Chương 6: Tiếng Sáo Gió Và Mẩu Xương Xám

Cơn gió lạnh đầu mùa phần phật thổi qua rặng xoan, cuốn theo lớp bụi đỏ trên lối ngõ xóm Trại. Cụ Vệ Thường Sơn siết lại dải thừng bện bằng vỏ cây móc ngang hông, khẽ gật đầu với cháu An “Đi thôi con. Canh hai rồi, sương xuống đậm, sân giếng vắng người là cữ tốt nhất để xuống đáy.”

An xốc giỏ mây đồ nghề lên vai, tay cầm chiếc đèn pin con thoi. Hai bóng người một già một trẻ khuất dần vào màn đêm u tịch của làng Đồi Ong. Cả xóm làng dường như nín thở sau những biến cố hai ngày qua; những nếp nhà tranh vách đất đều cài then đóng cửa kín mít, không một ánh đèn le lói.

Đến gốc thị cổ thụ đầu làng, vòm lá rậm rạp trùm bóng đen thẫm lên miệng Giếng Cả. Tiếng gió rít rền rĩ “u... u...” từ dưới lòng đất dội lên từng hồi ai oán, lúc trầm lúc bổng như tiếng người than khóc giữa đêm thanh vắng.

Cụ Sơn đặt giỏ mây xuống nền gạch, lấy ba nén hương trầm châm lửa cắm cẩn thận vào khe đá bờ thành. Theo lệ thợ đá ba đời xứ Đoài, trước khi bước xuống lòng sâu, người thợ cả luôn làm lễ cáo thần giếng mộc mạc: cầu xin tiên tổ phù hộ cho lòng đất bình yên, mắt nước tỏ rạng và việc nạo vét hanh thông. Khấn nguyện xong, cụ Sơn quay sang dặn An “Con quấn vòng thừng qua gốc thị to để hãm thế. Già này xuống đến đâu thì nhả thừng đều tay đến đó. Hễ thấy thừng giật mạnh một nhịp là dừng, hai nhịp là thả tiếp, ba nhịp dồn dập là phải kéo lên ngay.”

“Cháu nhớ rồi ông nội. Ông cẩn thận từng bước chân,” An nghiêm giọng đáp, đôi tay thoăn thoắt quấn sợi chão quanh thân cây thị.

Cụ Sơn luồn thừng qua nách và ngực, thắt chặt nút thòng lọng kép chuyên dụng. Bên hông giắt búa búp sen và chiếc nạo sắt cong đầu, tay cầm ngọn đèn chai bầu đồng mắt cua, cụ bước qua mép đá nhẵn thín, từ từ thả mình vào lòng giếng sâu hun hút.

Sợi chão căng trĩu. Càng xuống sâu, hơi lạnh từ đáy đá phả lên càng buốt rát, mùi bùn ngấu và tanh gắt của quặng sắt xộc thẳng vào mũi. Đôi chân tì nhẹ vào thành vách giữ thăng bằng, cụ giơ đèn chai ngang thắt lưng thử khí. Ngọn lửa bấc chao đảo nhưng vẫn cháy đượm, soi rõ từng thớ đá ong nâu sẫm ken dày rêu mốc. Những khối đá ong ghép ngàm mộng mộc mạc mà ăn khớp vững chãi như bàn thạch, không hề rạn nứt hay sụt lở. Cụ Sơn yên lòng: kết cấu thân giếng vẫn nguyên vẹn, biến động chắc chắn chỉ nằm ở đáy sâu.

Tụt xuống chừng mười lăm mét — ngót mười sải thừng chão — hai bàn chân cụ chạm phải lớp bùn nhão quánh lạnh ngắt. Nước đỏ dềnh lên ngang hông, đặc sánh mùn đất. Cụ giật thừng một nhịp dứt khoát ra hiệu dừng. Từ miệng giếng cao tít tắp, tiếng An vọng xuống nhỏ như tiếng dế “Ông chạm đáy chưa ạ?”Cụ Sơn không đáp thành tiếng để giữ dưỡng khí, chỉ gõ sống búa búp sen hai tiếng “cộc... cộc...” vào vách đá báo hiệu an toàn.

