Chương 19: Thanh Thản Sau Cơn Mưa
Cơn mưa rào đầu thu ào ạt trút xuống rồi cũng mau chóng ngớt hạt, trả lại cho làng Đồi Ong một bầu trời quang đãng, xanh ngăn ngắt như tấm lụa vừa giặt nước giếng khơi. Làn gió heo may man mác thổi qua rặng nhãn ven đường, cuốn đi cái oi nồng ngột ngạt tích tụ suốt mấy ngày biến cố. Đứng nép dưới mái hiên gian tiền tế đình làng, cụ Vệ Thường Sơn đưa mắt nhìn những giọt gianh tí tách nhỏ xuống bậc thềm gạch Bát Tràng. Lớp bụi đất cùng những vết tích hỗn loạn ban nãy đã bị dòng nước mưa mát lành cuốn trôi sạch bóng, để lại mặt sân phong rêu phẳng lặng, thanh sạch đến lạ thường.
Cụ Sơn khẽ thở phào, một cảm giác nhẹ nhõm như vừa trút được tảng đá đè nặng ngực bấy lâu lan tỏa khắp da thịt. Cụ quay bước vào gian hội đồng bên tả vu đình làng. Tại đây, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh cùng đại diện chính quyền xã và cán bộ Ty Tài chính đang cẩn trọng hoàn tất các thủ tục pháp lý. Chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm năm xưa được đặt ngay ngắn giữa bàn. Mười hai lượng vàng lá kháng chiến sáng ngời cùng tập danh sách Tuần lễ Vàng năm 1953 còn nguyên dấu triện đỏ thắm được kiểm đếm tỉ mỉ từng chi tiết, đối chiếu khớp từng dòng chữ rồi niêm phong cẩn mật vào hòm sắt chuyên dụng để bàn giao vào ngân khố Nhà nước theo đúng quy định.
Đặt chiếc bút máy xuống góc biên bản kiểm kê, Thịnh ngẩng lên nhìn cụ Sơn bằng ánh mắt chan chứa lòng cảm phục. Người chủ nhiệm trẻ bước tới, nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của người thợ cả: “Nhờ có con mắt tinh tường và cái tâm sáng như gương của cụ mà hợp tác xã ta giữ trọn được tài sản của Nhà nước, lại rửa sạch được nỗi oan khuất cho người chiến sĩ đã khuất. Biên bản bàn giao đã lập đủ ba bản, chiều nay đồng chí bên huyện sẽ áp giải số vàng này về ngân khố tỉnh.”
Cụ Sơn điềm đạm vỗ nhẹ lên mu bàn tay Thịnh, giọng trầm ấm: “Của cải của dân, máu xương của bộ đội gửi gắm cho cách mạng thì trước sau cũng phải về đúng nơi đúng chốn. Tìm lại được mười hai lượng vàng cho công quỹ là tròn một phần trách nhiệm, nhưng già này mừng nhất là vong linh anh Lương từ nay không còn phải chịu tiếng bội phản.”
Rời gian hội đồng, hai ông cháu cụ Sơn rảo bước sang gian nhà truyền thống của xã nằm dưới bóng cây đa râm mát. Nơi đây, các cựu chiến binh du kích năm xưa cùng đội thanh niên chi đoàn đã tề tựu đông đủ, lặng lẽ lo việc hậu sự. Toàn bộ phần hài cốt của Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương sau khi đưa lên từ đáy ngách ngầm đã được rửa bằng rượu gừng, lau sạch từng mảng bùn đỏ quặng sắt rồi khâm liệm trang trọng trong tấm vải điều đỏ thắm. Cỗ áo quan bằng gỗ thơm được đặt uy nghiêm giữa gian phòng, phủ lá cờ đỏ sao vàng tươi thắm. Trên bàn thờ dã chiến, khói hương trầm nghi ngút quyện vào không gian tĩnh lặng, thiêng liêng.
Cụ Sơn bước tới, đón lấy nén hương từ tay cháu An rồi kính cẩn vái trước linh cữu. Nhìn di ảnh người đội trưởng trẻ tuổi trong bộ áo trấn thủ năm xưa, lòng cụ rưng rưng niềm xúc động. Người lính kiên trung ấy đã nằm lạnh lẽo dưới lòng đất sâu suốt một phần tư thế kỷ, lấy thân mình che chở cho công quỹ kháng chiến, để rồi hôm nay được trở về giữa vòng tay ấm áp, trân trọng của đồng đội và quê hương. Lễ truy điệu chính thức trên đồi nghĩa trang liệt sĩ đã được Ủy ban xã ấn định vào cữ sáng sớm mai, và người nằm dưới suối vàng nay đã có thể thanh thản mỉm cười.
Rời nhà truyền thống khi bóng nắng đã xế về tây, cụ Sơn rủ An rảo bước men theo con ngõ nhỏ rợp bóng tre ngà dẫn sang xóm Trại để thăm cô giáo Mai. Gian nhà tranh ba vách đất vốn quanh năm hiu hắt, lạnh lẽo bởi những ánh mắt nghi ngại của người đời, nay bỗng ngập tràn ánh nắng thu vàng óng ả rọi qua kẽ lá.
