Chương 11: Bẫy Lửa Ven Bờ Bãi

Ánh trăng lạnh rọi trúng vết khắc hình chiếc thước kẹp bắt chéo lưỡi chàng trên đầu mộng súc gỗ sưa. Lồng ngực Toàn co thắt dữ dội, hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng. Đó chính là dấu mộc riêng mà cha Thịnh từng tỉ mẩn dùng mũi chàng thép đục sâu vào từng thớ gỗ trước mỗi chuyến đóng thuyền.

“Đỡ lấy! Cẩn thận kẻo va vào mạn sắt!”

Tiếng quát the thé của gã đàn ông trên thuyền sắt kéo giật Toàn về thực tại. Một tên thợ lặn vừa trèo lên doi cát, đôi ủng cao su ngập ngụa bùn non lết đi nặng trịch. Bỗng nhiên, rắc một tiếng giòn tan vang lên ngay bìa lau sậy. Tên thợ lặn giẫm phải cành bần khô, hắn khựng phắt lại, nghiêng đầu dỏng tai nghe ngóng.

“Thằng nào ngoài bãi đấy?”

Hắn gằn giọng, bàn tay hộ pháp rút phắt chiếc đèn pin dài ngoằng bên hông. Luồng sáng vàng vọt quét loang loáng qua ngọn sậy, xé toạc màn sương đêm, lướt sát sạt qua chỏm đầu Toàn. Tim Toàn như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Nếu luồng đèn pin hạ thấp thêm một gang tay nữa, hai đứa trẻ sẽ phơi mình trọn vẹn trước mũi xà beng của lũ cát tặc.

Đúng lúc luồng sáng chuẩn bị quét ngược lại bụi rậm nơi hai đứa đang nấp, Miên bên cạnh khẽ cựa mình. Bàn tay con bé nhanh như cắt chộp lấy một hòn đá to bằng nắm tay dưới mép nước, dồn hết sức bình sinh ném vút về phía lùm bần rậm rạp cách đó chừng mười sải.

Tõm! Rào rào!

Tiếng đá rơi làm mặt nước xao động dữ dội, cành bần rung lên bần bật.

“Mẹ kiếp, bên rặng bần có biến! Ra xem mau!”

Gã thợ lặn lập tức lia đèn pin về hướng tiếng động, tiếng chân rầm rập lao qua doi cát. Lợi dụng khoảnh khắc then chốt đó, Miên giật mạnh vạt áo Toàn, thì thào trong hơi thở dồn dập “Chạy! Toàn ơi, chạy mau!”

Hai đứa trẻ cúi rạp người, cắm đầu chạy thục mạng qua bãi bùn lầy thụt đến tận bắp chân. Đôi chân Toàn bấm chặt xuống nền đất trơn trượt, gió bấc táp vào mặt buốt rát, nhưng trong đầu cậu chỉ rực lên hình ảnh dấu mộc của cha vừa bị kéo lên khỏi đáy sông. Cậu nắm chặt thanh thước kẹp gỗ ổi trong túi áo ngực, cảm nhận góc cạnh quen thuộc đang ghim vào da thịt như tiếp thêm sức mạnh.

Băng qua khúc quanh con lạch cạn ngập đầy rác rưởi, cổng xưởng mộc của ông Khiêm đã hiện ra mờ ảo phía trước. Nhưng chưa kịp thở phào, một làn khói khét lẹt nồng nặc mùi dầu hỏa bất ngờ xộc thẳng vào mũi Toàn.

Cậu kinh hoàng ngẩng đầu lên.

Phía vách nứa bên hông xưởng mộc, ngọn lửa đỏ rực đang l**m láp từng thanh tre khô khốc. Khói đen cuồn cuộn bốc lên nghi ngút, tạt thẳng vào khung cửa sổ phòng ngủ của ông Khiêm. Dưới chân vách nứa, một búi giẻ rách tẩm dầu mazút cháy bừng bừng như cái miệng quỷ đang ngoác ra chực nuốt chửng cả xưởng gỗ. Chúng không chỉ đe dọa, lũ khốn nạn đã quay lại đốt xưởng thật!

“Ông ơi! Cháy! Cháy xưởng rồi!” Toàn hét lạc cả giọng, lao như tên bắn qua cổng rào.

Nhìn đống phoi bào khô chỉ cách ngọn lửa vài bước chân, Toàn biết nếu lửa bén vào đó thì cả cơ ngơi lẫn ông nội đang kiệt sức bên trong sẽ hóa thành tro bụi trong chớp mắt. Cậu không màng tới hơi nóng hầm hập đang phả vào mặt, lao thẳng tới gốc xoan trước cổng xưởng. Nơi đó có treo một đoạn đường ray sắt cũ hoen gỉ dùng làm kẻng báo động mùa lũ.Toàn vớ lấy thanh sắt đặc bên cạnh, dồn hết sức tàn giáng mạnh vào mặt kim loạiKeng! Keng! Keng! Keng!

