Chương 8: Bóng Đen Bên Kia Ngã Tư

Bóng lưng rộng lớn của Tuấn đột ngột khựng lại ngay khúc ngoặt tối tăm khiến Cúc giật nảy mình. Dưới ánh sáng vàng vọt lờ mờ hắt ra từ ngọn đèn cao áp nơi đầu phố, cô thấy bắp tay anh cuộn chặt, bàn tay thô ráp ghì cứng lấy thanh đòn tre dẻo dai đang oằn mình trên vai trái.

Nén lại cơn đau nhói nơi mắt cá chân phải, Cúc vội vàng kéo bé Mây nép sát vào tà áo bông chần của mình. Đôi mắt bồ câu của cô căng lên nhìn qua bờ vai Tuấn, vừa kịp bắt gặp một bóng người gầy guộc mặc áo gió trùm kín đầu đang co cẳng lủi mất dạng vào màn sương sớm. Kẻ đó chạy thục mạng ra phía mặt đường lớn, lách qua dãy kiốt san sát rồi biến hút về hướng tiệm phở Vạn Lộc bên kia ngã tư.

“Có chuyện gì thế anh Tuấn?” Cúc bước dấn lên nửa bước, hạ giọng hỏi, tiếng thở còn vương hơi lạnh buốt giá.

Tuấn khẽ nghiêng đầu, ánh mắt sắc bén như lưỡi lê trong đêm chậm rãi thu về, nét mặt đanh lại nhưng giọng nói vẫn cố giữ vẻ trầm tĩnh: “Có đứa rình mò mẹ con cô từ tận ngõ trọ. Vừa thấy tôi đứng lại, nó đã lủi mất dạng sang phía quán lão Tài rồi. Cô Cúc cứ yên tâm, đi sát vào sau lưng tôi, tuyệt đối đừng rời mắt khỏi bé Mây.”

Nghe anh dặn, lồng ngực Cúc thắt lại một nhịp. Cô vội siết chặt lấy bàn tay bé bỏng của con gái. Hơi ấm nhỏ nhoi từ những ngón tay non nớt của đứa trẻ phần nào xoa dịu nỗi hoang mang đang nhen nhóm trong lòng người mẹ trẻ. Cúc nhìn sang hướng tiệm Vạn Lộc còn chìm trong bóng tối nhờ nhờ, nhớ lại lời cảnh báo của bà Nhẫn hôm trước về thói cạnh tranh bẩn thỉu của những kẻ quen mùi bao cấp chợ búa, sống lưng bất giác rịn ra một lớp mồ hôi lạnh. Thế nhưng, khi nhìn sang tấm lưng bè vững chãi của Tuấn đang nhịp nhàng gánh trọn đôi thùng hàng nặng trĩu đi phía trước, nỗi âu lo trong lòng cô dần lắng xuống. Người lính ấy dù chân phải bước đi còn đôi phần tập tễnh, nhưng mỗi bước chân nện xuống mặt đường gạch cũ đều chắc nịch, tựa hồ một bức tường thành kiên cố che chở cho hai mẹ con cô trước mọi cơn gió độc nơi phố chợ.

Ba người rảo bước thêm một đoạn ngắn thì đã tới góc hiên quen thuộc của quán nước chè đầu ngõ.

Bà Nhẫn đã dậy từ lúc nào, khoác chiếc áo len xám cổ lọ, mái tóc muối tiêu vấn gọn gàng sau gáy. Trên chiếc bếp than vụn nhóm bằng củi thông, chiếc ấm nhôm Liên Xô đang reo lên những tiếng sôi réo rắt, tỏa ra làn khói trắng ấm sực cả một góc thềm.

“Kìa, cô Cúc với chú Tuấn đã ra đấy à? Mau vào đây hơ tay cho ấm, sương sớm hôm nay buốt ngọt đến tận xương đấy!” Bà Nhẫn đon đả chạy ra đỡ lấy chiếc làn đựng rau thơm trên tay Cúc, đoạn cúi xuống xoa xoa đôi má ửng hồng vì lạnh của bé Mây: “Bà chào bé Mây nhé. Tối qua ngủ có ngoan không con?”