Bước qua bậc cửa đất, cụ Sơn thấy cô Mai đang ngồi lặng bên chiếc bàn con bằng gỗ mộc. Trước mặt cô, chiếc huy hiệu Sao Vàng bằng đồng cùng cây bút máy Kim Tinh khắc tên Đỗ Trọng Lương được đặt trang trọng trên chiếc đĩa sứ hoa chanh trắng muốt. Nhìn thấy hai ông cháu cụ Sơn bước vào, cô Mai vội buông chiếc khăn tay, lập cập đứng dậy. Đôi mắt thâm quầng vì những đêm dài thức trắng bỗng rưng rưng, cô nghẹn ngào chắp hai tay trước ngực, toan sụp gối tạ ơn: “Bác Sơn... cháu An... Ơn trời bể của hai ông cháu, cả đời này cháu không biết lấy gì đền đáp...”Cụ Sơn nhanh nhẹn bước tới, hai bàn tay to bè chai sạn kịp thời đỡ lấy bờ vai gầy guộc của cô giáo. Giọng cụ đầy bao dung: “Kìa cô Mai, đừng làm thế mà tổn phúc già này! Lẽ phải ở đời bao giờ cũng thắng, ngọc vùi dưới bùn sâu bao năm thì đến ngày cũng sáng. Gia đình cô đã chịu tủi nhục suốt hai mươi lăm năm ròng, nay anh Lương đã được trả lại danh dự sáng trong, cô phải ngẩng cao đầu mà sống chứ.”
Cô Mai ngước nhìn cụ Sơn, nước mắt lã chã rơi trên gò má hốc hác, nhưng khóe môi cô đã nở một nụ cười. Đó là nụ cười thanh thản, rạng rỡ lần đầu tiên bừng sáng trên gương mặt người phụ nữ chịu nhiều oan ức, như đóa hoa vừa bừng nở sau trận mưa rào u ám.
Đúng lúc ấy, ngoài ngõ bỗng vang lên tiếng bước chân rộn rã cùng tiếng chào hỏi lao xao. Cụ Sơn ngoái đầu nhìn ra, nhận ra bà con lối xóm từ các đội sản xuất đang lục tục kéo nhau đến. Người cắp chiếc rổ xảo đựng bơ gạo nếp cái hoa vàng, người xách nải chuối tiêu trứng cuốc vừa hạ trên cây, người cầm theo nắm lá chè tươi hái vội ngoài vườn.
Bác Đội trưởng đội Ba rụt rè bước vào hiên, mái tóc hoa râm cúi thấp xuống đầy vẻ áy náy: “Cô Mai ơi... bao năm qua bà con trong xóm u mê, nghe lời kẻ xấu gièm pha mà xa lánh, để cô phải chịu bao cay đắng một mình. Hôm nay sự thật đã sáng tỏ như ban ngày, chúng tôi sang đây, trước là thắp nén hương tạ lỗi với anh Lương, sau là có bát gạo nải chuối san sẻ cùng cô... Mong cô rộng lòng tha thứ cho sự nông nổi của xóm giềng.”
Những bàn tay thô ráp của các bà, các chị chìa ra nắm chặt lấy tay cô Mai. Những giọt nước mắt hối hận và những lời sẻ chia chân thành nối tiếp nhau vang lên, xua tan hoàn toàn bức tường ngăn cách vô hình bấy lâu. Gian nhà tranh rộn rã tiếng cười nói và niềm xúc động nghẹn ngào. Cụ Sơn đứng tựa lưng vào mép cửa, nhìn cảnh tượng ấm áp ấy mà lòng dâng lên một niềm an ủi khôn nguôi. Tình làng nghĩa xóm chốn thôn quê có lúc lầm lỡ vì định kiến, nhưng khi chân lý được phơi bày, tình người mộc mạc ấy lại đùm bọc, chở che lấy nhau bền chặt hơn bao giờ hết.
Để cô Mai ở lại trong vòng tay chan chứa ân tình của bà con, cụ Sơn khẽ vẫy tay ra hiệu cho An rồi hai ông cháu lặng lẽ rời đi. Trời đã ngả về cữ sẩm tối, ráng chiều đỏ ối buông xuống rặng núi phía xa, phủ lên ngọn thị cổ thụ một sắc màu trầm mặc. Cụ Sơn cùng cháu An cất bước quay lại bờ Giếng Cả.
Đứng bên bờ đá ong rêu phong, không gian xung quanh đã vắng bóng người tò mò, chỉ còn tiếng gió xào xạc luồn qua tán lá thị. Nhưng khi cúi người nhìn xuống lòng giếng sâu mười lăm mét, ánh mắt cụ Sơn lập tức đanh lại. Dưới ánh sáng le lói cuối ngày, mặt nước đáy giếng vẫn còn quánh lại một màu đỏ sẫm như máu loãng. Mùi bùn tanh nồng quyện với vị ngai ngái hăng hắc của nhựa rễ cây huyết đằng vẫn bốc lên từ kẽ đá. Án oan của người xưa đã sáng tỏ, nhưng long mạch của làng vẫn chưa thông. Vụ lúa mùa đang bước vào cữ làm đòng ngậm sữa, mương máng hợp tác xã đang khô cạn từng ngày; nếu nguồn nước ngọt không được khơi thông kịp thời, hàng trăm mẫu ruộng sẽ đối mặt với nguy cơ hạn hán mất mùa.
Cụ Sơn đặt bàn tay chai sạn nặng trĩu lên bờ vai vạm vỡ của An. Cụ nhìn sâu vào mắt cháu nội, cất giọng trầm đục mà dứt khoát: “An này, việc minh oan cho anh Lương coi như đã trọn vẹn, nhưng trách nhiệm với hàng trăm xã viên thì già này với con chưa thể buông tay. Đáy giếng vẫn còn nghẽn ứ bùn đỏ độc hại, đá mẹ vẫn chưa chịu nhả nước lành. Sáng mai, sau khi đưa tiễn anh Lương, hai ông cháu ta phải dốc toàn lực xuống đáy giếng làm công đoạn hiểm nghèo nhất: nạo vét tận gốc chùm rễ huyết đằng và đục thông mạch đá ong mẹ cứu lấy vụ mùa của làng.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
