Chương 14: Bí Mật Dưới Vực Đụn
Ánh mắt độc địa của Lợi “Sứt” vừa ghim vào Toàn thì chú Vũ đã bước chếch lên nửa bước, vóc dáng cao ráo rắn rỏi chắn trọn tầm nhìn của gã cát tặc.
“Hoàng Thế Lợi, anh giải thích thế nào về thiết bị van xả và ống còi ngầm gắn dưới lườn sà lan này?” Giọng chú Vũ đanh thép, ngón tay trỏ thẳng vào khối kim loại rỉ sét đang rỏ từng giọt bùn non xuống phiến đá.
Khóe sẹo dài nơi miệng Lợi “Sứt” giật giật. Gã gượng gạo nuốt khan một ngụm nước bọt, đôi mắt ti hí đảo lia lịa giữa chú Vũ và viên chiến sĩ kỹ thuật, giọng the thé chối bay chối biến “Tôi… tôi mua lại xác sà lan này từ bãi phế liệu ngoài cửa biển, đáy tàu có cục sắt gì làm sao tôi hay biết được? Các anh đừng có chụp mũ!”
Nói đoạn, gã hậm hực quay ngoắt gót chân, lủi vội về phía khoang lái chiếc sà lan. Nhưng lời ngụy biện trơ tráo ấy chẳng thể bịt mắt được ai. Ngay trong buổi chiều hôm đó, tin tức về chiếc còi ngầm giả tiếng than khóc và vệt bùn đỏ nhuộm từ phẩm màu công nghiệp lan khắp bến sông. Dân xóm Bãi kéo nhau ra bến Mộc đứng ken đặc dưới gốc đa quán bà Then. Không còn ai run rẩy nhắc đến lời đồn quỷ da trôi hay oán linh đòi mạng nữa. Những tiếng chửi bới phẫn nộ nổi lên khắp bến bồi; bà con đã hiểu thấu dã tâm giả thần giả quỷ của lũ cát tặc hòng xua đuổi dân làng để mặc sức khoét rỗng chân đê.
Chập tối, bến sông ngập trong màn mưa bụi mỏng tang.
Trong gian xưởng mộc, ngọn đèn dầu hỏa tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp, nhảy múa bập bùng trên những thớ gỗ lim ngổn ngang. Ông Khiêm ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ xoan đào, lưng còng rạp xuống. Bàn tay thô ráp, chằng chịt vết chai sần của ông vươn ra, khẽ xoa nhẹ lên mái tóc bờm xờm của Toàn. Đôi mắt già nua của người thợ lặn sông nước rưng rưng ngấn lệ, giọng khàn đặc run rẩy “c* Toàn… năm năm qua, làng xóm dị nghị, để cháu phải chịu bao nhiêu tủi hờn. Đêm nay, ông phải nói hết cho cháu nghe ngọn ngành.”
Toàn nép sát vào đầu gối ông, hai tay ôm chặt cây thước kẹp gỗ ổi còn thơm mùi dầu trẩu. Cậu ngước mắt nhìn ông, nín thở lắng nghe.
Ngọn bấc đèn khẽ lách tách nổ. Ông Khiêm hướng ánh nhìn ra phía lòng sông đen thẫm mịt mùng “Dưới đáy Vực Đụn sâu thẳm kia, có một xác thuyền gỗ buồm ba vòm bị đắm từ cuối năm 1945. Đó là thuyền của một phú thương chạy loạn, trong khoang cất giấu đúng mười hai lóng gỗ sưa đỏ cổ thụ, mỗi lóng dài hơn hai sải tay, quý hơn vàng mười. Thời ấy đói khổ, người ta tranh giành chém giết nhau rồi chiếc thuyền chìm nghỉm vào dòng xoáy dữ. Dòng họ Tạ nhà ta đời đời lặn sông tìm gỗ mục, ông nội của ông từng dặn dò con cháu phải giữ kín miệng vực, không được để kẻ tham lam xâm phạm nơi yên nghỉ của những linh hồn xấu số.”
