Chương 3: Bút Toán Bất Thường
Lời thì thầm the thé của Bạch Lệ Hoa vừa dứt bên ngoài hành lang, tiếng gót giày nện dồn dập trên sàn ván gỗ mun rồi khuất dần sau khúc quanh cầu thang. Trịnh Khắc Thao lúng túng ho khan vài tiếng, bước chân dùng dằng một thoáng rồi cũng lủi nhanh về phía gian nhà chính. Gian phòng kế toán chỉ còn lại sự tĩnh lặng đặc quánh của buổi sớm vùng cao nguyên.
Sầm Thục Quyên vẫn đứng thẳng sau bàn làm việc, ánh mắt lạnh như làn sương núi Cầu Đất. Trước những lời đe dọa của người đàn bà mới về làm dâu, bà không hề xao động. Thay vì đôi co vô bổ, Thục Quyên bước tới cài then cửa gỗ, cẩn thận thắt lại dải lụa đeo chiếc chìa khóa két sắt bằng đồng bên hông cho ngay ngắn, rồi thong thả quay lại bàn giấy.
Trên mặt bàn gỗ mun, ngoài sổ nhật trình thu chi vừa đối soát, còn có một tập hóa đơn mua vật tư mà Khắc Thao mang từ phố huyện về cách đây hai hôm. Đó là các khoản chi do các bạn buôn mới cung cấp, được anh rể bà nhiệt tình ca ngợi là mối làm ăn thân tình, giá cả phải chăng.
Thục Quyên kéo chiếc ghế bọc da sờn mép, rút cặp kính gọng đồi mồi đeo lên mắt. Ngón tay thon dài lật mở từng tờ giấy bản đóng dấu triện đỏ. Đôi mày thanh tú của bà khẽ nhíu lại khi ngòi bút máy ngập mực tím bắt đầu gõ từng nhịp khô khốc xuống mặt bàn.
Chỉ qua vài tuần trà đối chiếu với các cuốn sổ lưu kho từ những mùa vụ trước, Thục Quyên đã nhìn ra điểm bất thường rõ rệt. Đơn giá của mọi chuyến hàng đều bị đội lên gấp đôi so với giá thị trường hàng năm.
Mười tấn phân bón hữu cơ ủ hoai phục vụ cho bốn mươi lăm mẫu nương chè Bách Diệp được kê với giá mười hai đồng bạc Đông Dương một tấn, trong khi mức giá giao tận chân đồi của các thương quán uy tín trước nay chưa từng vượt quá sáu đồng bạc. Nghiêm trọng hơn, sáu mươi gánh than nghiến sấy chè hảo hạng dùng cho lò sao củi bị nâng lên tới bốn đồng bạc một gánh — cao gấp hai lần đơn giá bình quân tại Cầu Đất. Cùng các khoản phụ phí chuyên chở và vật tư lặt vặt bị độn vào, tổng số tiền chênh lệch bị kê vống lên tới hơn ba trăm đồng bạc Đông Dương, một khoản ngân quỹ đủ để chi trả công nhật ròng rã suốt một tuần lễ cho tám mươi thợ chè.
“Mượn danh bạn buôn mới để bòn rút công quỹ của đồn điền,” Thục Quyên lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc bén.
Bà lập tức kẹp tập hóa đơn vào chiếc kẹp gỗ mun, sải bước rời khỏi phòng kế toán. Băng qua khoảng sân đất đỏ còn ẩm ướt hơi sương, Thục Quyên đi thẳng xuống dãy nhà ngang phía hạ triền đồi, nơi đặt xưởng chế biến trà thủ công.
Bên trong xưởng sao chè, tiếng lửa than reo lách tách hòa cùng mùi ngái nồng đặc trưng của búp chè tươi vừa trải qua cữ hong gió. Hơi nóng từ các lò than củi bốc lên hầm hập. Giữa làn khói mờ ảo, quản sự Tiêu — người phụ trách việc cân đong than sấy do chính Khắc Thao cất nhắc đầu tháng trước — đang đứng tựa cột, tay cầm tẩu thuốc lào phì phèo nhả khói.
“Quản sự Tiêu,” Thục Quyên cất giọng đanh thép, rành rọt át cả tiếng quạt gió của thợ lò.
Người đàn ông giật bắn mình, vội vàng giúi điếu thuốc vào góc bồ than, lúng túng cúi chào: “Thưa... cô Út Quyên. Cô xuống xưởng có điều chi chỉ bảo?”
Thục Quyên mở kẹp gỗ, chìa thẳng tờ hóa đơn than sấy trước mặt viên quản sự: “Sáu mươi gánh than nghiến nhập kho đợt này, ông trực tiếp ký biên bản giao nhận đúng không?”
“Dạ... phải, thưa cô. Hàng họ đưa tới đều đủ số gánh...”
