Chương 10: Tảng đá Ong Chặn Nắp Hòm

Cụ Vệ Thường Sơn run rẩy đưa bàn tay chai sạn đỡ lấy cây bút máy Kim Tinh từ tay cháu nội. Bề mặt kim loại mạ vàng nơi nắp bút truyền vào lòng bàn tay cụ một luồng hơi lạnh buốt của lòng đất, nhưng hàng chữ khắc chìm mang tên Đỗ Trọng Lương lại như hòn than hồng rực, thiêu đốt lồng ngực cụ già bảy mươi tuổi.

Ký ức của một đêm mùa đông giá buốt năm một chín năm ba bất giác dội về trong tâm trí cụ Sơn. Đêm ấy, tiếng nổ ngầm làm chao đảo cả xóm Trại, rồi ngay sau đó là những lời xì xầm cay độc do Trần Khắc Đạt tung ra khắp các ngõ xóm, rêu rao rằng người đội trưởng du kích đã nhẫn tâm ôm trọn mười hai lượng vàng quyên góp của dân làng vượt sông trốn giặc. Lời vu cáo đê hèn ấy đã dìm gia đình anh Lương xuống bùn nhơ, khiến cô giáo Mai phải cắn răng nuốt nước mắt chịu đựng sự ghẻ lạnh suốt một phần tư thế kỷ. Nhưng lúc này đây, cây bút máy Kim Tinh – kỷ vật thiêng liêng mà Huyện đội Đoài Bình trao tặng cho anh Lương, thứ vật bất ly thân anh luôn cài trên mép túi áo trấn thủ – lại nằm im lìm dưới đáy địa đạo đổ nát này.

“Anh Lương chưa từng rời khỏi đất này một bước...” Giọng cụ Sơn run lên nghẹn ngào, đôi mắt đục mờ ngấn lệ nhìn vào làn khói dầu hỏa chập chờn. “Đá ong xứ Đoài đã ôm lấy anh, giữ trọn tấm lòng trong sạch của anh suốt hai mươi lăm năm ròng.”

Cụ cẩn thận rút chiếc khăn vuông bằng vải phin trắng đã ố màu giắt trong ngực áo chẽn, bọc kín cây bút máy lại rồi trao sang cho An “Cháu cất kỹ vào túi trong đi. Kỷ vật này là bằng chứng sống, nhưng việc của già cháu mình dưới đáy hầm vẫn chưa xong đâu.”

An kính cẩn đón lấy bọc vải, cất gọn vào túi áo rồi thắt chặt đai lưng. Cụ Sơn hít một hơi sâu, nén dòng cảm xúc đang dâng trào trong lồng ngực để lấy lại sự điềm tĩnh vốn có của một người thợ cả ba đời bám đá. Cụ cầm ngọn đèn chai giơ cao ngang trán, nheo mắt rà soát kỹ lưỡng khoảng không gian tăm tối phía trước.

Hai ông cháu bắt đầu lần từng bước thận trọng, tiến sâu hơn vào tâm điểm của bãi sụt lở. Càng đi vào trong, không khí càng đặc quánh mùi tanh nồng của quặng sắt laterite hòa lẫn với hơi ẩm mục ruỗng lâu ngày. Đất dưới chân nhão nhoẹt, lún ngập đến nửa bắp chân khiến mỗi bước giẫm đều phải lựa thế đặt lên từng gờ đá cứng. Cụ Sơn ngửa mặt nhìn lên vòm hầm, nơi ánh lửa vàng vọt của hai ngọn đèn chai soi rõ một cảnh tượng rợn người.

Toàn bộ vòm đá ong bên trên đã bị nứt toác thành những khe hở chằng chịt như mạng nhện chân chim. Từng mảng đá nâu đỏ lởm chởm rỉ nước răn reo, mang theo thứ bùn quặng đỏ quạch chảy ròng ròng xuống thành vệt dài. Đôi tai thính nhạy của người thợ già bắt được từng tiếng cựa mình rất khẽ của địa tầng – tiếng cát sạn rơi lẹt xẹt, tiếng đá nứt răng rắc ngấm ngầm truyền qua vách hầm. Vòm đá này đang ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc, chỉ cần một chấn động mạnh hay một tiếng búa đục sai nhịp là hàng tấn đất đá phía trên sẽ lập tức đổ ập xuống, chôn vùi tất cả lối thoát.

“An, đi sát vào vách đá mẹ,” cụ Sơn hạ thấp giọng căn dặn, bàn tay cụ khẽ gạt những nhánh rễ huyết đằng buông thõng từ trần hầm. “Đá trên đầu đang nín thở đấy, chớ có va chạm mạnh.”

An gật đầu, rón rén bước theo sau từng dấu chân của ông nội. Đến chân đống đất đá ngổn ngang nơi thanh dầm lim gãy đôi cắm xiên xuống nền bùn, cụ Sơn cúi rạp người xuống. Dưới lớp rác rưởi mục nát và bùn đỏ dồn ứ, cụ dùng lưỡi nạo sắt cẩn thận gạt từng mảng mùn gỗ sang một bên.Bất thình lình, lưỡi nạo sắt chạm phải một bề mặt phẳng phiu và phát ra tiếng cộc trầm đục.

