Chương 13: Tang Chứng Trong đêm Sâu
Âm thanh lạo xạo dội xuống từ miệng giếng sâu mười lăm mét khiến cụ Vệ Thường Sơn lập tức siết chặt quai hàm. Bằng kinh nghiệm thính nhạy của người thợ già nửa đời gắn bó với lòng đất, cụ nhanh như cắt chụp lấy bầu bóng đèn chai, khép vạt áo chẽn che bớt ánh sáng, đồng thời ấn nhẹ tay lên vai Vệ Thường An ra hiệu giữ im lặng tuyệt đối.
Dưới vòm ngách đá ong ẩm ướt, hai ông cháu nín thở lắng nghe. Sau chuỗi sỏi đá va lẹt xẹt, trên miệng giếng vọng xuống tiếng bước chân vội vã giẫm lên đám lá thị khô rồi tắt lịm về phía ngõ xóm Trại. Cụ Sơn không chần chừ, lần theo sợi thừng chão nối lên giàn tời, giật mạnh ba hồi ngắn dứt khoát.
Đó là mật ước cụ đã dặn riêng Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh trước lúc xuống hầm. Vài giây căng thẳng trôi qua, sợi thừng khẽ giật nảy hai nhịp dài rồi một nhịp ngắn: tín hiệu an toàn đã đáp lại, báo hiệu lực lượng dân phòng tuần tra vừa kịp xua đuổi kẻ rình mò tháo chạy vào màn đêm.
Cụ Sơn hé vạt áo chẽn cho ngọn đèn tỏa sáng trở lại, trầm giọng bảo cháu nội: “Kẻ gian đã đánh hơi thấy động. Hai ông cháu mình phải đưa hòm và hài cốt anh Lương lên bờ ngay trong đêm nay, chậm một khắc là thêm một phần nguy hiểm.”
An khẽ gật đầu, đưa tay quệt mồ hôi lấm lem bùn đất trên trán. Cụ Sơn cẩn thận mở bọc vải điều đỏ thắm mang theo bên hông, trải lên phiến đá ong khô ráo cạnh đống sụt lở. Với tất cả lòng trắc ẩn của người cùng thời, cụ quỳ một chân xuống bùn nhão, đôi bàn tay gầy gò run rẩy nâng niu từng phần di cốt của Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương.
Cụ nhẹ nhàng xếp lại hộp sọ mang vết nứt oan nghiệt sau gáy, từng dẻ sườn phủ xơ áo trấn thủ mục nát cùng các dóng xương của người chiến sĩ năm xưa vào giữa tấm vải. Hai khúc xương cẳng tay đang được Thịnh niêm phong trên bờ, nhưng giờ phút này, hình hài người đội trưởng trung kiên cuối cùng cũng được đưa ra khỏi bùn lạnh sau hai mươi lăm năm chìm khuất.
Cạnh đó, An cẩn thận xếp bọc vải bạt chứa mười hai lượng vàng lá kháng chiến cùng tập danh sách quyên góp “Tuần lễ Vàng” trở lại lòng chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm rồi sập nắp hòm lại. Hai ông cháu dùng thừng móc thắt nút mộng khóa chặt nắp hòm, lồng vào giỏ mây múc bùn cỡ lớn. Bọc vải điều chở che di cốt anh Lương được cụ Sơn nâng niu đặt êm ái lên trên mặt hòm, chằng néo dây gai cẩn mật để không bị va quệt vào thành giếng khi kéo lên.
Cụ Sơn giật thừng tời bốn nhịp đều đặn phát hiệu lệnh. Tiếng trục lăn gỗ nghiến trên giàn tời bắt đầu quay đều ken két, nhịp nhàng kéo chiếc giỏ mây chở đầy tang chứng lịch sử rời khỏi đáy bùn đen, từ từ được kéo dần lên cao giữa lòng giếng đá ong.
Nhờ sự chuẩn bị chu đáo của Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh cùng hai dân phòng cốt cán túc trực trên miệng giếng, giỏ mây được đón lên bờ an toàn tuyệt đối. Đầu thừng rỗng thả xuống, cụ Sơn bảo An trèo lên trước, rồi chính cụ thắt nút thòng lọng quanh lưng, bám vào từng hốc đá trèo lên mặt đất.
Gió thu cữ đêm thổi qua tán cây thị cổ thụ mang theo hơi lạnh buốt giá. Thịnh dùng manh chiếu rách trùm kín chiếc hòm gỗ lim và bọc vải điều. Bốn người lặng lẽ khiêng chiếc giỏ mây men theo đường mòn rặng nhãn, luồn lách qua các ngõ vắng của làng Đồi Ong rồi tiến thẳng vào gian kho trung tâm của hợp tác xã.Cánh cửa gỗ nghiến nặng nề khép lại, then cài kêu “cạch” một tiếng khô gọn, ba ổ khóa gang được bấm chặt từ phía trong. Gian kho nồng đượm mùi thóc giống và giấy tờ lưu trữ bỗng chốc trở nên trang nghiêm lạ thường.