“Than nghiến chuẩn xứ đồi sỏi phải đanh chắc, khi gõ vào nhau phát ra tiếng trong trẻo, lúc đỏ lửa thì đượm than suốt ba khắc,” Thục Quyên bước tới bên đống than củi vừa đổ cạnh lò sao số bốn, cúi người nhặt lên một thanh than xốp nhẹ rồi bẻ vụn ra làm đôi. Muội than đen sì bám vào kẽ ngón tay bà. “Đây rõ ràng là than tạp pha gỗ mục, khói khét lẹt thế này sao giữ được hương trà sương? Vậy mà trong chứng từ này, ông dám ký nhận loại than thượng hạng với giá bốn đồng bạc một gánh?”
Mặt quản sự Tiêu thoắt tái mét, trán lấm tấm mồ hôi hột. Gã liếc nhìn quanh quất, giọng ấp úng run rẩy: “Tôi... tôi chỉ làm phận sự cân đo đếm gánh. Đơn than này... là do ông Trịnh đem về từ thương quán Vạn Phát bên Chợ Lớn. Bà Lệ Hoa dặn cứ việc ký nhận, không được gây khó khăn cho người nhà của bà ấy...”
“Thương quán Vạn Phát ở Chợ Lớn?” Thục Quyên siết chặt ngón tay, thanh âm lạnh buốt. “Một thương quán tạp nham cách đây hàng trăm dặm, chủ hiệu có quan hệ thế nào mà dám ngang nhiên đưa than mục vào đồn điền Thanh Lương với giá cắt cổ?”
“Nghe đâu... chủ hiệu là người bà con bên ngoại của bà Lệ Hoa,” quản sự Tiêu lí nhí thú nhận, không dám ngẩng đầu nhìn vào đôi mắt sắc như dao cau của người phụ nữ đối diện. “Mọi việc đều có chữ ký chấp thuận của ông Trịnh...”
Chưa kịp để Thục Quyên gặng hỏi thêm, ngoài cửa xưởng bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập. Một bóng dáng thanh mảnh lao vụt qua màn sương sớm, hai vai run rẩy bần bật.
“Dì Út ơi!”
Đó là Uyển Nhi. Cô thiếu nữ mười bảy tuổi mặc chiếc áo bà ba màu lam nhạt lấm lem vụn lá chè, đôi mắt ầng ậng nước đỏ hoe, bờ môi cắn chặt đến rớm máu. Vừa trông thấy Thục Quyên, cô bé liền nhào tới, nắm chặt lấy vạt áo lụa của dì, lồng ngực phập phồng nghẹn ngào.Thục Quyên vội cất tập chứng từ, đưa tay ôm lấy vai cháu gái. Cảm nhận được sự hoảng loạn của đứa trẻ, lòng bà thắt lại: “Uyển Nhi, có chuyện gì? Ai ức h**p con?”
Uyển Nhi gạt nước mắt, giọng run rẩy đứt quãng: “Bà kế... bà kế vừa xông vào phòng ủ hương chè. Con đang phụ bác K'Brôi rải hoa lài vào các hũ sành như mẹ dạy ngày trước... thì bà ấy xộc tới, hất tung cả nia hoa xuống đất. Bà ấy chỉ tay vào mặt con mà mắng...”
Nước mắt cô bé lăn dài trên gò má thanh tú: “Bà ấy mắng con là phận gái vô tích sự, sớm muộn gì cũng gả đi nơi khác, cấm không cho bước chân vào xưởng ủ hay tiếp xúc với bác K'Brôi nữa. Bà ấy bảo phận gái không được mó tay vào sản nghiệp đồn điền, từ nay chỉ việc ngồi trong buồng thêu thùa chờ ngày cha định đoạt gả bán...”
Cơn giận bốc lên ngùn ngụt trong lồng ngực Thục Quyên. Bàn tay bà siết chặt lấy bờ vai nhỏ bé của cháu, ánh mắt đanh lại như thép nguội. Dã tâm của người đàn bà Chợ Lớn lộ ra quá nhanh: vừa mượn danh thân tộc để bòn rút tiền quỹ, vừa toan tính tước đoạt quyền tiếp nối cơ nghiệp của Uyển Nhi để dễ bề thao túng gia đình.
“Đi theo dì về phòng,” Thục Quyên dứt khoát nói.
Bà nắm chặt tay Uyển Nhi, dẫn cô bé rời khỏi xưởng sao chè, bỏ lại viên quản sự đang đứng run rẩy giữa làn khói than nghi ngút.
Hai dì cháu rảo bước qua khoảng sân gạch, đi lên căn gác nhỏ nơi đặt phòng ngủ của Uyển Nhi. Căn phòng bài trí giản dị nhưng ngăn nắp, thoang thoảng mùi hương búp chè khô mà cô bé cẩn thận ủ trong chiếc túi vải nhỏ treo đầu giường.
