Chương 8: Cơn Thịnh Nộ Của Bản Làng
Thanh then cài bằng gỗ nghiến rung lên bần bật dưới cú va đập dữ dội. Tôi lao vội về phía trước, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể ép chặt bả vai vào cánh cửa ván bằng gỗ sa mộc dày cộp để trợ lực cho chốt cài đang oằn mình ken két. Bụi bồ hóng và mạng nhện trên xà nhà rơi lả tả xuống tóc, bám ram ráp trên gò má tôi.
Phía sau lưng, Ngân không hề hoảng loạn. Bằng sự nhanh nhạy của một cán bộ nghiên cứu thực địa dạn dày, cô lập tức gập chiếc máy tính dã chiến, rút chiếc thẻ nhớ microSD chứa toàn bộ dữ liệu âm phổ cất kỹ vào túi ngực áo khoác gió, rồi kéo khóa ba lô chứa các thiết bị đo đạc nhạy cảm.
– Mở cửa ra! Lũ người dưới xuôi!
– Phá cửa xông vào! Đập nát hết đồ tà thuật báng bổ thần linh đi! Trả thằng Páo lại cho bản Ro!
Tiếng thét gầm gào man dại dội thẳng qua khe ván gỗ. Tôi nín thở ghé sát mắt nhìn ra ngoài. Dưới khoảng sân bùn lầy lội, ánh đuốc đỏ rực bập bùng hắt lên những gương mặt méo mó vì cuồng nộ và sợ hãi. Hàng chục người đàn ông, thanh niên bản Ro đang ken đặc quanh chân cầu thang nhà sàn. Trên tay họ lăm lăm dao phát nương sắc lẹm, xà beng cậy đá và gậy gộc gồ ghề.
Giữa đám đông đang sôi sục, tôi nhận ra ngay hai bóng người quen thuộc lẩn lút ở hàng đầu. Đó là hai gã thợ sấy làm việc tại lò thảo quả của Đặng Quốc Tráng. Chúng mặc áo chàm ngắn cũn cỡn dính đầy muội than đen kịt, chân đi ủng cao su lốp dày mang vết xỉ khoáng lấm lem. Một gã mặt choắt, tay cầm cây gậy nứa vót nhọn, liên tục nhảy chồm chồm kích động – Các bác, các anh đừng chần chừ nữa! Thằng Páo mất tích là do lũ này đem máy móc ma quỷ lên chọc giận Thần Mỏ! Phải phá cửa xông lên, đập nát hết đồ tà thuật của chúng nó đi thì thần linh mới nguôi giận!
– Đúng đấy! Đập hết đi! Đuổi chúng nó cút khỏi thung lũng! – Gã thợ sấy thứ hai gào tướng lên hùa theo, vung chiếc xà beng bổ mạnh vào bậc thang gỗ dưới cùng khiến thớ gỗ toác ra một mảng lớn.
Cơn cuồng nộ tập thể được châm ngòi bén ngọt như mồi lửa chạm vào rơm khô. Mấy thanh niên lực lưỡng xô đẩy nhau trèo lên các bậc thang gỗ sa mộc. Tiếng bước chân giẫm huỳnh huỵch làm cả sàn nhà rung lắc chao đảo. Một lưỡi dao phát nương cắm phập xuyên qua khe hở mép cửa, chỉ cách thái dương tôi chưa đầy hai gang tay, mùi thép hoen gỉ xộc thẳng vào mũi.
– Dừng tay lại!
Một tiếng quát khàn đặc, khô khốc nhưng uy nghiêm lạ thường bất thần xé toạc mớ âm thanh hỗn loạn. Ngay sau đó là ba tiếng gõ “cộc, cộc, cộc” nặng nề, dứt khoát của đầu gậy gỗ nghiến nện thẳng xuống mặt ván sàn ngoài hiên.
Đám thanh niên đang hăng máu bỗng khựng lại. Lưỡi dao phát nương cắm trên mép cửa vội vã rụt về. Tiếng hò hét tắt ngấm, chỉ còn lại tiếng lửa đuốc nổ lép bép trong sương đêm buốt giá.
Tôi nhìn qua khe cửa. Cụ Lò Văn Khun đã đứng sừng sững ở đầu cầu thang tự bao giờ. Mái tóc bạc trắng của cụ búi cao gọn gàng sau gáy, lưng còng gập xuống nhưng đôi vai vẫn ngang tàng vững chãi. Cụ mặc bộ đồ vải lanh nhuộm chàm cổ truyền, hai bàn tay gân guốc tỳ chặt lên đầu cây gậy chống. Đôi mắt mờ đục vì khói xỉ lò đồng quét qua từng gương mặt thanh niên trong bản bằng ánh nhìn nghiêm khắc đến thắt lòng.
