Chương 15: Cơn Bấn Loạn Lúc Chập Tối
Bên hiên căn nhà đất ba gian, cụ Vệ Thường Sơn ngồi trên chiếc chõng tre cọt kẹt, cẩn thận chuốt từng que đóm mỏng. Sương chiều bảng lảng buông xuống những mái rạ làng Đồi Ong. Thấy An rảo bước vào ngõ, lồng ngực còn phập phồng sau chặng đường dài, cụ Sơn khẽ đặt thanh nứa xuống.
Vừa lên thềm, An ghé sát tai ông nội, hạ giọng kể việc bắt gặp Trần Khắc Đạt nấp sau bụi tre gai rình rập lớp học của cô Mai với ánh mắt đỏ ngầu, chỉ chịu lủi đi khi có người gánh rơm ngang qua ngõ. An cẩn thận rút phong bì giấy dó màu nâu ố trao cho cụ. Lướt nhìn những dòng mực sim tím dứt khoát cùng vệt máu khô của liệt sĩ Đỗ Trọng Lương, cụ Sơn xúc động siết chặt vai cháu: “Mọi manh mối đã khớp khít như ngàm mộng đá ong. Cháu cất kỹ bức thư này vào túi áo trong, rồi sang ngay kho hợp tác xã cùng chú Thịnh và anh em dân phòng canh giữ chiếc hòm lim với di cốt chú Lương. Lão Đạt đã cùng đường, thế nào cũng tìm sang đây dò la. Cứ để già này lo liệu.”
An gật đầu quả quyết, chào ông rồi lặng lẽ rẽ lối ngõ sau đi sang kho đội một.
Chập tối, bóng hoàng hôn xứ Đoài sụp xuống rất nhanh. Khói bếp nhà ai thơm mùi rơm rạ quyện trong hơi lạnh ngai ngái của đất gò. Cụ Sơn thong thả châm ngọn đèn dầu hoa kỳ đặt giữa chiếc bàn gỗ mộc, ánh lửa vàng ấm áp soi tỏ gian nhà giữa lát nền gạch nung đỏ sẫm.
Ngoài ngõ bỗng vang lên tiếng ho hắng ngập ngừng và bước chân giẫm lạo xạo trên sỏi sạn. Cánh cổng liếp khẽ mở, một bóng người đẫy đà bước vào sân. Đó chính là cựu Chủ nhiệm Trần Khắc Đạt.
Khác với vẻ lấm lét ban trưa, lúc này Đạt cố khoác lên bộ dạng đạo mạo quen thuộc. Lão mặc chiếc áo lụa đũi màu mỡ gà, tay xách gói chè móc câu bọc giấy báo buộc lạt giang cùng cân đường phèn trắng muốt. Vừa bước tới bậu cửa, lão đã cất tiếng cười khà khà gượng gạo: “Cụ Sơn đã dùng cơm nước gì chưa? Tiện đường đi qua ngõ, tôi ghé thăm cụ thợ cả. Có chút chè móc câu với cân đường phèn tiêu chuẩn của cán bộ hưu trí, tôi mang sang biếu cụ bồi dưỡng sau mấy ngày vất vả vì giếng làng.”
Cụ Sơn đứng dậy, ánh mắt trầm tĩnh nhìn thẳng vào người khách không mời. Cụ nhận ra ngay khóe mắt phải của Đạt đang giật máy liên hồi và hai bàn tay cầm quà khẽ run. “Ông Đạt sang chơi là quý rồi, quà cáp làm chi cho phiền,” cụ Sơn điềm đạm đáp, đưa tay mời lão ngồi xuống ghế đối diện. “Mời ông ngồi xơi nước. Già này vừa đun sôi ấm nước mưa đây.”
Cụ Sơn tráng chiếc ấm tích da lươn, xúc một vốc chè móc câu thả vào rồi châm nước sôi sùng sục. Khói trà bốc lên ngát hương cốm nồng đượm. Đạt đặt gói quà lên mép bàn, đôi mắt đảo quanh gian nhà rồi dừng lại ở khóe mắt cụ Sơn. Lão hắng giọng, làm bộ thân tình: “Nghe đâu hôm nay đội nạo vét dưới đáy Giếng Cả làm việc cật lực lắm. Ban quản trị ai cũng khen cụ thợ cả tay nghề vững vàng. Không biết... tiến độ thông mạch nước dưới sâu đã đến đâu rồi hả cụ?”
Cụ Sơn không vội đáp. Cụ với chiếc điếu cày nứa tép, tra vê thuốc lào hạt đỗ vào nõ điếu rồi châm que đóm rít một hơi giòn tan. Tiếng điếu reo rộn rã phá tan bầu không khí ngột ngạt. Thong thả nhả làn khói xanh mờ vào khoảng tĩnh mịch, cụ mới cất giọng trầm đục: “Việc giếng là việc chung của bà con, già này dốc sức cũng là lẽ thường. Đáy giếng sâu mười lăm mét bùn lầy quánh đặc, nhưng nhờ ơn trời đất, mạch đá mẹ vẫn vững chãi, chỉ có vài ngách ngầm sụt lở từ thuở xa xưa cần dọn dẹp cho phong quang thôi.”