Thịnh thắp ngọn đèn hoa kỳ đặt lên bàn gỗ mộc, xua tan cái lạnh lẽo của sương đêm. Từ tủ tài liệu niêm phong bên góc phòng, Thịnh trân trọng lấy ra bọc vải chứa hai khúc xương cẳng tay cùng các đốt ngón tay tìm thấy từ hôm trước, kính cẩn đặt kề bên bọc vải điều vừa đưa lên. Hình hài người liệt sĩ du kích cuối cùng đã được đoàn tụ vẹn nguyên dưới mái nhà của tập thể.
Cụ Sơn ngồi xuống tấm chiếu manh giữa sàn kho, đăm đăm nhìn chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm. Dưới ánh đèn dầu, vết chém sâu hoắm trên nắp hòm hiện lên sắc nét: lớp kẽm xé toạc, thớ gỗ lim toác ra một rãnh dài, và ngay chính giữa rãnh chém ấy, một mẩu kim loại màu xám đen vẫn cắm ngập vào thân gỗ.
Cụ Sơn rút chiếc kìm sắt trong túi đồ nghề ra, kẹp chặt đuôi mẩu kim loại rồi lựa theo chiều thớ gỗ lay nhẹ từng chút. Tiếng “tách” giòn tan vang lên, mẩu kim loại rời khỏi thớ gỗ lim, nằm gọn trong lòng bàn tay thô ráp của người thợ già.
Đó là phần mũi của một lưỡi dao bấm bản rộng dài chừng hai đốt ngón tay. Sống dao dày dặn, phần lưng có ngạnh răng cưa đặc chế dùng để gài chốt lò xo, chất thép tôi xanh biếc ánh lên lạnh tanh dù bị chôn vùi suốt một phần tư thế kỷ. Điều khiến ánh mắt cụ Sơn khựng lại chính là ký hiệu nhỏ li ti nằm khuất sau ngạnh dao: dấu triện hoa thị bốn cánh đục chìm sắc sảo.
Ký ức hai mươi lăm năm trước ùa về rõ rệt trong tâm trí người thợ già. Làng Đồi Ong thời chống Pháp chỉ có duy nhất một lò rèn làm được loại dao bấm chuôi sừng có ngạnh gài và khắc dấu hoa thị chìm ấy: lò rèn gia truyền của nhà ông Trần Khắc Đạt ở xóm Đình. Chính thân phụ ông Đạt đã rèn riêng con dao ấy cho con trai mang theo phòng thân khi nhận nhiệm vụ liên lạc tiếp tế cho đội du kích huyện.
Vết nứt chí mạng trên hộp sọ anh Lương, mẩu dao gãy trên nắp hòm lim, mảnh lụa đũi mỡ gà bỏ lại ở hàng rào giếng đêm trước, cùng mười hai lượng vàng lá còn nguyên vẹn... Tất cả khớp khít lại thành sự thật tàn khốc: kẻ chém lén người đội trưởng du kích từ phía sau để cướp vàng chính là người đồng đội tiếp tế năm xưa, kẻ nay đang là cố vấn hưu trí của làng.
“Bác Đạt... Chính là ông Đạt!” Chủ nhiệm Thịnh nghiến răng ken két, hai mắt đỏ hoe vì uất hận. Anh đập mạnh nắm tay xuống mặt bàn gỗ làm ngọn đèn hoa kỳ chao đảo: “Không ngờ ông ta lại đê hèn đến mức mưu sát đồng đội, cướp đoạt mồ hôi nước mắt của nhân dân rồi đổ vấy tiếng oan cho người đã khuất suốt ngần ấy năm! Cháu sẽ điều ngay dân phòng đến bao vây nhà ông ta, bắt điệu ra trước ủy ban ngay trong đêm nay!”
Thịnh toan quay người giật then cửa bước ra, nhưng bàn tay to bè chai sạn của cụ Sơn đã kịp đặt lên vai anh. Cụ chậm rãi lắc đầu, giọng trầm đục mà đanh thép: “Khoan đã, chú Thịnh. Đừng nóng vội. Ông Đạt từng là chủ nhiệm, vây cánh và uy danh giả tạo của ông ta trong làng bao năm nay không dễ lay chuyển trong một sớm một chiều. Bắt người lúc đêm hôm khuất tất khi chưa công khai chứng cứ chỉ khiến dư luận thêm hoang mang, lại tạo cơ hội cho kẻ gian chối quanh hay tìm cách phản kích. Đạo trời đã định, đá nứt ắt phải phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật. Già này muốn đưa toàn bộ sự thật ra trước bàn dân thiên hạ ở sân đình, để kẻ thủ ác phải cúi đầu nhận tội và danh dự của anh Lương được sáng tỏ trọn vẹn nhất.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
