Chương 7
May thay, quận Trần cách Lạc Kinh không xa.
“Hào Hàm là nơi đế trạch, Hà Lạc là chốn vương quốc”, câu ấy nói về hoàng thành của kinh đô thiên hạ.
Nơi đây đường sá rộng mở, ngang dọc đan xen, cổng thành thẳng tắp, đủ chỗ cho chín cỗ xe đi song song. Hai bên là nha môn và chùa miếu, sau những bức tường phường là phủ viện sâu rộng, gia nô xếp hàng, mẫu đơn nở rộ, hương thơm theo gió lan mấy dặm.
Chiều đã buông, vậy mà trên đường lớn người qua lại vẫn đông như mắc cửi, vai chạm vai, gót nối gót.
Ta vén rèm xe, không chớp mắt ngắm nhìn cảnh tượng trên phố dài. Sát Nghiên ở phía trước khẽ nói: “Phu nhân, phía trước là phủ Tư Đồ cùng Thái Miếu, Thái Xã. Qua khỏi đây, phía trước chính là phủ đệ của lang chủ.”
“Ừm.”
Có thể có phủ đệ ở nơi này thì đủ thấy Mộ Dung đã là một danh môn vọng tộc tại Lạc Kinh.
Bánh xe lộc cộc lăn đi, dần bỏ lại hàng loạt phủ viện phía sau. Thế nhưng chỉ chưa đầy một nén hương, hai người đánh xe bỗng ghìm cương ngựa.
“Có chuyện gì vậy?”
Ta bước xuống xe ngựa, chỉ thấy hai người nhìn chằm chằm về phía trước, sắc mặt biến đổi dữ dội.
Không xa là cổng lớn rộng mở, trên cài đầy hoa trắng. Một hàng nữ tỳ mặc áo gai đồ tang, tay nâng dây linh, nối nhau bước ra. Phía sau là mấy người kéo linh cữu, chỉ nghe khúc vãn ca từng hồi, tiếng khóc ai oán vang khắp nơi.
Ta sững sờ: “Đây... đây là tang lễ của ai?”
Sát Nghiên và Sát Mặc nhìn nhau một cái, lặng im không nói. Dường như cả hai cùng giữ một bí mật mà ta không hề hay biết.
“Các ngươi không nói cũng được, ta tự đi xem.”
Nói xong, mặc cho hai người phía sau cuống cuồng gọi lớn, ta lập tức lao vào trong cánh cổng cao rộng ấy.
Vượt qua bình phong, dọc đường mấy nữ tỳ bị ta làm cho hoảng sợ, đều né tránh lùi lại. Từ cửa trong bước ra hai văn sĩ quen thuộc, chính là Sát Bút và Sát Chỉ. Vừa thấy ta đi thẳng vào đại sảnh, sắc mặt cả hai đều đổi khác.
“Sao phu nhân lại đến đây?”
Ta ngẩn ngơ nhìn lên mái hiên, chỉ thấy hai dải lụa tang trắng thật dài buông xuống hai bên. Trong đại sảnh đặt một cỗ quan tài sơn đen cao ngang nửa người.
Bên tai người người ồn ào. Có lúc âm thanh vang như sấm nổ, có lúc nhỏ như tiếng muỗi vo ve. Ai nấy đều đang nói chuyện, nhưng gương mặt lại mờ nhòe không rõ.
Ta lặng lẽ nhìn vào trong cỗ quan tài đen. Người ấy đặt hai tay trước ngực, đầu không đội mũ, tóc không buộc, quầng mắt xanh tím, môi trắng bệch như cánh hoa đã héo tàn.
Ta đưa tay chạm lên lồng ngực rộng ấy. Quả thật lạnh thấu xương, không hề có chút nhấp nhô.
Dẫu là lúc nào, người đã chết vẫn là người được giải thoát nhất.
Mấy tháng qua, ta không thức trắng rong ruổi lên đường thì cũng chăm sóc cha mê man lẫn lộn. Giờ người này bỏ lại hết sau lưng, từ đây ngủ một giấc không bao giờ tỉnh nữa, chỉ để ta một mình ở lại nhân thế chịu đủ giày vò.
Giờ khắc này, nhìn người nằm trong quan tài, ta bỗng thấy có chút ngưỡng mộ.
Thậm chí còn muốn cùng chàng rời khỏi cõi đời này.
Chỉ là cỗ quan tài này như một dải ngân hà nhỏ, ngăn cách đôi bên, thật quá vướng víu.
