Chương 9: Bút Ngự Sử Lạnh Lùng
Đầu ngón tay chai sạn của Liêu Khắc Thuận miết nhẹ lên mép giấy bản sém đen, dập tắt chút tàn tro còn sót lại trước khi gấp gọn nhét vào bọc áo trong.
Ngoài sân, khói từ kho hồ sơ bị cháy vẫn lượn lờ bốc lên từng vệt mỏng, khét lẹt mùi tre nứa cháy dở quyện với đất bùn ngấm nước. Chu Hiền Đức vẫn đứng chắp tay bên mép chõng tre, ánh mắt chưa hết bàng hoàng, đợi chờ một mệnh lệnh dứt khoát.
"Cất kỹ bản chép tay còn lại," cụ Liêu cất giọng trầm thấp, bàn tay nắm lấy cây búa gỗ nhỏ đặt trên bàn. "Đừng để lọt một tiếng thở dài ra ngoài hiên. Ra bến dọn dẹp đi, giờ Thìn người của triều đình sẽ tới."
Sáng sớm hôm ấy, khúc sông Lục Giang qua bến trấn Bạch Hạc đặc quánh sương mù. Gió bấc từ dãy Ngọc Sơn thổi tràn xuống lòng sông, quất từng luồng lạnh buốt vào dải cờ tiết chế cắm dọc bờ bến đá.
Chiếc thuyền công vụ ba tầng sơn đỏ chầm chậm rẽ nước cập bờ, mũi thuyền chạm vào trụ đá phát ra tiếng "khục" khô khốc. Trên boong, hai hàng nha dịch Ngự sử đài bận áo nẹp đen, tay cầm đoản côn đứng nghiêm như tượng đồng.
Tuần phủ Hứa Tòng Lâm đã túc trực ở bậc bến từ sớm, tấm trực lĩnh xanh lam thêu hạc bạc bay phần phật trong gió sớm. Vừa thấy bóng chiếc lọng vàng che đầu người bước xuống khỏi mạn thuyền, Hứa Tòng Lâm lập tức chắp tay cúi rạp mình, nét mặt rạng rỡ vẻ cung kính mẫu mực.
"Hạ quan Hứa Tòng Lâm, suất lĩnh quan viên trấn Bạch Hạc, kính cẩn nghênh đón Khâm sai đại nhân giá lâm!"
Bước xuống cầu tàu là một thân hình gầy cao, thẳng tắp như chiếc cọc sắt cắm giữa lòng xoáy nước. Khâm sai Ngự sử Lê Tự Minh đã ngoài sáu mươi, chòm râu điểm bạc tỉa vuông vức, đôi mắt sắc lẹm lướt qua bến đá như lưỡi dao cạo. Nơi ngọc đai của ông, cây bút ngự sử bằng thép bọc đồi mồi cài chặt bên hông — vật chẳng rời tay từng hạ bút định tội không biết bao nhiêu tham quan ô lại khắp các nẻo đường sông nước.
"Miễn lễ," Lê Tự Minh buông hai tiếng cụt ngủn, giọng sắt lại giữa tiếng gió rít. "Bản viện phụng chỉ tuần xét việc đê điều trung nguyên, không đến đây để thưởng trà ngắm cảnh. Tình hình đê Vạn Niên ra sao?"
Hứa Tòng Lâm vội vã nghiêng mình dẫn đường, bước chân thoăn thoắt tiến sát bên mép kiệu, thanh âm hạ xuống thật mềm mỏng "Bẩm Khâm sai đại nhân, tuyến đê ba mươi dặm đang được quân dân ngày đêm bồi đắp, vật liệu lim đá đều gom đủ từ thượng nguồn. Duy chỉ có điều..." Hứa Tòng Lâm liếc mắt về phía sau, thở dài ra chiều áy náy, "vài kẻ tuổi tác đã cao, chấp nhất vào những thói cũ mục nát thời trước, lại ỷ có chút công lao xưa mà cản trở lề lối mới. Hạ quan dẫu dốc lòng vì công việc, nhưng đôi khi vẫn bị những lời gièm pha thất thiệt làm xáo động lòng dân."
Lê Tự Minh khẽ nhướng mày, ánh mắt quét qua hàng ngũ quan lại đang quỳ nghênh đón bên bờ sông. Đôi tròng mắt sắc lạnh dừng lại ngay ở cuối hàng.
Nơi đó, Liêu Khắc Thuận đang đứng tựa vào cây gậy tre ngà. Giữa đám lại mục xúng xính xiêm áo lụa là, lão nhân tám mươi bảy tuổi mặc chiếc áo vải thô màu nâu đất đã bạc phếch hai bên vai, lưng hơi khom nhưng hai chân cắm chặt xuống nền đá lát như rễ cây cổ thụ. Ngón trỏ tay phải của cụ vĩnh viễn cong lại, buông thõng bên hông.
Bốn mắt nhìn nhau xuyên qua màn sương sớm ngã ba sông.
Mười lăm năm trước, cũng trên một đoạn đê sạt lở ở Đông Lộ, vị ngự sử đầy nhuệ khí Lê Tự Minh từng khép tội một lại viên dưới quyền cụ Liêu về tội làm vỡ đê, chuẩn bị đem ra xử trảm thị chúng. Chính Liêu Khắc Thuận khi ấy đã đem cả tính mạng và mũ áo Ti trưởng ra đánh cược, lặn lội suốt đêm mò mẫm đáy sông tìm ra vết mạch đùn tự nhiên do hang rùa khoét rỗng, công khai bác bỏ phán quyết của ngự sử ngay giữa điện đình, cứu mạng người lại viên nhưng cũng giáng một đòn nặng nề vào thể diện cứng nhắc của Lê Tự Minh. Từ ngày ấy, hễ chạm mặt, giữa hai người chỉ có sự im lặng lạnh ngắt như nước mùa đông.
