Chương 18: Kẻ Thủ ác Quỳ Gối
Nắp chiếc hộp gỗ trên bàn hương án vừa bật mở, Vệ Thường An đã thấy một luồng không khí u tịch như ngưng đọng lại giữa sân đình làng Đồi Ong. Đứng sát bên hương án, An căng mắt dõi theo từng cử chỉ điềm đạm của ông nội.
Cụ Vệ Thường Sơn cẩn trọng nâng mảnh xương sọ màu xám tro đặt lên dải lụa đỏ trải sẵn trên mặt bàn. Dưới ánh nắng sớm chiếu qua kẽ lá đa cổ thụ, một vết chém sâu hoắm dài chừng ba đốt ngón tay hằn rõ từ phía sau gáy, làm nứt toác một mảng vòm đầu. Cụ Sơn nhìn thẳng vào Trần Khắc Đạt, cất giọng sang sảng “Bà con hãy nhìn kỹ! Bom pháo làm sập hầm thì đất đá đè nát toàn thân, tạo nên những vết dập gãy không phương hướng. Còn đây là vết chém ngọt từ một lưỡi thép sắc lẹm, chém lén từ sau lưng khi người ta không hề phòng bị! Và hung khí gây ra vết nứt chí mạng này, chính là thứ nằm trong tay già này!”
Cụ Sơn vươn tay vào hộp gỗ, nhấc ra mẩu thép hoen rỉ có ngạnh gài và dấu hoa thị bốn cánh chìm sâu. Cùng lúc đó, Chủ nhiệm Thịnh mở chiếc khăn tay phin trắng, đặt cạnh đó một chuôi dao bấm bằng sừng trâu mòn nhẵn – tang vật thu giữ từ tay nải của Đạt đêm qua. Khi cụ Sơn đặt mẩu thép gãy vào chuôi sừng, hai phần lưỡi thép khớp khít đến từng vết nứt, làm hiện rõ con dấu hoa thị độc quyền của lò rèn họ Trần nức tiếng xứ Đoài.
Trước cảnh tượng rành rành ấy, mặt lão Đạt cắt không còn giọt máu. Khóe mắt phải của lão giật giật liên hồi, hai bàn tay bám chặt mép bàn phía tả vu run lên bần bật như người trúng gió độc.
Không để kẻ gian kịp chống chế, An dứt khoát bước lên. Cậu cầm lấy mảnh lụa đũi màu mỡ gà rách mép từ trong hộp gỗ, giơ cao trước hàng trăm ánh mắt rồi tiến thẳng tới trước mặt lão Đạt. An áp mảnh lụa vào góc vạt áo bị cắt xén nham nhở của lão. Từng thớ sợi dệt thủ công ăn khớp trọn vẹn với vạt áo đũi lão đang mặc trên người.
“Bà con xã viên!” Giọng An đanh thép vang rền khắp sân đình. “Đêm ngày thứ nhất khi Giếng Cả đổi màu và rền rĩ tiếng sáo gió phong tiêu, chính mắt tôi đã trông thấy một bóng đen lén lút trút vôi bột cùng đá non xuống đáy giếng hòng bịt kín kẽ nứt. Bị tôi truy đuổi, kẻ đó tháo chạy vào ngõ xóm Trại và bỏ lại mảnh lụa này trên hàng rào tre gai. Mảnh lụa đũi mỡ gà này vừa khít với vạt áo lão Đạt đang mặc! Kẻ lén lút phá hoại Giếng Cả chính là ông ta!”
Một làn sóng xôn xao bùng lên như ong vỡ tổ. Hàng trăm người chồm lên, những ánh mắt nhìn lão Đạt từ bàng hoàng chuyển sang bừng bừng căm phẫn.
Lão Đạt lảo đảo lùi lại nửa bước, miệng mấp máy lắp bắp: “Không... không phải... Mảnh áo rách thì có gì làm bằng... Tôi chỉ vô tình...”
“Ông im mồm đi!” Tiếng quát đanh gọn của Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh cắt ngang lời ngụy biện. Thịnh bước tới trước hương án, hai tay nâng cao một tờ giấy bản ố vàng, mép giấy loang lổ những vệt máu khô thẫm màu sim chín. Thịnh nhìn khắp lượt dân làng rồi dõng dạc đọc lớn “‘Gửi em gái Đỗ Thị Mai và đồng đội thân yêu. Đêm nay, ngày mười lăm tháng chín năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, tôi nhận bàn giao đủ mười hai lượng vàng quyên góp từ đồng chí liên lạc Trần Khắc Đạt tại cửa ngách địa đạo thông ra Giếng Cả để chuẩn bị chuyển lên căn cứ. Nếu có mệnh hệ nào trên đường hành quân, mong em vững lòng tin vào danh dự của người lính...’ Ký tên: Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương!”Từng câu chữ sang sảng vang lên như sấm sét giữa trời quang. An nhìn thấy lão Đạt run rẩy đến mức hai đầu gối chực sụp xuống.