– Già chưa chết, cái bản Ro này chưa đến lượt lũ trẻ các anh cầm đuốc đi đốt nhà, cầm dao đi phá cửa! – Giọng cụ Khun run run nhưng đanh thép. – Người bản Ro bao đời nay tôn trọng luật tục, không bao giờ giết người hay cướp phá khi chưa đưa ra phân xử trước dòng họ!
Hai gã thợ sấy của Tráng lấm lét nhìn nhau rồi lùi sâu vào bóng tối sau đám đông, nhưng miệng vẫn lầm bầm ấm ức.
Nhận thấy thời cơ kiểm soát tình hình đã đến, tôi ra hiệu cho Ngân lùi lại phía sau bàn làm việc, rồi hít sâu một hơi, dứt khoát đẩy then cài, mở toang hai cánh cửa ván gỗ sa mộc bước ra ngoài hiên. Ngân lập tức bước theo sát ngay sau tôi, ánh mắt cô kiên định, không hề lộ ra nửa phần run sợ.
Gió lạnh thốc tới làm tà áo mỏng bay phần phật. Hàng chục ngọn đuốc lập tức chĩa thẳng về phía chúng tôi, những ánh mắt hằn học rực lên tia thù địch.
Tôi cúi đầu cất lời, giọng trầm tĩnh và rành mạch – Thưa cụ Khun, thưa bà con bản Ro. Cháu và Ngân lên đây với danh nghĩa cán bộ nghiên cứu của Viện, chỉ vì mục đích bảo tồn văn hóa đúc chuông câm. Chúng cháu không dùng tà thuật, càng không bao giờ làm hại A Páo!
Cụ Khun ngước đôi mắt đục ngầu nhìn xoáy vào tôi. Gương mặt khắc khổ chằng chịt nếp nhăn của cụ co giật nhẹ, giọng khàn đặc – Người dưới xuôi, các cháu nói hay lắm. Nhưng từ ngày các cháu mang cái máy móc bằng sắt, bằng đồng kia lên đây, đất mù thức giấc, chuông câm tự rên, rồi bây giờ thằng Páo mất tích ở bìa rừng cấm chỉ còn lại vệt máu! Dân bản Ro không thể để các cháu ở lại gieo rắc tai ương.
Cụ giộng mạnh cây gậy xuống sàn gỗ, đưa ra lời phán quyết lạnh lùng:– Già giữ lời đã nói bên đàn cúng sáng nay. Cho các cháu thời hạn đến đúng hoàng hôn ngày mai. Nếu trước lúc mặt trời lặn sau đỉnh núi Khẳm mà các cháu không đưa được thằng Páo trở về bình an, hoặc không đưa ra được bằng chứng minh oan cho bản thân, thì dù có công văn giấy tờ gì của cấp trên, già và cả bản Ro này cũng sẽ dùng luật tục trục xuất các cháu khỏi thung lũng mãi mãi!
– Đúng đấy! Trục xuất đi! – Đám đông phía dưới lại râm ran phụ họa.
Tôi biết rõ, nếu chỉ thanh minh bằng những lời giải thích suông hay viện dẫn lý lẽ luật pháp lúc này, nỗi sợ hãi tâm linh bị kích động sẽ lập tức nhấn chìm tất cả. Muốn đập tan sự mê muội, chỉ có thể dùng thực nghiệm để đối thoại với đôi mắt và đôi tai của họ.
– Thưa cụ, thưa bà con! – Tôi nói lớn, âm lượng vang dội át cả tiếng gió rít qua rặng sa mu già. – Cháu tôn trọng tối hậu thư của cụ Khun. Nhưng trước khi chờ đến ngày mai, cháu chỉ xin bà con đúng năm phút. Cháu sẽ chứng minh cho mọi người thấy: tiếng chuông câm rền rĩ không phải lời nguyền của thần thánh hay ma quỷ, mà hoàn toàn là dao động tự nhiên của không khí!
Đám đông xôn xao. Cụ Khun nheo mắt nhìn tôi đầy nghi kỵ, nhưng rồi cụ khẽ gật đầu – Được. Già cho cháu năm phút. Đừng hòng giở trò bịp bợm.
Tôi quay ngoắt vào trong phòng, vác chiếc loa kiểm âm dã chiến hình hộp chữ nhật đặt ngay ngắn giữa sàn hiên nhà. Nhìn quanh hành lang, tôi thấy chiếc mặt trống da trâu cũ của đội tuần tra bản treo bên vách, liền gỡ xuống đặt nằm ngang ngay sát trước màng loa. Ngân vô cùng ăn ý, cô bước nhanh tới góc hiên, bốc một vốc cát thạch anh mịn dùng để cắm hương trong chiếc bát gốm rồi rải đều một lớp mỏng tang lên khắp bề mặt da trống.
