẩn cấp! Mời toàn thể xã viên làng Đồi Ong đến chứng kiến!”

“Rõ!” An dõng dạc đáp lời.

Chỉ ít phút sau, giữa cữ sáng nhá nhem của làng quê xứ Đoài, chiếc vồ gỗ giáng mạnh vào vành kẻng đồng treo dưới gốc đa sân đình.

“Keng! Keng! Keng!... Boong... boong... boong!”

Tiếng kẻng đồng vang lên từng hồi dõng dạc trong sương sớm, xé tan bầu không khí tĩnh mịch, dội qua rặng tre ngõ xóm, đánh thức từng nếp nhà tranh và báo hiệu ngày phán xét của công lý đã điểm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.