Chương 9: Kỷ Vật Của Người đội Trưởng

Luồng chướng khí ẩm mốc tích tụ suốt hai mươi lăm năm qua vừa thốc ra ngoài đã khiến Vệ Thường An sặc sụa. Anh vội vã đưa vạt áo chẽn lên che kín mũi miệng, lùi nhanh hai bước về phía vách đá đối diện để tránh luồng hơi độc. Chiếc đèn chai bầu đồng mắt cua treo trên khe đá chao đảo dữ dội, ngọn lửa hạt đỗ lịm dần đi, chỉ còn một đốm đỏ lay lắt như chực tắt. An nín thở ghìm chặt lồng ngực, căng mắt theo dõi tim đèn. May thay, dòng không khí mát lành từ miệng giếng sâu mười lăm mét tràn xuống cuốn bạt đám tử khí, ngọn bấc lại từ từ bùng lên sắc vàng đượm quen thuộc.

Biết cửa ngách đã bước đầu thông khí, An vội ngửa mặt lên vòm giếng hun hút, cất giọng gọi lớn “Ông nội ơi! Cháu bẩy thông được cửa ngách rồi! Luồng gió rít đã ngưng, nhưng khí ẩm trong lòng hầm xông ra nồng lắm!”

Tiếng gọi vừa dứt, vòm đá ong dội lại tiếng đáp trầm ổn của cụ Vệ Thường Sơn “Đứng yên dưới đó đợi già! Tuyệt đối không được tự ý chui vào!”

Ngay sau khẩu lệnh đanh thép ấy, đầu thừng chão bện vỏ cây móc ngâm vôi trên miệng giếng lại rung lên bần bật. Nghe tiếng cụ Sơn vọng dặn Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh túc trực bên trên giữ chặt con lăn tời, An ngước nhìn lên thấy ông nội đã thắt nút thừng thòng lọng, bám vào từng gờ đá tụt thoăn thoắt xuống đáy. Dù đã ở tuổi bảy mươi, động tác của cụ vẫn dẻo dai và chuẩn xác đến kinh ngạc. Đôi bàn chân trần chai sạn của người thợ cả ba đời vừa chạm vào làn nước ngập ngang hông, cụ liền đưa tay vỗ mạnh lên vai An như một lời khích lệ thầm lặng.

Trên tay cụ Sơn là chiếc đèn chai thứ hai đã châm sẵn bấc. Cụ khẽ nâng hai ngọn đèn lên ngang cửa ngách đá vừa mở, chăm chú nhìn làn khói lam mỏng bốc lên từ hai hạt lửa đồng. Hai ngọn lửa đứng yên rồi hơi nghiêng nhẹ vào phía trong lòng hang, chứng tỏ luồng khí lưu thông tốt và đủ dưỡng khí để duy trì sự sống.

“Tốt rồi, lòng hầm có ngách thở, không lo ngạt khí,” cụ Sơn hạ giọng dặn dò, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào cháu nội. “Đoạn ngách này năm một chín năm ba đội du kích đào gấp để nối thông ra sau đình làng. Địa tầng qua ngần ấy năm sụt lún không biết đâu mà lường, cháu phải đi sát sau lưng già, từng bước chân đều phải giẫm vào đá cứng, cấm đụng bừa bãi lên vòm vách.”

“Cháu rõ rồi, ông nội.” An khẽ gật đầu, siết chặt chiếc đục dẹp bên hông.

Cụ Sơn khom người, đưa ngọn đèn chai đi trước mở đường. Cửa ngách chỉ cao chừng một thước mộc, bề ngang vừa vặn một người lớn bò lọt. Hai ông cháu phải gập sát người, gần như trườn trên lớp bùn nhão lạnh ngắt lẫn sỏi sạn để lách qua hàng đá chèn hàm ếch. Vừa lọt qua khỏi cửa ngách chừng một sải thừng, không gian bên trong bỗng mở rộng ra đôi chút, đủ để một người có thể cúi khom lưng bước đi chậm rãi.

An đưa mắt rọi đèn quan sát chung quanh. Lòng ngách hầm ẩm ướt lạ thường, từng giọt nước lạnh buốt từ trên vòm đá tí tách rơi xuống vai trần khiến anh khẽ rùng mình. Bốn bề vách hầm đều là đá ong nâu sẫm, loang lổ vô số vết đục dẹp và vết choạc mộc mạc của các chiến sĩ du kích năm xưa. Từng nhát đục thô ráp hằn sâu vào lòng đá như vẫn còn lưu giữ hơi ấm bàn tay và giọt mồ hôi của những người con làng Đồi Ong thời bom đạn.

Tuy nhiên, càng tiến sâu vào lòng đất, cảm giác ngột ngạt và thê lương càng đè nặng lên lồng ngực An. Đi được chừng năm, sáu sải chân, dấu vết của trận sụt hầm kinh hoàng hai mươi lăm năm trước bắt đầu hiện ra rõ mồn một. Những thanh dầm chịu lực bằng gỗ lim to bản, từng một thời vững chãi nâng đỡ trần hầm, nay đã bị gãy đôi từ bao giờ. Đầu gỗ gãy tước xơ xác, mục ruỗng theo năm tháng, bám đầy một lớp mốc trắng nhờ nhợt như vôi tôi. Cả một mảng vòm đá ong bên trên đã đổ sụp xuống, đất đá laterite cùng bùn quặng đỏ quạch dồn lại thành một gò đất cao ngất, bịt kín hoàn toàn lối đi tiếp tục ăn thông sang phía đình làng.