Tôi cắm giắc truyền tín hiệu từ máy Sound Devices vào loa kiểm âm. Dưới sự chứng kiến nín thở của hàng chục con người, tôi mở tệp âm thanh thu được đêm qua, lọc riêng dải sóng hạ âm 18.9 Hz rồi dùng bộ chuyển đổi tần số nâng nhẹ tần số dao động lên dải âm trầm thuần túy.
Tôi vặn núm âm lượng.
Một tiếng rền u u trầm đục, nặng trĩu lập tức phát ra từ màng loa. Sóng âm dao động cực mạnh đánh thẳng vào lồng ngực những người đứng gần khiến họ giật thót, lùi lại nửa bước. Nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra ngay trước mắt họ: lớp cát mịn rải trên mặt trống da không hề văng tung tóe một cách hỗn loạn, mà dưới sự tác động của các nút sóng cơ học, từng hạt cát bắt đầu nhảy múa nhịp nhàng rồi tự động dồn lại, sắp xếp thành những đường vân hình học đối xứng tuyệt đẹp, uốn lượn hệt như cánh hoa ban nở rộ.
Dân bản trố tròn mắt nhìn cảnh tượng phi thường ấy. Những tiếng xì xào kinh ngạc rộ lên khắp sân – Nhìn kìa... cát tự xếp thành hình!
– Có ma thuật gì thế này?
– Không phải ma thuật! – Tôi ngắt âm thanh, bước tới chỉ tay vào các đường vân cát đối xứng trên mặt da trống. – Thưa cụ Khun, thưa bà con. Âm thanh thực chất là sự rung động của không khí tác động lên vật thể. Chiếc chuông câm trong xưởng đúc rỗng ruột và không có quả lắc, khi luồng gió ngầm dưới hang Khẳm thổi qua miệng chuông với áp suất lớn, nó sẽ làm thân đồng rung lên và phát ra tiếng rền rĩ, y hệt như âm thanh từ chiếc loa này làm hạt cát nhảy múa thành hình hoa! Không có ma quỷ nào gọi tên ai cả, tất cả chỉ là dao động vật lý mà thôi!
Một khoảng lặng ngỡ ngàng bao trùm không gian. Đám đông thanh niên nhìn nhau lúng túng, những cánh tay cầm đuốc và gậy gộc dần dần hạ thấp xuống. Ngay cả cụ Khun cũng chằm chằm nhìn vào những đường vân cát kỳ lạ trên mặt trống, ánh mắt lộ rõ sự bàng hoàng và lung lay sâu sắc. Hai gã thợ sấy của Tráng đứng chôn chân, mặt cắt không còn giọt máu, hoàn toàn câm bặt trước chứng cứ trực quan không thể chối cãi.
Nhưng đúng vào khoảnh khắc trật tự sắp sửa được vãn hồi, từ lối mòn dẫn ra bìa rừng cấm bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã giẫm đạp lách cách trên đá sỏi.
– Chú Hoàng ơi... bà con ơi... muộn mất rồi!
Một giọng nói the thé, nghẹn ngào giả tạo cất lên xé toạc bầu không khí tĩnh lặng. Đám đông lập tức dạt sang hai bên nhường lối. Đặng Quốc Tráng lảo đảo chạy vào giữa sân, chiếc áo bộ đội cũ sũng ướt sương đêm dính bê bết bùn đất, hơi thở dồn dập hổn hển như vừa trải qua một cơn kinh hoàng tột độ.
Gã ngã quỵ xuống đất trước bậc thang, ngước gương mặt đầy vẻ đau xót lên nhìn cụ Khun và tôi, rồi run rẩy giơ cao bàn tay phải lên dưới ánh đuốc bập bùng.
Trong lòng bàn tay thô ráp của gã là một chiếc vòng tay bện bằng bạc chạm hoa văn nổi đặc trưng của người thợ săn bản Ro. Chiếc vòng đã bị bẻ gãy đứt đoạn thành hai mảnh, những góc cạnh kim loại dính đầy bùn đất đỏ quạnh và những vệt d*ch nh*n đen sì ghê rợn.
– Thằng Páo... thằng Páo chết thật rồi! – Tráng gào khóc thảm thiết, hai mắt đỏ ngầu. – Tôi vừa lần theo dấu vết lên tận mép vực vách đá cấm... chỉ nhặt được chiếc vòng bạc gia truyền này của nó vướng lại trên bụi gai... Thần Mỏ đã nuốt chửng nó vào lòng đất mù rồi!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