Thục Quyên kéo Uyển Nhi ngồi xuống mép giường, lấy chiếc khăn tay lụa trắng nhẹ nhàng lau khô những giọt nước mắt trên khóe mắt cô cháu gái. Ánh mắt nghiêm cẩn thường ngày của bà dịu lại, đong đầy sự chở che “Bình tĩnh lại đi con. Nước mắt không giữ được nương chè, càng không đuổi được kẻ gian.”
Uyển Nhi ngước nhìn dì, đôi môi mím chặt: “Dì Út, con sợ... Con sợ cha nghe lời bà ấy rồi ép gả con đi thật. Con chỉ muốn ở lại Cầu Đất, giữ gìn nương chè của mẹ...”
“Uyển Nhi, nghe dì dặn đây,” Thục Quyên nhìn thẳng vào mắt cháu, giọng nói trầm ấm nhưng rắn rỏi lạ thường. “Bốn mươi lăm mẫu nương chè này là mồ hôi nước mắt của mẹ con và ông bà ngoại gây dựng. Hai phần ba sản nghiệp này thuộc về con và Minh Quân, có giấy tờ di huấn đàng hoàng lập trước Tòa Đại lý Cầu Đất. Không một ai, kể cả cha con hay người đàn bà đó, có quyền tước đoạt tương lai của các con!”
Bà khẽ vuốt mái tóc mềm mại của cô bé, nghiêm nghị dặn dò: “Kỹ nghệ Bách Diệp Sương Trà là linh hồn của mảnh đất này. Mẹ con mất sớm, nhưng từng công đoạn chọn búp ngậm sương, vò men tay và căn độ lửa than củi đều đã truyền dạy cho con. Càng bị cấm cản, con càng phải khắc sâu những điều ấy vào tâm can, quyết không để kẻ ngoài chèn ép. Hãy kín đáo học hỏi thêm từ bác K'Brôi mỗi khi có dịp. Nhớ lấy, kẻ tham lam chỉ màng tới tiền bạc, nhưng người đứng vững trên mảnh đất này phải là người thấu hiểu từng búp chè. Chừng nào dì Út còn ở đây, dì tuyệt đối không để ai biến con thành món hàng trao đổi!”
Nghe những lời đanh thép của dì, ánh mắt Uyển Nhi dần lấy lại sự kiên định. Cô bé gật đầu, lau khô giọt lệ cuối cùng: “Dạ, con nhớ rồi. Con sẽ ghi nhớ từng lời mẹ dạy, không để dì phải bận lòng.”
Sau khi dỗ dành cho Uyển Nhi an lòng và dặn cô bé ở yên trên gác bảo ban em trai học bài, Thục Quyên cầm tập chứng từ trở lại phòng kế toán ở chái đông.
Khí trời ban trưa se lạnh luồn qua khe cửa sổ. Thục Quyên ngồi xuống bàn làm việc, lật giở từng trang cuống phiếu chi mua than sấy vừa mang từ xưởng về. Ánh mắt sắc sảo của bà dừng lại ở ô phê duyệt cuối cùng trên tờ phiếu chi số bốn mươi hai.
Ở góc dưới bên phải, nét mực đen quen thuộc của Trịnh Khắc Thao hiện ra. Nhưng khác hẳn với nét chữ hoa mỹ, bay bướm pha chút trịch thượng ngày thường của một công tử hết thời, nét ký lần này run rẩy, ngắt quãng bất thường, ngòi bút cào rách cả xơ giấy bản như thể được hạ bút trong một cơn hoảng loạn tột cùng hoặc men say chếnh choáng.
Trực giác nhạy bén của người làm nghề sổ sách mách bảo có điều khuất tất. Thục Quyên lật tiếp mặt sau của cuống phiếu chi. Bất chợt, đầu ngón tay bà chạm phải một gờ giấy cộm lên.
Bên dưới lớp ghim sắt han rỉ kẹp tập chứng từ mua than, có một mảnh giấy bản màu vàng nhạt được gấp làm tư, dường như bị kẹp nhầm vào trong lúc vội vã chưa kịp tiêu hủy.
Thục Quyên khẽ nín thở, cẩn thận gỡ mảnh giấy ra rồi mở rộng trên mặt bàn. Đó là một tờ giấy biên nhận viết tay nguệch ngoạc bằng mực nho, bên trên in đậm những dòng chữ cay nghiệt cùng dấu triện đỏ chói của một sòng bài khét tiếng “Trịnh Khắc Thao nhận nợ sáu trăm đồng bạc Đông Dương tiền bài cẩu tại Chợ Lớn, hẹn hạn kỳ thanh toán…”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