“Đúng là chỗ này rồi...” Cụ Sơn bỗng dừng bước, giọng nghẹn lại sau làn khói dầu hỏa. Ngón tay run rẩy của cụ chạm nhẹ vào thân dầm lim gãy mục. “Đêm mùa đông năm ấy, già nghe một tiếng nổ ngầm rung chuyển cả xóm Trại, rồi địa đạo này bặt tin từ đó. Người ta bảo chú Lương ôm vàng chạy giặc... nhưng đá dưới chân già chưa bao giờ biết nói dối.”An nhìn theo hướng chỉ của ông nội, lòng dâng lên một nỗi xót xa khó tả. Anh hạ thấp ngọn đèn chai, rọi sát xuống nền đất ẩm nhão dưới chân đống đổ nát ngổn ngang. Bùn đất ở đây pha lẫn rất nhiều sỏi vụn. Đột nhiên, mắt An bắt gặp một vài mẩu kim loại nhỏ nằm kẹt trong kẽ đất nứt.

An quỳ một chân xuống bùn, cẩn thận gạt lớp đất nhão sang một bên. Trước mắt anh là ba chiếc vỏ đạn súng trường đã hoen rỉ, ngả màu vàng ố của đồng cũ, đuôi hạt nổ đã bị kim hỏa đập lõm sâu. Ngay cạnh những chiếc vỏ đạn ấy, kẹt dưới chân một thanh dầm gãy, là một mẩu vải dù hoa ngụy trang đã mục nát, rách bươm từng sợi chỉ, nhuốm đen màu bùn đất ẩm.

“Vỏ đạn súng trường và vải dù bộ đội này ông nội!” An thảng thốt kêu lên, nhặt một chiếc vỏ đạn đưa lên trước ánh đèn. “Năm một chín năm ba ở đây từng nổ súng!”

Cụ Sơn cúi xuống nhìn chiếc vỏ đạn nằm gọn trong lòng bàn tay chai sạn của An, khóe mắt cụ giật giật, bờ môi mím chặt nén tiếng thở dài “Có biến cố dữ dội mới phải nổ súng trong hầm bí mật thế này. Cháu tìm kỹ quanh chân đống đá sụt xem, chắc chắn còn dấu vết.”

Nghe lời ông dặn, An cẩn thận dùng các đầu ngón tay mò mẫm, gạt từng lớp sỏi sạn và mảng bùn quặng bám chặt cạnh vách đá nứt gần thanh dầm gãy. Bùn đất bám vào da thịt lạnh ngắt, dính quánh như keo. Bất thình lình, đầu ngón tay trỏ của anh chạm phải một vật dài bằng ngón tay cái, thon nhỏ, cứng cáp và trơn nhẵn khác hẳn những mảnh đá ong sần sùi.

Dưới ánh sáng vàng vọt của hai ngọn đèn chai le lói, một tia sáng kim loại bất ngờ lóe lên qua kẽ bùn đỏ.

Tim An thắt lại. Anh nín thở, khéo léo luồn hai ngón tay bẩy nhẹ vật lạ lên khỏi lớp sỏi sạn. Đó là một cây bút máy thon dài, thân bút làm bằng nhựa cứng màu xanh sẫm bóng bẩy, phần nắp mạ vàng vẫn còn cài chiếc móc hình mũi tên quen thuộc. Cây bút máy Kim Tinh nằm im lìm dưới đáy bùn suốt một phần tư thế kỷ, dù lớp vỏ ngoài có phủ một màng phèn đỏ nhạt, nhưng kim loại vẫn giữ được dáng vẻ thanh thoát ban đầu.

“Cây bút máy Kim Tinh...” An thì thào, hai bàn tay run rẩy nâng vật phẩm lên.

Anh vội kéo vạt áo chẽn còn khô ráo của mình, cẩn thận miết nhẹ từng vòng để lau sạch lớp bùn đất bám chặt trên thân và nắp bút. Dưới ánh lửa bập bùng của ngọn đèn chai, hai ông cháu chụm đầu nhìn sát vào nắp bút. Trên lớp kim loại mạ vàng sáng bóng, những nét chữ khắc chìm bằng mũi kim sắc sảo, dứt khoát hiện ra rành rọt từng chữ “Tặng đồng chí Đỗ Trọng Lương Huyện đội Đoài Bình 1952”.

Cụ Sơn đứng sững sờ, bờ vai gầy khẽ run lên bần bật, đôi mắt đục mờ ngấn lệ nhìn chăm chăm vào hàng chữ khắc chìm. Giữa lòng địa đạo sâu thẳm lạnh lẽo, kỷ vật của người đội trưởng du kích năm xưa như một ngọn lửa ấm áp bừng sáng, làm tan biến mọi màn sương u uất của nỗi oan khiên đằng đẵng hai mươi lăm năm trời.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.