“Cháu chào bà Nhẫn ạ!” Bé Mây khoanh hai tay lễ phép, rồi hớn hở xòe con chim gỗ nhỏ xíu trong túi áo ra khoe: “Chú Tuấn đẽo cho cháu chú chim Sẻ Nâu này bà ơi! Đẹp lắm cơ!”

Bà Nhẫn liếc nhìn Tuấn một cái đầy ngạc nhiên xen lẫn trìu mến, rồi mỉm cười gật gù: “Khéo tay gớm nhỉ! Thôi, để con bé ngồi đây uống chén nước sôi để nguội với bà, hai đứa mau mau dọn hàng ra kẻo lát nữa cánh cửu vạn lại kéo đến đông nghịt bây giờ.”

Cúc dạ một tiếng thật khẽ, lòng ấm áp lạ thường. Cô cùng Tuấn thoăn thoắt bắt tay vào việc. Tuấn nhẹ nhàng hạ đôi thùng gỗ thông già xuống nền gạch khô ráo sát chân tường rêu. Động tác của anh dứt khoát, chuẩn xác như một người lính thao diễn nơi thao trường. Anh cẩn thận nhấc chiếc nồi tôn dày dặn chứa gần hai mươi lít nước dùng đang liu riu than hồng đặt lên chiếc lò gạch đối lưu đã được be chắn gió cẩn thận.

Vừa mở hé nắp vung, một luồng hương thơm nồng nàn, ngọt lịm lập tức cuộn trào, bung tỏa trong không gian tĩnh mịch của cữ sáng sớm. Mùi thơm thanh khiết của tủy xương bò tơ hầm kỹ suốt hơn mười tiếng đồng hồ, quyện lẫn vị cay ngọt của quế chi nướng vàng, mùi thảo quả nướng cháy cạnh đập giập, hương hồi cánh dày ngào ngạt và thoang thoảng chút mặn mòi sâu đằm của mấy con sá sùng khô rang thơm. Đó là một thứ hương thơm thuần chất, mộc mạc mà lắng đọng, thứ hương vị phở kinh kỳ chính tông mà cha cô – cụ Cần – đã dành trọn cả cuộc đời để gìn giữ và truyền lại.

Cúc đưa tay quệt giọt mồ hôi lấm tấm nơi sống mũi, đôi mắt ánh lên niềm tự hào kín đáo. Cô xếp ngay ngắn từng chồng bát men lam viền chỉ xanh lên giá gỗ, đặt hũ giấm tỏi ớt ngâm hoa hồi sóng sánh nước trắng trong, mấy âu sành đựng ớt tươi thái lát đỏ rực, cùng rổ chanh cốm vỏ mỏng mọng nước sang một bên.

Trên chiếc thớt gỗ nghiến tròn dày dặn, Cúc bắt đầu sửa soạn thịt. Bộ dao nhíp thép mỏng mà cha để lại được cô mài sắc lẹm, lưỡi dao lướt êm ru qua từng tảng thịt chín thơm lừng. Bắp hoa bò luộc khéo léo giữ nguyên được sắc nâu hồng, từng thớ thịt cuộn chặt điểm xuyết những đường gân trong suốt như hổ phách được thái mỏng tang, rơi đều tăm tắp xuống mẹt lót lá chuối tươi. Kế bên là tảng gầu giòn vàng ươm mỡ gà, khi thái ra từng lát mỏng uốn cong mềm mại, vừa ngậy béo lại vừa giòn sần sật. Dưới đôi bàn tay thoăn thoắt và khéo léo của Cúc, từng nhúm hành hoa cọng dài xanh mướt, rau mùi tàu thái chỉ và hành tây thái mỏng như cánh ve được xếp đặt tinh tươm, tạo nên một bức tranh ẩm thực hài hòa, bắt mắt.