Mọi người trơ mắt nhìn ta trèo vào trong quan tài, ai nấy đều kinh hãi trợn tròn mắt nhưng không một ai tiến lên ngăn cản. Ta bò xuống đáy quan tài, gối đầu lên vai người không hề đáp lại kia rồi dần dần nhắm mắt giữa cơn buồn ngủ dày đặc.
Ngủ rồi sẽ quên được mọi đau khổ.
Không biết đã trôi qua bao lâu.
Giữa cơn mê mịt mờ, người bên gối bỗng mở mắt. Chàng nhìn gương mặt đang say ngủ của ta, môi khẽ động, từng chữ từng chữ rõ ràng như nước suối nhỏ xuống ghềnh đá, trong trẻo mà vang vọng.
“Tấm lòng của nàng, ta đã biết rồi.”
Một nụ hôn lạnh buốt khẽ đáp xuống môi ta.
Lạnh đến rợn người.
Ta dần tỉnh lại, trước mắt là làn khói hương trắng quẩn quanh, dày đặc.
Ta chống người ngồi dậy nhìn quanh. Trên vách khắc chi chít hàng trăm hàng nghìn tượng Phật, trước mặt là một khám thờ sâu, bên trong bày kín đặc những bài vị.
Trên chiếc sập thấp cách đó không xa, có một người lười nhác tựa vào lồng xông hương bằng tre xanh, tay cầm một quyển Kinh Kim Cang, cạnh người đặt một lư hương thon dài, hai ống tay áo phảng phất mùi hương thanh nhã lạ thường.
Giữa màn khói mờ, dung mạo chàng tuấn mỹ, đuôi mắt thon dài, mang dáng vẻ của một bậc quân tử.
Ta ngơ ngác hỏi: “Ta chết rồi sao?”
Thấy ta tỉnh lại, chàng đặt quyển sách xuống, dang hai tay về phía ta. Đôi mắt nhìn ta chan chứa vô vàn thương yêu và mong đợi.
“Lại đây.”
Chàng vừa đưa tay kéo, thân thể ta đã bất giác bị chàng dẫn theo.
Đi qua linh đường là một cổng hoa rủ vắng lặng không một bóng người. Bên trong là gian sương phòng ẩn dưới hoa cỏ, thanh nhã vô cùng.
Vừa bước vào cửa đã thấy một chiếc bàn gỗ cánh gà nhỏ bày vài món ăn tinh xảo. Mộ Dung Thùy rót rượu, ta nhận lấy rồi uống cạn một hơi, không nhịn được xuýt xoa: “Rượu hợp cẩn dưới âm phủ hóa ra cũng ngọt lắm.”
“Thế sao?”
Lúc ấy ta mới nhận ra, giọng chàng không còn khàn đặc khó nghe như khi ở Trì Châu nữa mà trong trẻo, êm dịu như tiếng suối mát, khiến cả người nghe tê dại.
Nhưng chưa kịp nghĩ kỹ điều khác biệt ấy thì chàng đã ghé sát lại: “Cho ta nếm thử với.”
Rượu trao qua môi quả nhiên vừa say vừa ngọt, như một chén rượu ngon hòa tan cả gió xuân.
Chỉ hai ba chén như thế, ta đã say đến mức không ngẩng đầu nổi, ngay cả bóng người trước mặt cũng hóa thành mấy tầng chồng lên nhau.
Người trước mặt ôm ta vào lòng. Đi thêm vài bước là khắp nơi đỏ rực lụa hồng. Trên chăn thêu rải đầy táo đỏ và lạc. Có một vật đen nhánh lăn đến bên tay ta, hóa ra là một quả nhãn lớn tròn vo.
Trong màn trướng lay động, Mộ Dung Thùy tháo mũ, mái tóc đen dài lập tức xõa xuống. Đôi mày nhướng cao, đen đậm như mực, khóe mắt ửng đỏ còn đôi mắt xanh biếc lại trong vắt đến tận đáy.
Ta đưa tay chạm lên đôi mắt ấy, không khỏi thở dài: “Sao có thể là mắt quỷ được chứ?”
“Vì sao?”
“...Rõ ràng là đôi mắt đa tình.”
Lời còn chưa dứt, chàng đã cúi xuống. Bàn tay lớn v**t v* gò má ta, khóe mắt đỏ mềm, giọng nói trầm thấp đến nao lòng.
“Từ nay về sau, nàng phải gọi ta là phu chủ.”