Lê Tự Minh sải bước tới, dừng lại cách cụ Liêu đúng ba bước chân. Gió sông thổi tạt vạt áo thêu ngự sử của ông bay chạm vào manh áo vải thô của lão nhân.
"Liêu lão ti trưởng," Lê Tự Minh cất giọng, âm sắc lạnh lùng không chút gợn sóng. "Mười lăm năm không gặp, trông lão vẫn cứng cỏi như dạo ở Đông Lộ."Cụ Liêu khẽ cúi đầu, hai tay nâng lên ngang trán làm lễ theo đúng phép tắc của một thuộc viên triều đình đã hồi hưu, giọng nói khàn đục nhưng vững vàng "Lão phu bái kiến Lê đại nhân. Đại nhân vạn dặm bôn ba vì bờ cõi, sông Lục Giang vẫn ngày đêm chảy xiết đợi người cầm cân nảy mực."
Đôi mày rậm của Lê Tự Minh khẽ nhíu lại. Bàn tay ông vô thức chạm vào cán cây bút ngự sử bên hông, giọng nói đanh lại như lệnh truyền "Triều đình xuất ba ngàn lượng bạc cho việc đắp đê Vạn Niên lần này, từng tấc đất, từng thân gỗ đều ghi vào sổ sách ngự tiền. Bản viện đến đây chỉ nhận bằng chứng và phép tắc, không nghe lời thở than, càng không vì chút ân oán cũ hay danh tiếng xưa của bất kỳ ai mà nương tay. Bờ đê vững hay đổ, cọc lim tốt hay xấu, phép nước sẽ định đoạt. Lão ti trưởng tuổi tác đã cao, nếu sức lực không kham nổi việc công trường, tốt nhất nên an dưỡng tuổi già, chớ để lòng riêng làm vẩn đục việc quân quốc."
Lời nói sắc như dao chém vào đá, từng tiếng rơi xuống rành rọt giữa bến sông vắng lặng. Đinh Ngọc Lâm đứng phía sau cụ Liêu, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm, vết sẹo dài bên má giật giật vì phẫn uất trước thái độ nghiệt ngã ấy. Nhưng cụ Liêu vẫn đứng yên.
Cụ không phân trần lấy nửa lời. Cụ không nói về hai trăm trượng cọc rỗng ruột dưới lòng bùn, không nhắc đến kho hồ sơ vừa bị phóng hỏa thiêu rụi đêm qua, cũng chẳng buông một lời oán thán trước những câu nói mỉa mai ngấm ngầm của vị Khâm sai.
Đôi mắt đục sương của lão nhân chỉ lặng lẽ quan sát từng nét mặt cương nghị của Lê Tự Minh. Dưới vầng trán nhăn sâu vì bao năm tra án chốn quan trường, ánh mắt vị ngự sử kia lạnh lẽo, đầy định kiến cay nghiệt với kẻ từng làm bẽ mặt mình, nhưng sâu bên trong vẫn là sự cứng rắn của một kẻ không dễ bị vàng bạc làm mờ mắt. Kẻ kiêu ngạo đến cố chấp như Lê Tự Minh thà tin vào mắt mình chứ quyết không chịu để người khác dắt mũi, kể cả đó là Tuần phủ Hứa Tòng Lâm.
"Đại nhân dạy rất phải," cụ Liêu thản nhiên đáp, thanh âm bình thản như tiếng nước vỗ chân đê. "Đê điều vốn không biết nói dối. Lão phu chỉ mong đại nhân giữ vững ngọn bút ngự sử khi bước chân ra mép nước."
Lê Tự Minh hừ lạnh một tiếng trong cổ họng, không buồn đáp lại. Ông dứt khoát xoay người bước lên cỗ kiệu bốn người khiêng đã chờ sẵn bên thềm đá. Hứa Tòng Lâm khẽ liếc nhìn cụ Liêu bằng nửa con mắt, khóe môi nhếch lên một nụ cười đắc ý kín đáo rồi vội vã rảo bước theo sau hầu hạ.
Tiếng phèng la mở đường vang lên chát chúa, đoàn tùy tùng rầm rộ rước cỗ kiệu quan Khâm sai rời bến, hướng thẳng về phía Nha môn Tuần phủ, để lại đám dân phu và lại viên đứng lặng trong làn gió bấc buốt giá.
Đinh Ngọc Lâm bước vội lên đỡ lấy cánh tay thầy, giọng nghẹn ngào vì tức tối "Thầy! Khâm sai vừa tới đã nghe lời gièm pha của Hứa phủ doãn, lại đem chuyện cũ ở Đông Lộ ra dằn mặt thầy. Đưa bản chép tay sổ kho cho một kẻ định kiến như vậy, liệu có ích gì không?"
Cụ Liêu khẽ gạt tay học trò ra, lưng thẳng lên một chút, ánh mắt dõi theo bóng cỗ kiệu đang khuất dần sau những rặng tre ngà dẫn vào thành trấn. Bàn tay cụ luồn vào trong ngực áo, chạm vào nếp gấp ráp ráp của tờ giấy bản vương mùi tro tàn.
Bức tường ngăn cách giữa hai người già từng đối đầu nhau nơi công đường không thể phá vỡ bằng những lời biện giải đầu môi, mà chỉ có thể lay chuyển bằng sự thật tr*n tr** dưới lòng bùn.
Cụ siết chặt chiếc búa gỗ kiểm âm trong tay áo, cất bước đi về hướng công trường đê Vạn Niên.
"Về bãi đê," cụ nói, giọng chắc nịch. "Nước ngã ba sông sắp cuộn rồi."
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
