Chương 11: Thế Cờ Nêm đá Dưới Vòm Hầm

Hơi thở của đứa cháu nội phả ấm bên tai. Cụ Vệ Thường Sơn từ từ buông tay khỏi vai An, đưa ngón trỏ lên miệng làm dấu im lặng. Xung quanh hai ông cháu, bóng tối đặc quánh dưới ánh vàng vọt của ngọn đèn chai. Đôi tai thính nhạy của người thợ cả bảy mươi tuổi đón bắt từng tiếng răn reo rất khẽ luồn lách qua các thớ đá ong trên đỉnh đầu.

“Đá thở thế nào, mình phải nương theo thế ấy,” cụ Sơn ghé tai An thì thào. “Khối đá này đang gánh cả mảng vòm sụt. Nóng vội vung búa đục bừa bãi là đất đá đổ ập xuống vùi lấp cả hai ông cháu ngay.”

An khẽ gật đầu, ánh mắt kiên định dõi theo từng cử chỉ của ông nội.

Cụ Sơn quỳ xuống nền bùn, đặt ngọn đèn chai lên gờ đá khô ráo. Rút chiếc búa búp sen bên hông, cụ dùng chuôi gỗ gõ khẽ vào từng phiến đá quanh vòm hầm. Tiếng cộc khô khốc dội lại, khi đanh gắt như sắt nguội, khi xốp rỗng như tổ ong mục. Cụ vươn bàn tay to bè đầy sẹo đá, dùng từng đốt ngón tay và gang tay tỉ mẩn đo đạc khoảng cách giữa các kẽ nứt chân chim.

Kinh nghiệm nửa đời người giúp người thợ già đọc vanh vách thế giằng co địa tầng. Tảng đá tổ ong nặng năm, sáu tạ này đang gối chặt vào ba điểm chịu lực: chóp đá c*m v** đống sỏi sạn sườn tả, một cạnh tỳ vào vách đá mẹ, còn bụng đá đè chéo lên nắp chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm. Chiếc hòm lim vô tình làm đôn kê dưới đáy; nếu cạy bật chiếc hòm ra, điểm tựa hẫng hụt sẽ kéo sập toàn bộ vòm hầm nứt toác.

“An này, lấy ba chiếc nêm gỗ nghiến vót nhọn với đôi đục dẹp ra đây,” cụ Sơn thì thầm. “Muốn gỡ tảng đá đè nắp hòm mà vòm không đổ, già này với cháu phải bày thế kiềng ba chân mượn lực vách mẹ. Đóng chốt giữ vòm trước, bẩy chuyển khối nặng sau.”

An mở bao tải gai, rút ba chiếc nêm gỗ nghiến già đanh vát mỏng đầu lưỡi cùng hai lưỡi đục dẹp chuốt nhẵn. Cụ Sơn đón lấy chiếc đục dẹp, chỉ vào ba kẽ nứt hiểm yếu: góc thượng bên hữu nơi tiếp giáp vách mẹ, khe nứt chịu lực chính giữa thân vách, và gờ đá ngàm sát chân đống sụt. Cụ cẩn thận dùng đầu đục cạo sạch rêu trơn cùng bùn quặng, rồi lựa thế lách nhẹ đầu nhọn của từng chiếc nêm vào sâu chừng hai đốt ngón tay, tạo thành thế kiềng tam giác chia lực vững chãi.

“Bây giờ đến phần việc hệ trọng nhất,” cụ Sơn dặn, ánh mắt nghiêm nghị. “Cháu cầm búa búp sen, già này áp tai nghe mạch đá. Già này gật đầu nhịp nào, cháu gõ búa nhịp ấy. Phải gõ nhấp đều tay cho nêm ăn khít vào thớ đá, chớ dùng sức búa bổ bừa.”

“Cháu rõ rồi, ông nội cứ yên tâm,” An đáp, nâng búa búp sen lên ngang tầm ngực.

Cụ Sơn cởi phanh cúc áo nâu sồng, áp vành tai trần và gò má gầy lấm tấm đồi mồi vào vách đá mẹ lạnh ngắt. Giữa ngách hầm sâu mười lăm mét dưới lòng đất, cụ nhắm nghiền mắt, lắng nghe hơi thở địa tầng. Tiếng nước ngầm rỉ rả, tiếng cát sạn cựa mình truyền về rành rọt như từng nhịp tim đập.

Đợi tiếng thở của vách hầm trầm lắng xuống, cụ Sơn khẽ gật đầu, giơ tay trái ra hiệu.

“Cắc!”