Chuỗi chứng cứ thép đã phơi bày toàn bộ sự thật đen tối bị vùi lấp suốt một phần tư thế kỷ: Đêm mùa thu năm 1953 ấy, vì lòng tham mười hai lượng vàng kháng chiến, Đạt đã rút dao rèn hoa thị chém lén Đội trưởng Lương từ sau gáy. Cú chém trúng nắp hòm làm gãy lưỡi dao, đồng thời chấn động khiến vòm đá sụt lở chôn vùi người chiến sĩ và chiếc hòm kẽm. Thoát chết, Đạt vu oan cho anh Lương ôm vàng đào ngũ. Suốt hai mươi lăm năm giấu mình dưới vỏ bọc cựu chủ nhiệm, đến khi địa tầng sụt lở phát tiếng sáo gió dọa làm lộ ngách ngầm, lão lại lén trút vôi đá hòng lấp giếng xóa sạch vết tích tội ác.
“Đồ sâu mọt phản bội!” “Giết đồng đội cướp vàng rồi vu oan giá họa suốt hai mươi lăm năm!” “Đền tội đi! Phải trừng trị thích đáng kẻ thủ ác!”
Tiếng la ó phẫn nộ của dân làng trút xuống như thác lũ. Lực lượng dân phòng phải vất vả giang tay ngăn dòng người đang sôi sục căm hờn.
Dưới sức nặng của công lý và ánh nhìn thấu suốt của cụ Sơn, chiếc vỏ bọc giả nhân giả nghĩa cuối cùng của Trần Khắc Đạt hoàn toàn vỡ vụn. Lão ngã quỵ xuống nền gạch Bát Tràng. Hai chân bủn rủn, lão bò lết từng thước về phía hương án nơi đặt di cốt của người đồng đội cũ.
Lão Đạt vừa khóc rống lên thảm thiết, vừa đập đầu xuống nền gạch chan chát: “Anh Lương ơi... Tôi có tội với anh, có tội với bà con làng xóm... Tôi tham mười hai lượng vàng mà mờ mắt rút dao... Khi hầm sập tôi sợ bị bắn nên mới nói dối... Tôi sai rồi... Xin anh Lương dưới suối vàng tha tội cho tôi... Xin bà con tha mạng cho tôi...”
Từng giọt nước mắt muộn màng hòa cùng máu rỉ ra từ trán lão rơi xuống nền gạch lạnh lẽo. Lời thú tội hèn hạ của kẻ sát nhân vang lên giữa thanh thiên bạch nhật, đặt dấu chấm hết cho nỗi hàm oan dai dẳng suốt hai mươi lăm năm trời.
Cách đó vài bước chân, cô giáo Đỗ Thị Mai quỳ sụp bên hương án, hai tay ôm trọn chiếc huy hiệu Sao Vàng cùng cây bút máy Kim Tinh vào ngực. Nước mắt cô tuôn rơi trên gò má hốc hác, nghẹn ngào đón nhận sự trong sạch của người anh trai sau một phần tư thế kỷ bị người đời rẻ rúng. An cùng bà con xã viên nhẹ nhàng bước tới đỡ lấy vai cô, chia sẻ niềm an ủi ấm áp của tình làng nghĩa xóm.
Từ cổng đình, tiếng còi xe commăngca vang lên dứt khoát. Hai chiến sĩ công an huyện trong bộ sắc phục chỉnh tề rảo bước tiến vào sân. Sau khi tiếp nhận biên bản cùng tang chứng thép từ tay Chủ nhiệm Thịnh và cụ Sơn, một chiến sĩ tiến lại, dõng dạc đọc lệnh bắt giữ và tra chiếc còng số tám bằng thép sáng loáng vào hai cổ tay đang run rẩy của Trần Khắc Đạt.
Bà con xã viên tự động dạt sang hai bên, nhường một lối đi trang nghiêm. Dưới hàng trăm ánh mắt nghiêm cẩn, kẻ phản bội cúi gằm mặt bước đi xiêu vẹo, bị áp giải ra chiếc xe đang nổ máy chờ sẵn.
An đứng bên ông nội dưới bóng cây đa cổ thụ, dõi mắt nhìn chiếc xe chở Trần Khắc Đạt chầm chậm lăn bánh trên con đường đất đỏ rời khỏi làng Đồi Ong. Gió heo may bỗng thổi ào qua ngọn đa, cuốn tung lớp bụi mờ. Bầu trời thu vốn oi nồng từ sáng sớm bỗng chốc kéo mây xám xịt từ phía rặng núi xa. Rồi như một sự giải thoát nhiệm màu, một cơn mưa rào mùa thu bất ngờ trút xuống ào ạt. Những giọt mưa mát lành xối xả đập vào mái ngói rêu phong, tưới ướt đẫm sân đình, như gột rửa sạch bong nỗi oan khiên nhơ nhuốc đè nặng suốt một phần tư thế kỷ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