“Thế giới sau khi chết đẹp đến mê hoặc, như thể rơi vào một hồ nước sâu, khiến ta chìm đắm trong đó, không sao tỉnh lại được nữa…”
Đã vào mùa hạ, nằm sát nhau ngủ nóng vô cùng.
Ta mở mắt, lại phát hiện mình đang áp lên một lồng ngực.
Chàng cầm chiếc áo lót của ta, nhẹ nhàng lau mồ hôi trên cổ ta. Mái tóc đen xõa xuống, mắt xanh mày dài, thần sắc thư thái sau khi hoàn toàn thả lỏng.
“Dậy sớm thế.”
Vừa nhìn thấy chàng, ta mới hoàn toàn hiểu ra!
“Vậy là... chàng chưa chết?”
Chàng nhướng mày, mang mấy phần ngạo nghễ: “Sao nào? Nàng mong ta chết lắm à?”
Gương mặt ngày đêm mong nhớ ở ngay trước mắt, vậy mà ta chẳng buồn nhìn, cúi đầu cắn thật mạnh vào mu bàn tay trắng ngần của chàng.
Mộ Dung Thùy không rên lấy một tiếng, một tay ôm chặt ta. Đợi đến khi ta cắn đến ướt cả miệng mới buông ra, chàng mới dùng chính bàn tay bị thương ấy vuốt mặt ta.
Máu theo đầu ngón tay chảy xuống, rơi lên mí mắt và gò má ta. Chàng dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng lau đi, vẻ mặt hơi si mê: “Ta quả không nhìn lầm người. Trong lòng nàng có ta. Dẫu nghĩ ta đã chết thì nàng vẫn muốn theo ta, phải không?”
Ta chẳng hề lay động, giọng đầy oán hận: “Ta hận chàng.”
“Giá chàng chết hẳn đi còn hơn. Chàng vốn chỉ lừa ta…”
Nghe vậy, chàng vội vàng cắn nhẹ vành tai ta, giọng mơ hồ: “Ta lừa nàng khi nào? Rõ ràng là nàng đến quá sớm, suýt làm hỏng kế hoạch của ta.”
Ta đẩy chàng ra, khoác áo bước xuống giường. Mộ Dung Thùy vội đuổi theo, nhặt chiếc giày thêu màu đỏ dưới đất lên: “Nhìn nàng xem, cả giày cũng đánh rơi mất.”
Ta sững người. Chàng đã quỳ một gối trước mặt, một tay nâng bàn chân chỉ mang tất mỏng của ta. Những ngón tay trắng trẻo thon dài, khớp xương rõ ràng.
Ta lạnh nhạt nói: “Ở dân gian đều là vợ hầu chồng mang giày. Chàng là Đại tướng quân lừng danh thiên hạ, sao có thể hạ mình như vậy?”
“Nàng là vợ ta. Ta cam lòng.”
Thấy ta không đáp, chàng cụp hàng mi xuống, che đi đôi mắt xanh trong vắt, giọng nói mang chút nhún nhường: “Yên tâm, ta tuyệt đối sẽ không để nàng thành góa phụ đâu.”
“Ta bất đắc dĩ mới phải uống Quy Tức Hoàn chế từ độc cá nóc. Nếu không giả chết thì làm sao lừa nổi người đích huynh lòng lang dạ sói của ta?”
Nghe đến đó, mặt ta bỗng ướt đẫm.
Thấy ta rơi nước mắt, chàng bỗng luống cuống khó hiểu, hai tay ôm chặt ta vào lòng, cúi xuống hôn lên mặt, từng chút một hôn đi những giọt lệ trên má, vừa thẳng thừng vừa vụng về: “Đừng khóc nữa.”
“Ta từng nghe nói, nếu vợ cứ khóc mãi, vậy thì chắc chắn là chồng vô dụng. Hễ thấy nàng rơi lệ, lòng ta lại bứt rứt vô cùng.”
“Không phải chàng vô dụng, lẽ nào là ta vô dụng?”
Mộ Dung Thùy khẽ thở dài: “Được, được. Là ta vô dụng, là ta sai.”
“Sai ở đâu?”
“Chúng ta là vợ chồng, đã kết tóc chung gối, xuống suối vàng cũng là bạn đồng hành. Từ nay về sau, ta sẽ không bao giờ bỏ nàng lại nữa. Dẫu là tiên cảnh hay biển lửa, ta cũng đi cùng nàng.”
