Chương 17: Phơi Bày Trước Sân đình

Tiếng kẻng đồng vừa dứt, hơi sương lạnh cữ sáng đầu thu xứ Đoài còn bảng lảng quanh gốc đa cổ thụ nơi sân đình làng Đồi Ong. Cụ Vệ Thường Sơn chống hai tay lên đầu gối, chậm rãi đứng dậy khỏi chiếc ghế băng trong gian tả vu. Nghe tiếng bước chân rầm rập cùng tiếng gọi nhau í ới của bà con xã viên từ khắp các ngõ xóm đổ về, lòng cụ thợ già cuộn lên bao nỗi ngổn ngang nhưng ánh mắt vẫn giữ trọn nét trầm tĩnh của người cả đời lắng nghe mạch đất.

Dưới sự chỉ đạo của Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh, hai thanh niên tự vệ trang nghiêm khiêng chiếc bàn gỗ mộc từ hậu cung đặt ra giữa khoảng sân gạch nghiêng, dưới bóng râm che chở của cây đa cổ thụ. Chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm năm xưa nay được phủ tấm vải điều đỏ thắm, đặt trang trọng chính giữa hương án mộc mạc nghi ngút khói trầm. Cạnh chiếc hòm là một hộp gỗ nhỏ cài then đồng mà cụ Sơn đích thân mang theo từ gian kho ba lớp của hợp tác xã.

Chẳng mấy chốc, sân đình đã chật kín hàng trăm xã viên. Mọi người chen vai sát cánh, xì xào bàn tán trước sự hiện diện của chiếc hòm phủ vải điều và vẻ mặt thất thần của cựu Chủ nhiệm Trần Khắc Đạt. Ngồi co ro trên chiếc ghế mây bên chiếc bàn dài phía gian tả vu dưới sự canh giữ của hai dân phòng, lão Đạt giấu đôi tay run rẩy vào trong vạt áo, khóe mắt phải không ngừng giật máy từng hồi.

Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh trong bộ áo đại cán bốn túi bước lên phía trước hương án. Giọng anh dõng dạc, sang sảng vang khắp sân đình: “Thưa toàn thể bà con xã viên! Ba ngày qua, làng ta hoang mang vì nước Giếng Cả đổi màu đỏ quạch và phát ra tiếng than khóc lúc nửa đêm. Kẻ xấu đã lợi dụng việc này để phao tin ma quỷ, kích động đòi lấp giếng hòng phá hoại nguồn nước ngọt và che giấu tội ác cũ. Hôm nay, ban quản trị hợp tác xã triệu tập đại hội khẩn cấp để công bố toàn bộ chân tướng sự thật trước ánh sáng công lý!”

Cả sân đình im phăng phắc. Thịnh đưa tay chỉ về phía Giếng Cả, đanh thép tiếp lời: “Nước giếng chuyển đỏ chỉ vì rễ cây huyết đằng ăn sâu vào kẽ nứt gặp quặng sắt đá ong sụt lở làm thôi ra sắc đỏ quạch, còn tiếng than khóc rền rĩ là hiện tượng phong tiêu – luồng gió rỗng từ cửa hầm địa đạo cũ luồn qua vách đá nứt tạo thành tiếng sáo ngầm rít lên giữa đêm thanh vắng. Hoàn toàn không có chuyện ma quỷ! Và chính trong quá trình lặn xuống đáy sâu mười lăm mét khơi thông dòng nước, hợp tác xã cùng cụ thợ cả Vệ Thường Sơn đã phát hiện ra ngách địa đạo kháng chiến năm một nghìn chín trăm năm mươi ba cùng một sự thật đau lòng bị vùi lấp suốt hai mươi lăm năm qua.”

Thịnh nghiêng mình, trân trọng nhường lời: “Xin kính mời cụ thợ cả nói rõ ngọn ngành cho bà con cùng tường tận.”

Cụ Vệ Thường Sơn bước ra trước toàn dân. Dáng cụ quắc thước, đôi bàn tay chai sạn lấm tấm sẹo đá ong khẽ siết lại vì xúc động. Ánh mắt trầm tĩnh của cụ nhìn lướt qua xóm giềng, rồi dừng lại ở cô giáo Đỗ Thị Mai đang nép mình bên mép sân, gương mặt thanh tú tái nhợt vì âu lo. Cụ Sơn cất giọng trầm ấm, vang vọng vào không gian u tịch của ngôi đình: “Bà con làng ta ơi. Ba đời nhà già này sống nhờ nghề đẽo đá khơi giếng, ăn lộc của đất, chưa từng thấy hòn đá nào biết nói dối. Đêm hôm kia, tôi cùng cháu An buộc thừng lặn xuống đáy giếng sâu mười lăm mét, mở ngách đá sụt thông vào đường hầm kháng chiến cũ. Dưới đống đất đá ngột ngạt ngàn cân treo sợi tóc, chúng tôi không chỉ tìm thấy dấu tích chiến tranh năm xưa...” Cụ Sơn dừng lại, giọng nghẹn ngào: “... mà chúng tôi đã tìm thấy hài cốt của người đồng chí, người con ưu tú của làng Đồi Ong: Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương!”

Cả sân đình bỗng chốc ồ lên kinh ngạc. Những tiếng xuýt xoa rộ lên khắp nơi. Phía góc sân, cô giáo Mai run rẩy bấu chặt lấy ngực áo, hai chân mềm nhũn toan ngã quỵ nếu không có hai phụ nữ trong đội sản xuất kịp ôm đỡ lấy.