Trời bắt đầu tang tảng sáng. Màn sương muối mờ ảo bao phủ khắp các mái ngói âm dương của phố cổ dần tan biến khi tiếng còi tàu từ ga Long Biên xa xa vọng lại, báo hiệu một ngày mưu sinh tất bật mới bắt đầu.

Đúng năm giờ rưỡi, vị khách đầu tiên bước tới. Đó là bác phu xe kéo bốc vác đêm ở bến sông Hồng hôm nọ. Bác mặc chiếc áo trấn thủ rách mép, hai ống quần xắn cao để lộ bắp chân gân guốc, vừa bước vào hiên quán đã cất giọng sảng khoái “Cô hàng phở ơi! Cho tôi hai bát nạm gầu thật nhiều hành hoa, nước béo nhé! Hôm nay tôi dẫn thêm thằng em cùng tổ cửu vạn đến nếm thử cái vị phở mà mấy hôm nay tôi cứ tấm tắc khen mãi đây!”

Cúc ngẩng lên, nở một nụ cười rạng rỡ, giọng dịu dàng lễ phép: “Dạ, cháu chào bác! Mời hai bác ngồi tạm vào chiếc bàn gỗ góc trong cho đỡ gió ạ. Có phở ngay đây bác ơi!”

Nói rồi, Cúc nhanh nhẹn bốc một vắt bánh phở trắng phau, sợi bánh mềm mướt không hề bở vụn, thả vào chiếc muôi thủng bằng nhôm sáng bóng. Cô nhúng muôi bánh vào nồi nước sôi sùng sục, cổ tay lắc nhẹ ba lần cho sợi phở tơi đều và ráo nước rồi đổ gọn vào lòng chiếc bát miệng loe men lam cổ kính. Phía trên, Cúc rải đều một lớp thịt nạm giòn xen lẫn bắp hoa thái lát mỏng, rắc một nhúm hành hoa chần tái, điểm xuyết vài cọng mùi tàu xanh biếc và một chút ớt chỉ thiên cay nồng.

Cúc cầm chiếc muôi đồng to bản, nghiêng nắp nồi tôn hớt nhẹ lớp váng mỡ vàng óng ánh trên bề mặt, rồi múc một muôi nước dùng sôi lục bục chan đều từ rìa bát vào tâm. Dòng nước dùng trong vắt, nóng bỏng rẫy tưới đẫm lên từng thớ thịt và sợi bánh phở, làm dậy lên một làn khói nghi ngút thơm lừng góc phố.

Tuấn đón lấy hai bát phở nóng hổi từ tay Cúc, đôi tay vững vàng bưng đến tận bàn cho khách: “Mời hai bác xơi phở cho ấm bụng ạ.”

Bác phu xe đón lấy bát phở, hít hà mùi thơm quyến rũ rồi vội vã bẻ đôi chiếc quẩy giòn tan chấm vào nước dùng, húp liền một ngụm lớn. Gương mặt phong trần của bác phu xe bỗng giãn ra đầy sảng khoái trước vị ngọt thanh sâu lắng của tủy xương, khác hẳn thứ nước dùng nồng lợ mì chính rẻ tiền. Bác vỗ đùi đánh đét một cái, tấm tắc khen “Đấy! Chú mày thấy tao nói có sai câu nào không? Phở nó phải thế này chứ! Nước dùng ngọt lịm từ tận xương tủy bò thật, húp đến đâu mát ruột đến đấy, mồ hôi vã ra sảng khoái cả người! Ăn một bát của cô Cúc bõ công gồng gánh cả đêm ngoài bến bãi!”