Cụ Sơn vội hạ thấp ngọn đèn chai rọi sát vào kẽ đất. Dưới lớp bùn quặng nhão nhoẹt, một mảng kim loại màu xám xịt dần dần lộ ra. Đó là góc của một chiếc hòm lớn, được bọc bằng tôn kẽm dày dặn để chống ẩm ướt và mối mọt. Dọc theo các mép viền của lớp bọc kẽm là những hàng đinh đồng tán đầu tròn to bản, đóng chìm sâu vào thớ gỗ lim đen nhánh bên trong. Dù trải qua hai mươi lăm năm chôn vùi trong lòng đất ẩm, lớp kẽm đã xỉn màu và bám đầy phèn đỏ, nhưng những chiếc đinh đồng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, giữ cho các mối ghép khít rịt.

Mắt cụ Sơn sáng lên, bàn tay cụ khẽ miết lên hàng đinh đồng quen thuộc. Cụ nhận ra ngay đây chính là chiếc hòm tiếp tế kháng chiến huyền thoại năm một chín năm ba – chiếc hòm bảo mật do chính tay thợ mộc tài hoa của làng Đồi Ong đóng riêng cho Huyện đội, nơi cất giữ toàn bộ mười hai lượng vàng quyên góp cùng sổ sách tài chính kháng chiến của cả vùng bán sơn địa xứ Đoài.

Chiếc hòm nằm nghiêng trong kẽ đá, một nửa thân hòm đã trồi ra khỏi lớp bùn đỏ, nhưng nắp hòm vẫn đóng chặt im ỉm.

Thế nhưng, niềm vui vừa kịp lóe lên đã vội tan biến khi ánh mắt cụ Sơn di chuyển lên phía trên.

Đè chặt ngay trên nắp chiếc hòm gỗ lim là một khối đá ong tổ khổng lồ, to lớn bằng cả chiếc cối giã gạo, ước chừng nặng đến năm, sáu tạ. Khối đá xù xì, lỗ chỗ như tổ ong rừng, một đầu cắm ngập vào đống sỏi sạn, đầu kia gối chéo lên nắp hòm kẽm. Nguy hiểm hơn cả, cụ Sơn nhận thấy tảng đá này không đơn thuần chỉ là một hòn đá rơi tự do. Nó chính là khối đá then chốt của vòm hầm, một mấu đá chịu lực đang kẹt cứng giữa hai gờ đá nứt của địa đạo, giữ vai trò như chiếc trụ sống chống đỡ cả một mảng vòm đá ong đang rạn nứt phía trên.

Cụ Sơn quỳ một chân xuống bùn, áp sát tai vào thân tảng đá ong khổng lồ. Bàn tay gầy guộc của cụ khẽ vỗ nhẹ cán búa búp sen vào sườn đá, lắng nghe tiếng dội âm vang vọng trong lòng khối laterite. Tiếng đá đanh gắt, nhưng kèm theo đó là âm thanh râm ran như tiếng mạch máu đập dồn dập từ vách hầm truyền tới.

Mọi phán đoán địa tầng của người thợ cả lập tức hiện lên rõ mồn một. Khối đá này đang gánh toàn bộ trọng lực của mảng trần hầm sụt lở. Chiếc hòm gỗ lim vô tình trở thành chiếc đôn kê dưới đáy, chịu một phần sức nặng ngàn cân. Nếu ai đó thiếu hiểu biết mà vội vàng dùng xà beng nạy bừa hay dùng búa búp sen đập vỡ khối đá để mở hòm, chỉ cần mộng đá bị bẩy xê dịch dù chỉ một phân, toàn bộ vòm hầm phía trên sẽ mất điểm tựa mà sập đổ tan tành trong chớp mắt.

“Có chuyện gì thế ông nội?” Thấy nét mặt ông trầm mặc khác thường, An khẽ ghé sát tai hỏi nhỏ.

Cụ Sơn chầm chậm đứng thẳng dậy, đôi mắt quắc thước nhìn chăm chú vào từng đường vân nứt nẻ đang rỉ nước răn reo trên đỉnh đầu, rồi lại nhìn xuống tảng đá khổng lồ đang đè nghẽn nắp hòm gỗ lim. Cụ vươn bàn tay to bè đầy sẹo đá, siết chặt lấy bờ vai vạm vỡ của đứa cháu nội. Giữa bóng tối thâm u và hiểm cảnh mong manh nơi lòng đất, cụ Sơn hiểu rằng việc cạy mở bí mật này không thể dùng sức mạnh cơ bắp tầm thường, mà phải nhờ cậy đến ngón nghề nêm kích đá tinh xảo ba đời của dòng họ Vệ mới mong mở được cánh cửa sinh tử, đưa chân lý ra ngoài ánh sáng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.