Cụ Sơn giơ tay trấn an dân làng, tiếp tục rành rọt: “Đồng chí Lương không hề ôm vàng đào ngũ theo giặc như lời vu cáo độc ác suốt hai mươi lăm năm qua! Khi chúng tôi bẩy tảng đá lớn dưới đáy hầm, hai cánh tay của đồng chí ấy vẫn đang ôm ghì lấy đáy chiếc hòm công quỹ, lấy thân mình che chở cho từng hạt vàng của nhân dân!”

Dứt lời, cụ Sơn ra hiệu cho An và Thịnh. Ba người cùng bước tới trước chiếc hòm gỗ lim. Thịnh trang trọng gạt tấm vải điều sang bên. Lớp kẽm xám xịt bao quanh thân gỗ lim lộ ra trước thanh thiên bạch nhật, vương những vệt bùn khô và một vết chém sâu hoắm trên nắp.Cụ Sơn đặt bàn tay chai sạn lên mép gỗ, phối hợp cùng An nhẹ nhàng bẩy then cài. Chiếc nắp hòm lim nặng nề mở toang.

Chủ nhiệm Thịnh trân trọng nâng từng lớp bạt tẩm dầu màu nâu sẫm đã mục ải, để lộ những lá vàng kháng chiến sáng ngời dưới ánh nắng sớm. Thịnh hai tay nâng cao xấp vàng lá cùng tập danh sách ố vàng, cất giọng sang sảng: “Toàn thể bà con hãy nhìn đây! Đúng mười hai lượng vàng kháng chiến và bản danh sách Tuần lễ Vàng mùa thu năm một nghìn chín trăm năm mươi ba còn nguyên vẹn con dấu cùng chữ ký của đồng bào xã Đoài Bình! Không hao hụt một ly, không mất một lạng! Đỗ Trọng Lương là một liệt sĩ kiên trung của quê hương!”

“Anh Lương ơi... Trời phật có mắt rồi anh ơi!”

Tiếng nấc nghẹn ngào của cô giáo Mai xé toang không gian tĩnh lặng. Người phụ nữ gầy guộc quỳ sụp xuống nền gạch, nước mắt tuôn rơi lã chã trên đôi gò má sầu muộn. Hai mươi lăm năm ròng rã chịu đựng tủi nhục, nay danh dự của người anh trai đã được rửa sạch giữa ban ngày ban mặt. Hàng chục bà con xã viên mắt ngấn lệ ùa tới, người đỡ tay, người vỗ về an ủi, những cái nhìn áy náy xen lẫn niềm thương cảm chân thành làm bừng lên hơi ấm của tình làng nghĩa xóm.

Trong lúc dân làng đang xúc động nghẹn ngào, từ dãy ghế phía tả vu bỗng vang lên tiếng rầm chát chúa.

Trần Khắc Đạt vùng đứng dậy, đập mạnh hai bàn tay xuống mặt bàn. Mặt lão đỏ gay gắt nhưng khóe mắt phải giật liên hồi, mồ hôi túa ra như tắm. Lão giơ ngón tay run rẩy chỉ về phía hương án, the thé gào lên: “Khoan đã! Bà con đừng vội nghe lời suy diễn một chiều! Việc tìm thấy mười hai lượng vàng dưới ngách giếng là công lao bảo tồn của tập thể, là tài sản của cách mạng! Nhưng còn cái chết của anh Lương thì liên quan gì đến tôi? Năm năm mươi ba, máy bay giặc Pháp ném bom rền trời, đạn pháo bắn phá tan nát xóm làng, hầm sập đè chết người là rủi ro của thời chiến! Tôi khi ấy chỉ là liên lạc tiếp tế theo lệnh, làm sao biết được ngách hầm sụt lở lúc nào? Các người tìm thấy vàng thì cứ việc nộp vào công quỹ, cớ sao lại dám dùng cái chết vì bom đạn của đồng chí Lương để vu vạ, bôi nhọ danh dự của một cựu chủ nhiệm như tôi?”

Những lời lẽ ngoan cố của Đạt khiến đám đông bắt đầu xuất hiện những tiếng xì xào ngập ngừng. Một vài xã viên lớn tuổi nhìn nhau e dè, bởi uy thế cùng chiếc vỏ bọc cách mạng của lão Đạt suốt bao năm qua vẫn còn đè nặng trong tâm lý dân làng.

Chứng kiến sự trơ trẽn của kẻ thủ ác, cụ Vệ Thường Sơn không hề nổi giận. Cụ khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt trầm tĩnh nhìn thẳng vào gương mặt tái mét đang cố gồng lên vẻ thanh bạch của Đạt.

Cụ thong thả bước lại gần chiếc bàn hương án, đặt bàn tay chai sạn ấm áp lên nắp chiếc hộp gỗ nhỏ. “Ông Đạt à,” cụ Sơn cất giọng chậm rãi, từng lời nặng tựa đá tảng giữa chốn cửa đình trang nghiêm, “đá ong dãi dầu nắng gió thì đanh quánh lại như sắt nguội, nhưng lòng dạ con người nếu dãi dầu gian trá thì mục ruỗng từ bên trong. Bom đạn giặc có thể làm sập vòm hầm, nhưng bom đạn không bao giờ biết cầm dao rèn hoa thị chém lén sau gáy đồng đội, rồi lại lén lút rạch áo lấy lụa đũi đi lấp miệng Giếng Cả giữa đêm khuya đâu.”

Dưới hàng trăm ánh mắt đang nín thở dõi theo của toàn thể dân làng, cụ Sơn điềm đạm rút chiếc then cài bằng đồng, chầm chậm mở toang nắp chiếc hộp gỗ trên bàn hương án, chuẩn bị đưa ra những bằng chứng thép cuối cùng để kết liễu mọi lời ngụy biện của kẻ phản bội.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.