Người bạn đi cùng cũng vừa lua hết một gắp bánh phở dẻo mềm kèm lát bắp hoa giòn sần sật, gật đầu lia lịa: “Bác nói cấm có sai! Mấy hôm trước tôi trót ghé vào cái tiệm Vạn Lộc to đùng bên kia đường, ăn bát phở của lão Tài mà nuốt không trôi. Nước thì lờ đờ đục ngầu, sặc sụa mùi mì chính hóa học, ăn xong một lúc sau thấy cổ họng khát khô, đầu lưỡi tê buốt cả đi. Lại còn cái thứ thịt bò đông lạnh của mậu dịch để lưu kho cả tháng, thớ thịt bở rục như bã đậu, nhạt toẹt chẳng có tí mùi vị gì. Giá thì đắt mà thái độ con mụ bán hàng thì như bố thí thời tem phiếu. Từ nay cạch mặt tiệm Vạn Lộc, cứ phở gánh cô Cúc mà ăn thôi!”

Lời khen chân thành và mộc mạc của những người lao động vất vả như một luồng gió ấm thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt huyết trong lòng Cúc. Đôi tay cô thoăn thoắt thái thịt, chần bánh, chan nước không ngơi nghỉ.

Từ sáu giờ trở đi, góc hiên quán chè của bà Nhẫn chật kín khách. Tiếng dao nhíp gõ chan chát trên mặt thớt gỗ nghiến giòn giã như một bản nhạc rộn ràng. Tiếng xì xụp ấm nóng của những người ăn phở, tiếng gọi thêm bánh, thêm quẩy, tiếng lách cách của thìa bát chạm vào nhau hòa quyện tạo nên một bầu không khí nhộn nhịp, tươi vui đến lạ kỳ giữa tiết trời đông buốt giá.

Khách ghé ăn mỗi lúc một đông, đủ mọi tầng lớp. Từ những bác xích lô, phu xe kéo bến ga Long Biên, những cô gánh hoa quả chợ Đồng Xuân, đến những cụ già nho nhã mặc áo bông trần cài khuy vải đi tập thể dục sớm quanh bốt nước Hàng Đậu cũng ghé chân vào.

Một cụ ông râu tóc bạc phơ, tay chống chiếc gậy mây, sau khi thưởng thức xong bát phở tái nạm liền nán lại trò chuyện cùng bà Nhẫn. Cụ vuốt chòm râu dài, chậm rãi nói bằng chất giọng Hà Nội gốc trầm ấm “Tôi sống ở đất này hơn bảy mươi năm rồi bà Nhẫn ạ. Từ cái thời phở gánh của cụ Cần rong ruổi khắp phố Hàng Chiếu, Hàng Khoai, tôi đã là khách quen. Nay ăn lại bát phở của cô cháu gái này, tôi nhận ra ngay cái vị thanh tao ngày trước. Phở Hà Nội là phải thanh, nước dùng phải trong, ngọt cái ngọt tự nhiên chứ không được tham lam phụ gia bậy bạ. Con bé giữ được cái tâm, cái nghề của cha nó thế này là đáng quý lắm, đáng quý lắm!”Nghe cụ già khen ngợi, khóe mắt Cúc chợt cay cay. Cô nhớ đến bóng dáng gầy gò của cha bên bếp than hồng những đêm đông thuở trước, nhớ lời dặn dò của ông trước khi nhắm mắt xuôi tay: “Làm nghề nấu phở cho người đời ăn, cốt nhất là cái chữ Tâm con ạ. Người ta bỏ tiền mua miếng ăn, mình không được dối lòng, không được bớt xén gia vị, không được dùng đồ ôi thiu.” Hôm nay, nhìn thấy những nụ cười thỏa mãn và sự trân trọng của thực khách, Cúc hiểu rằng những giọt mồ hôi, những đêm thức trắng cặm cụi nhóm than ninh xương của cô và Tuấn đã được đền đáp xứng đáng.