Đứng giữa đáy giếng chật hẹp, tiếng rít “u... u...” dội thẳng vào màng nhĩ vang rền. Luồng gió lạnh buốt từ góc chân vách thốc ra làm ngọn lửa đèn chai chao nghiêng dữ dội. Cụ Sơn lấy tay che chắn bầu đèn, rồi xoay người áp tai trần vào vách tầng đá ong mẹ.

Đá ong mẹ dưới đáy sâu đanh lại như gang thép, nhưng cụ cảm nhận rõ từng đợt rung chấn vi tế lan qua thớ đá. Bằng đôi tai thính nhạy ba đời nghe mạch đất, cụ Sơn hiểu ngay: âm thanh ai oán này không phải ma quỷ quấy phá như lời đồn của ông Đạt. Đó đích thực là tiếng phong tiêu! Một luồng gió ngầm cực mạnh từ khoảng rỗng bên trong lòng đồi luồn qua khe nứt hẹp, cộng hưởng với vòm giếng sâu hun hút tạo thành cây sáo gió rền rĩ giữa đêm khuya.

Cụ hạ thấp ngọn đèn chai soi xuống góc vách nơi luồng gió phát tác. Một chùm rễ cây to bằng bắp tay ngoằn ngoèo cắm sâu vào kẽ nứt mới toác, vỏ rễ nứt nẻ ứa ra thứ nhựa đỏ thẫm như máu tươi rỉ tong tỏng xuống dòng nước.

Cụ quệt ngón tay nếm thử thấy vị nhựa chát đắng nồng gắt: đúng là rễ chùm cây huyết đằng ăn ngầm từ triền đồi sim xuống! Nhựa huyết đằng ngấm vào quặng sắt đá ong sụt lở hòa lẫn bùn ngấu mục rữa, biến dòng nước ngọt lành thành màu đỏ quạch tanh nồng. Mọi dị tượng ma quái đã sáng tỏ, lòng cụ nhẹ bẫng nhưng không khỏi xót xa cho nguồn nước thiêng.

Cụ rút chiếc nạo sắt bên hông, cạo sạch lớp bùn rêu đỏ quanh khe nứt lớn để truy tìm hướng gió. Mũi nạo cạo sột soạt trên nền đá ráp, làm từng mảng bùn quánh tróc rơi lả tả. Miệng nứt lộ ra một khoảng ngách ngầm toác rộng chừng hai gang tay kẹp giữa hai phiến đá sụt lún, nơi luồng gió lạnh buốt lùa ra cuồn cuộn.

Đúng lúc đưa đèn sát lại gần để quan sát, ánh lửa bập bùng bỗng hắt lên một vật thể lạ đang kẹt cứng giữa hai phiến đá sụt ngầm. Vật ấy dài chừng một thước mộc, nằm xiên vẹo dưới chân chùm rễ huyết đằng, bị bao phủ bởi lớp bùn đỏ và rêu mục xám xịt.

Ban đầu, cụ Sơn ngỡ đó là đoạn rễ gãy hay thanh nêm gỗ của thợ xưa để lại. Cụ toan giật mạnh để khơi rộng miệng ngách, nhưng vừa chạm vào đã giật thót mình: bề mặt vật thể nhẵn thín, cứng cáp và lạnh buốt, hoàn toàn không có thớ gỗ hay vỏ xốp của rễ cây.

Linh tính mách bảo điều chẳng lành. Cụ Sơn nín thở, cẩn thận dùng đầu ngón tay cái to bè gạt sạch lớp bùn nhầy nhụa bám quanh. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn chai bầu đồng, lớp rêu mục tróc ra, để lộ một màu trắng đục đã ngả sang xám ngoét vì ngâm nước lâu năm.

Đó là hai chiếc xương cẳng tay người nằm song song, dính liền với những đốt xương bàn tay khẳng khiu đã gãy gập, cắm chặt vào kẽ đá nứt!

Toàn thân cụ Sơn run lên bần bật, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực. Bàn tay chai sạn cầm ngọn đèn chai chao đảo giữa đáy sâu tăm tối. Mẩu xương xám xịt của người đã khuất nằm trơ trọi dưới tầng đá sụt lở, như một chứng tích câm lặng suốt một phần tư thế kỷ đang đòi lại công lý trước trần gian.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.