Tiếng búa búp sen gõ gọn ghẽ vào chuôi chiếc nêm thứ nhất. Đầu nêm cắn sâu thêm nửa phân vào kẽ nứt. Cụ Sơn giữ nguyên tư thế áp tai, cảm nhận từng đường gân thái dương giật nhẹ theo chấn động. Vách đá phát ra tiếng răn rắc nhỏ nhưng đanh giòn, báo hiệu lực ép đang chuyển sang vách mẹ. Cụ gật đầu lần thứ hai.“Cắc... Cắc!”

An đổi hướng búa sang chiếc nêm thứ hai ở góc thượng, rồi chiếc thứ ba ở chân sụt. Từng nhát búa hạ xuống đều đặn, chuẩn xác. Ba chiếc nêm già đanh dần lún sâu, ken chặt lấy từng khe nứt, căng mình gánh trọn mảng trần hầm.

Đúng lúc ấy, một tiếng “khục” trầm đục vang lên từ đáy sỏi sạn. Tảng đá ong tổ nặng năm, sáu tạ khẽ cựa mình. Nhờ các nêm gỗ đã giữ chặt vòm vách bên trên, khối đá khổng lồ mất thế kẹt cứng, chầm chậm trượt từng phân mộng đá khỏi nắp hòm lim.

“An! Kê dầm đinh hương!” Cụ Sơn quát khẽ.

Nhanh như cắt, An buông búa búp sen, chộp thanh dầm gỗ đinh hương dài ba thước mộc giắt cạnh chân tường, lùa thẳng đầu dầm vào khoảng hở dưới hông tảng đá. Bằng sức vóc người lính trẻ, An nghiến răng dồn lực bẩy mạnh, chèn chặt thanh dầm vào gờ đá mẹ.

Khối đá ong trượt nghiêng một vòng cung hẹp rồi khựng lại, tựa hẳn lưng vào thanh dầm và vách đá mẹ, tách rời hoàn toàn khỏi chiếc hòm gỗ lim bọc kẽm. Vòm hầm phía trên chỉ rung nhẹ một nhịp rồi đứng im phăng phắc.

Thế cờ nêm đá hiểm nghèo đã được hóa giải an toàn. Cụ Sơn thở hắt ra nhẹ nhõm, quẹt vội mồ hôi trên trán. Hai ông cháu nhìn nhau, mắt ánh lên niềm vui sướng nghẹn ngào.

Cụ Sơn nhấc ngọn đèn chai, soi thẳng vào chiếc hòm kháng chiến năm một chín năm ba nay đã lộ trọn vẹn dưới chân đống sụt. Lớp tôn kẽm xỉn màu vì phèn đỏ và ngấm nước suốt hai mươi lăm năm, nhưng những hàng đinh đồng to bản vẫn bám chặt lấy thớ gỗ lim đen nhánh.

Thế nhưng, khi vệt sáng mắt cua quét qua mép nắp hòm, lông mày cụ Sơn bỗng nhíu chặt lại.

Dưới lớp rêu mốc bám dày, cụ nhìn thấy một vết chém sâu hoắm xé toạc lớp kẽm bảo vệ, ăn sâu vào thớ gỗ lim già. Găm ngập vào giữa vết chém ấy là một mẩu kim loại hoen rỉ đã gãy lìa, chừa lại phần sống dao sắc lẹm với những ngạnh thép tôi đặc biệt. Rõ ràng, hai mươi lăm năm trước, kẻ thủ ác đã hung hãn chém dao xuống hòng cạy nắp hòm đoạt vàng, nhưng chưa kịp mở thì vòm hầm đã sụt lở chôn vùi tất cả.

Bụi đá và hơi đất ẩm dần lắng xuống. Cụ Sơn hạ thấp ngọn đèn chai rọi sát chân hòm để kiểm tra thế tựa thanh dầm.

Bỗng nhiên, ánh lửa rọi vào một khoảng trũng đọng bùn đỏ ngập ngang mép đáy hòm lim. Cụ Sơn sững sờ chết lặng, toàn thân run lên bần bật.

Dưới lớp bùn đất nhão nhoẹt vừa trôi tuột khỏi chân tảng đá lớn, một bộ hài cốt người nằm co quắp dần dần lộ ra. Hai đoạn xương bắp tay xám xịt từ một phần tư thế kỷ trước—dẫu đã khuyết mất phần cẳng tay thất lạc ra đáy giếng—vẫn giữ nguyên thế vòng qua, ghì chặt lấy đáy chiếc hòm tiếp tế như quyết giữ trọn lời thề son sắt đến hơi thở cuối cùng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.