Ông dừng lại, hơi thở dồn lên như có tảng đá đè nặng trong lồng ngực “Năm năm trước, Lợi ‘Sứt’ mò ra được manh mối kho gỗ quý. Hắn lén đem máy hút cát đến sục đáy, định trục vớt lậu. Cha cháu phát hiện ra, kiên quyết ngăn cản. Đêm lũ lớn năm ấy, Thịnh lặn xuống đáy vực ngầm để chằng nép mạn thuyền đắm, dùng bộ đục khắc dấu mộc thước kẹp gia truyền bắt chéo lưỡi chàng lên đầu mộng súc gỗ sưa làm dấu bảo vệ. Nhưng giữa dòng nước cuộn xiết, dây hơi của cha cháu bị kẻ xấu lén cắt đứt… Thịnh hy sinh giữa xoáy nước đỏ ngầu, chiếc thước kẹp đồng khảm gỗ trắc tám tấc mang theo bên hông cũng rơi tột xuống bùn sâu từ đêm ấy.”Từng giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má rám nắng của Toàn, rớt xuống mặt gỗ ổi. Lồng ngực đứa trẻ tám tuổi thắt lại. Cha cậu không phải ma quỷ trôi sông quấy phá làng xóm, cha cậu là người thợ mộc can trường đã ngã xuống để bảo vệ bến bãi quê hương.
Cánh cửa nứa khẽ kẹt mở. Thượng úy Đặng Văn Vũ bước vào trong chiếc áo mưa dã chiến ướt sũng. Chú kéo mũ áo xuống, để lộ gương mặt cương nghị nhưng đượm vẻ lo âu.
“Bác Khiêm, cháu sang kiểm tra tình hình xưởng mộc.” Chú Vũ ngồi xuống cạnh hai ông cháu, ánh mắt ấm áp nhìn Toàn rồi quay sang người thợ già: “Chúng cháu đang chuẩn bị kế hoạch vây bắt toàn bộ ổ nhóm Lợi ‘Sứt’. Nhưng luồng lạch Vực Đụn hiểm trở quá, ca nô thông thường rất khó áp sát mà không bị dòng ngầm cuốn.”
Ông Khiêm gật đầu dứt khoát. Người thợ già lập tức đứng dậy, lấy từ ngăn kéo chiếc bàn mộc một tờ giấy xi măng đã ngả vàng cùng mẩu than củi. Bằng những nét vẽ rắn rỏi, ông phác họa tỉ mỉ dòng chảy của con sông “Chú Vũ nhìn đây. Vực Đụn có hai luồng nước ngầm xoắn trôn ốc ngược chiều nhau. Chỗ này là gò cát ngầm che chắn lườn thuyền cổ, còn đây là rãnh sâu nơi lườn sà lan cát tặc thường thả neo cắm ống hút. Nếu ca nô tuần tra đi thẳng từ phía thượng lưu xuống sẽ dính ngay xoáy hút; các chú phải đánh vòng từ lạch rặng bần phía tây sang, nương theo dòng chảy ròng mới khép chặt được gọng kìm.”
Chú Vũ chăm chú lắng nghe, ghi chép cẩn thận từng điểm nông sâu và vị trí cọc tiêu ngầm vào cuốn sổ công tác.
Đúng lúc ấy, trên chiếc đài cátsét cũ kỹ đặt ở góc phản gỗ bỗng rè rè sôi lên, rồi tiếng phát thanh viên vang lên dồn dập, sắc lạnh qua làn sóng phát thanh“Thông báo khẩn cấp về cơn bão số bảy! Hồi mười chín giờ tối nay, tâm bão đang di chuyển với tốc độ nhanh, sức gió giật cấp mười một, cấp mười hai, hướng thẳng vào vùng ven biển hạ lưu sông Trà Lý. Đêm nay và rạng sáng mai, mưa rất to kết hợp lũ thượng nguồn đổ về sẽ gây triều cường và sạt lở bờ sông đặc biệt nghiêm trọng…”
Căn nhà xưởng bỗng chốc lặng phắc. Ba người nhìn nhau, nhận thức rõ hiểm họa tày trời đang cận kề. Một cơn bão lớn đổ bộ chính là cơ hội cuối cùng để những kẻ liều mạng như Lợi “Sứt” đánh quả chót, trục vớt kho báu rồi tẩu thoát giữa sóng to gió lớn.
Chú Vũ đứng bật dậy, siết chặt quai mũ áo mưa, giọng trầm dứt khoát “Hai ông cháu tuyệt đối phải ở yên trong xưởng, đóng chặt then cửa. Lực lượng cứu hộ và tuần tra đường thủy sẽ túc trực hai mươi tư trên hai mươi tư ngoài lạch sông!”
Toàn ôm chặt cây thước kẹp gỗ ổi, chạy theo chân chú Vũ ra tận bậu cửa.
Ngoài cửa sổ, màn đêm đen kịt buông xuống bến Mộc như một tấm màn tang tóc. Từng cơn gió bấc hung hãn bắt đầu rít qua rặng phi lao gầm thét từng hồi điên cuồng, quăng quật những ngọn bần xơ xác, báo hiệu cơn bão dữ sắp biến Vực Đụn thành một bẫy nước tử thần nuốt chửng mọi sự sống.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