Nghe hai chữ “ngách ngầm”, sống lưng Đạt khẽ giật nảy. Lão rướn người về phía trước, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn, hạ thấp giọng dọ hỏi: “Ấy, tôi cũng nghe phong phanh chuyện đào trúng ngách ngầm thời chống Pháp năm xưa. Cái ngách ấy sạt lở ngổn ngang từ hồi năm năm mươi ba... Hai ông cháu cụ lặn lội dưới bùn sâu, liệu... có chạm phải giấy tờ, sổ sách hay đồ vật gì còn sót lại từ thời bom đạn không cụ?”
Câu hỏi thốt ra nghe như tình cờ nhưng từng tiếng đều run rẩy, phơi bày nỗi thắc thỏm tột cùng của kẻ mang tội. Cụ Sơn rót dòng trà vàng sánh vào chén sành, đẩy nhẹ về phía Đạt. Ánh mắt người thợ già như hai đốm than hồng ấm áp mà sắc bén: “Nghề thợ giếng họ Vệ ba đời gắn liền với đá ong, già này hiểu cái nết của đá lắm ông Đạt ạ. Đá ong nằm sâu dưới đất thì mềm xốp, nhưng hễ đưa lên gặp nắng gió là đanh quánh lại như sắt nguội. Chuyện nhân tình thế thái cũng vậy. Đạo trời sâu thẳm, những gì vùi sâu trong bùn lạnh bao năm tưởng đã tiêu tan, rồi cũng đến ngày đá nứt, đất lở, phơi bày trọn vẹn ra trước ánh mặt trời. Lưới trời lồng lộng, đá giếng trăm năm chẳng biết nói dối bao giờ đâu.”Từng lời cụ buông ra nặng tựa ngàn cân, giáng thẳng vào tâm can Đạt. Mặt lão thoắt cái cắt không còn giọt máu, khóe mắt lại giật máy liên hồi. Lão run rẩy đưa tay bưng chén trà nóng lên miệng hòng che giấu sự bấn loạn. Đúng khoảnh khắc ấy, dưới ánh đèn hoa kỳ soi tỏ, cụ Sơn quan sát thấy trên mu bàn tay phải của Đạt có ba vết cào xước dài còn tấy đỏ – dấu vết khi lão vùng vẫy tháo chạy qua bụi tre gai ở rào Giếng Cả trong đêm đổ trộm vôi bột.
Chưa hết, vạt áo lụa đũi màu mỡ gà bên phải của lão đã bị ai đó dùng kéo cắt xén vội vã một mảng hình vuông bằng bàn tay, mép vải khâu lược tạm bợ bằng những đường chỉ vụng về. Mảnh vải bị cắt đi ấy trớ trêu thay lại vừa khít với mảnh lụa đũi rách dính trên gai tre mà An nhặt được đêm nào, hiện vẫn nằm nguyên trong túi áo trong của cụ!
Cụ Sơn khẽ nhếch khóe môi, ánh nhìn chuyển từ vết xước trên mu bàn tay sang vạt áo đũi khuyết góc, rồi dừng lại trên khuôn mặt tái mét của Đạt. Ánh mắt cụ nghiêm nghị, thấu suốt như lưỡi búa tôi đanh soi vào thớ đá.
Chột dạ trước ánh nhìn thấu tận đáy lòng ấy, Đạt rùng mình kinh hãi. Dường như lão hiểu rằng mọi hành vi lén lút và tội ác suốt hai mươi lăm năm qua đã hoàn toàn bị l*t tr*n trước mặt người thợ già. Toàn thân lão run bắn, các ngón tay bỗng mất hết lực.
“Choang!”
Chiếc chén sành tuột khỏi tay Đạt, rơi thẳng xuống nền gạch hoa vỡ toang làm nhiều mảnh. Nước trà nóng cùng bã chè bắn tung tóe lên đôi guốc mộc và vạt áo đũi của lão.
Đạt giật nảy mình, cuống cuồng lùi ghế đứng bật dậy. Lão ấp úng, giọng líu lại trong cổ họng: “Tôi... tôi sơ ý quá! Trúng... trúng luồng gió độc ngoài đồng nên tay chân bỗng dưng bủn rủn... Xin lỗi cụ Sơn... Thôi, trời đã tối mịt rồi, tôi phải về uống chén nước gừng kẻo cảm lạnh. Việc giếng... cụ cứ liệu bề thu xếp...”
Không đợi cụ Sơn kịp lên tiếng hay dọn dẹp mảnh vỡ, Đạt lập cập quay người, cắm đầu bước thoăn thoắt ra sân như bị ma đuổi. Tiếng cánh cổng liếp va đập chan chát vào cọc tre vọng lại giữa đêm vắng.
Cụ Sơn đứng lặng bên bậu cửa, nhìn theo bóng lưng đẫy đà đang lầm lũi khuất dần vào màn sương đêm buốt giá của làng Đồi Ong. Gió mùa thu quét qua rặng tre đầu ngõ xào xạc, mang theo hơi lạnh ngai ngái của đất đá. Linh tính của người thợ già từng trải qua bao biến cố mách bảo cụ rằng, con thú dữ khi bị dồn đến chân tường đã mất hết chút bình tĩnh cuối cùng. Với bản tính xảo quyệt và hèn nhát, Trần Khắc Đạt tuyệt đối không dám bước ra đối chất trước hương án sân đình vào cữ sáng mai.
Đêm nay, kẻ thủ ác chắc chắn sẽ tìm cách đào tẩu khỏi làng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