Nghe chàng nhận sai, ta mới buông lỏng mọi phòng bị. Nước mắt lập tức tuôn như suối, khóc đến mức chàng luống cuống tay chân, chỉ biết đi vòng quanh ta: “Đừng khóc nữa. Hay ta cho nàng vàng, nàng đi mua mấy bộ y phục mới nhé?”
“Không cần.”
“Ta đi mua bánh ngọt cho nàng nhé?”
“Không cần!”
“Hay là... đưa nàng đi gặp người nhà ta?”
“...Được.”
Đợi ta khóc đủ rồi, Mộ Dung Thùy nắm tay ta đi dọc hành lang.
Lúc này trăng tròn treo trên ngọn cây. Dường như vừa mới mưa xong, không khí ẩm mà mát lạnh. Sau cơn mưa trời quang mây tạnh, đầu cành hiện lên vầng trăng cong thanh khiết như mày ngài.
Ta theo Mộ Dung Thùy đến tiền sảnh, chỉ thấy bên trong đông nghịt người, chen kín không còn chỗ trống.
Nhìn vào giữa đại sảnh, cỗ quan tài vẫn còn đặt nguyên đó. Hai bên còn có hơn chục phụ nữ trẻ tuổi mặc áo tang, đầu quấn khăn trắng, khóc đến long trời lở đất, còn náo nhiệt hơn cả hôm chàng giả chết.
Nhưng chàng đâu có chết, vậy rốt cuộc họ đang khóc ai?
Trước quan tài là một ông lão tóc bạc như sương, thân hình cao lớn, nước mắt già cũng giàn giụa. Mộ Dung Thùy dẫn ta bước tới, nở một nụ cười đầy ý vị: “Phụ thân mất đứa đi đích tử duy nhất, biết làm sao bây giờ?”
Ông lão mặt mày tê dại, môi run run: “Nó cũng là đại huynh của con.”
Nghe vậy, Mộ Dung Thùy vẫn giữ nguyên nụ cười: “Huynh trưởng dám đến trước bệ hạ mạo nhận công lao, đáng phải chịu kết cục hôm nay. Huống hồ huynh ấy chết dưới tay người Hồ, cũng xem như lấy thân tuẫn quốc. Phụ thân nên tự hào mới phải.”
Thấy ông lão nhắm mắt thở dài, nước mắt đầy mặt, ta khẽ kéo góc áo Mộ Dung Thùy.
“À, suýt nữa quên mất.”
Mộ Dung Thùy khoác vai ta, ánh mắt đầy yêu thương: “Phụ thân, đây là thê tử của con, Sầu Dư. Nàng xuất thân từ nhà họ Giang ở Trì Châu, trong nhà làm nghề bán bánh đậu. Nàng rất xứng với đứa con thứ xuất thân hàn môn như con.”
Từng lời từng chữ của chàng đều bình thản, không hề tự đề cao hay tự hạ thấp. Nhưng ông lão vừa nghe đã tức đến tím cả mặt: “Mộ Dung thị chúng ta mấy đời nghèo hèn, nhưng nay con đã là Long Tương Tướng quân, sao có thể không cưới con gái của tứ tính?”
(*) 四姓: tứ tính: dùng để chỉ "Bốn gia tộc lớn" hoặc "Bốn đại vọng tộc" có danh tiếng, quyền lực và địa vị xã hội tối cao trong một triều đại hoặc một vùng đất nhất định.
Ta căng thẳng nhìn sang Mộ Dung Thùy, chỉ thấy trên mặt chàng vẫn là nụ cười nhàn nhạt nhưng giọng nói lại khiến người ta lạnh sống lưng: “Phụ thân, hôm nay là ngày vui. Xin người đừng nói những lời con không thích nghe.”
Ông lão liên tục lắc đầu, chòm râu run bần bật: “Thôi, thôi, thôi! Nay cánh con đã cứng rồi, ta không quản nổi con nữa!”
Nói xong, ông giận dữ phất tay áo bỏ đi.
Mộ Dung Thùy chẳng hề bận tâm, chỉ khẽ giơ hai tay ra hiệu. Trong khoảnh khắc, cả đại sảnh im phăng phắc, yên tĩnh đến mức nghe rõ tiếng kim rơi.
Chàng nắm tay ta, giọng nói nhẹ nhàng dịu dàng nhưng ẩn chứa uy thế không thể trái lệnh.
“Từ nay về sau, nàng ấy sẽ là nữ chủ nhân duy nhất của nơi này.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