Tiếng kẻng sắt xé toạc đêm đen tĩnh mịch của xóm Bến, vang dội từng hồi dồn dập, gắt gao bức bối. Miên cũng vừa chạy tới nơi, con bé đặt hai tay lên miệng gào thét thất thanh “Bà con ơi! Cháy xưởng ông Khiêm rồi! Cứu với! Mau cứu xưởng mộc!”

Tiếng kẻng đanh thép cùng tiếng kêu cứu hòa vào tiếng nổ lách tách của tre nứa bén lửa. Cánh cửa gỗ xưởng mộc bật tung, ông Khiêm lảo đảo lao ra, gương mặt hốc hác còn đỏ lựng vì cơn sốt, trên tay lăm lăm chiếc chăn bông cũ đã nhúng ướt sũng nước từ bể cạn.

“Toàn! Miên! Lùi ra xa mau!” Ông Khiêm quát lớn, giọng khàn đặc nhưng dứt khoát. Ông vung chiếc chăn ướt trùm thẳng lên búi giẻ tẩm dầu hỏa dưới chân vách, cố dập bớt ngọn lửa đang chực bốc cao.

Chỉ vài phút sau, tiếng chân chạy rậm rịch từ khắp các ngả đường đê đổ dồn về bến Mộc. Ánh đèn pin, ánh đuốc bập bùng soi rọi những gương mặt hớt hải của dân xóm Bãi.

“Nước! Mang xô thùng ra sông múc nước mau lên!” Bác Thuận thợ mộc đầu ngõ gào to, tay xách đôi thùng tôn va vào nhau loảng xoảng.

“Dập lửa cứu ông Khiêm bà con ơi!”

Hàng chục người đàn ông, đàn bà xúm lại thành một hàng dài nối từ mép nước sông Trà Lý lên tận sân xưởng mộc. Từng xô nước phù sa đục ngầu, lạnh ngắt được chuyền tay nhau hắt xối xả vào vách nứa đang cháy dở. Hơi nước bốc lên xèo xèo, mùi khói khét quyện với mùi tro than cay xè khóe mắt. Nhờ phát hiện kịp thời và sự hiệp lực của xóm giềng, chỉ sau mươi phút, ngọn lửa hung hãn đã bị khống chế hoàn toàn, chỉ còn lại những mảng vách nứa cháy đen nham nhở và lớp tàn tro ẩm ướt bốc khói lượn lờ.

Bà con lối xóm th* d*c, bu quanh vách xưởng xì xào bàn tán “Khốn nạn thật, đứa nào tẩm dầu đốt nhà người ta thế này?”

“Chắc lại bọn cát tặc dằn mặt ông Khiêm rồi, chiều nay bờ bãi vừa sạt một mảng to tướng…”

Giữa đám đông lộn xộn, Toàn đứng nép bên cạnh ông nội. Bàn tay gầy guộc của ông Khiêm run rẩy đặt lên vai cậu, siết nhẹ như muốn tìm một chỗ dựa sau cơn kinh hoàng. Toàn không nói gì, bàn tay nhỏ bé lần vào túi áo ngực, nắm chặt lấy thân chiếc thước kẹp bằng gỗ ổi. Đôi mắt cậu đăm đăm nhìn ra khoảng tối mịt mùng ngoài lòng sông Trà Lý—nơi Vực Đụn đang cuộn sóng và bóng chiếc thuyền sắt của Lợi “Sứt” vẫn ẩn hiện như một bóng ma độc ác.

Một người hàng xóm giơ cao bó đuốc tàn để soi rọi quanh chân rào mùn cưa, tìm xem còn tàn lửa nào sót lại không. Ánh lửa bập bùng quét qua đống mùn cưa ướt át bên gờ rào nứa.

Bỗng nhiên, một tia sáng kim loại lóe lên dưới lớp tro xám thu hút ánh nhìn của Toàn. Cậu bước tới, ngồi thụp xuống gạt lớp phoi bào cháy dở sang một bên.

Nằm chỏng chơ dưới đất là một chiếc bật lửa Zippo bằng đồng xước mòn, trên thân kim loại sắc lạnh có khắc chìm một chữ “Lợi” hoa mỹ kèm theo vết sứt sâu hoắm ở góc nắp—vật bất ly thân mà trùm cát tặc Hoàng Thế Lợi vẫn thường vê vê trên tay mỗi lần buông lời đe dọa.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.