Tuấn bên cạnh Cúc thoăn thoắt làm việc. Anh không nói nhiều, chỉ lẳng lặng tiếp nước, bưng bê, dọn dẹp bàn ghế và múc từng xô nước mưa sạch để tráng bát. Bước chân anh dù hơi khập khiễng vì vết thương cũ nơi chiến trường, nhưng vô cùng nhanh nhẹn và cẩn thận. Bát đĩa ăn xong đều được anh thu dọn sạch sẽ, tráng qua hai lần nước nóng rồi lau khô bằng khăn vải màn sạch tinh. Nhìn dáng vẻ tận tụy, chu đáo của người lính, Cúc cảm thấy một sự an tâm vững chắc chưa từng có trong đời.

Khi cữ chợ sáng lên đến đỉnh điểm, khách đứng chờ quanh gánh phở ngày càng đông. Những chiếc ghế đẩu con con đã kín chỗ, nhiều người sẵn sàng đứng nép bên bờ tường gạch rêu phong, hai tay bưng bát phở bốc khói nghi ngút để xì xụp thưởng thức.

Trong lúc đưa tay đón chiếc bát rỗng từ một vị khách quen, ánh mắt Cúc vô tình quét qua bên kia ngã tư đường. Nụ cười trên môi cô bỗng chốc ngưng bặt.

Phía đối diện, dưới tấm biển hiệu gỗ sơn đỏ bong tróc đề dòng chữ “Tiệm Phở Vạn Lộc”, một bóng người đang đứng sừng sững bên bậu cửa sắt hoen rỉ. Đó chính là lão Tài.

Lão trạc chừng ngoài bốn mươi, người béo lùn, cái bụng phệ nhô hẳn ra ngoài vạt áo khoác bông cổ lông màu cứt ngựa đã sờn cũ. Hai bàn tay mập mạp đeo đầy nhẫn vàng to bản khoanh chặt trước ngực. Đôi mắt ti hí dưới cặp lông mày rậm xếch ngược của lão dán chặt vào gánh phở của Cúc như hai ngọn lửa căm hờn. Nhìn sang tiệm ăn của lão, cảnh tượng hoàn toàn trái ngược: cả gian nhà mặt phố thênh thang kê đầy bàn ghế gỗ quét sơn bóng loáng lại vắng tanh vắng ngắt. Lác đác chỉ có đôi ba người khách qua đường bước vào, nhưng chỉ một lúc sau đã lắc đầu quầy quậy bước ra, vẻ mặt đầy khó chịu.

Khuôn mặt phị thịt của lão Tài giật giật từng hồi. Ánh mắt lão bắn thẳng về phía Cúc, độc địa, lạnh lẽo và chứa đầy sự đố kỵ hằn học. Bên cạnh lão, gã thanh niên mặc chiếc áo gió sẫm màu trùm mũ kín mít – kẻ đã rình mò mẹ con cô sáng sớm nay – đang khúm núm ghé tai thì thầm điều gì đó. Lão Tài vừa nghe vừa gật đầu lia lịa, môi bặm lại thành một đường chỉ mỏng tàn nhẫn, bàn tay mập ú siết chặt lại thành nắm đấm.

Cúc bất giác rùng mình, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Dù đã lường trước việc buôn bán tự do thời buổi này sẽ vấp phải sự ganh ghét, nhưng khi trực tiếp đối diện với ánh mắt hung hiểm của kẻ từng làm mưa làm gió chốn mậu dịch ấy, cô vẫn không khỏi cảm thấy rợn người.

Đúng lúc ấy, bà Bảy bán rau củ đầu chợ Đồng Xuân – một khách quen thường ngày vẫn gánh rau qua đây – ghé vào ăn phở chín. Ăn xong bát phở nóng, bà Bảy trả tiền, rồi vờ đứng lại lau miệng, ghé sát tai Cúc hạ giọng thì thào đầy vẻ bí mật “Này cô Cúc, tôi bảo cái này cô phải hết sức cẩn thận nhé!”

Cúc giật mình, vội nghiêng tai lắng nghe: “Có chuyện gì thế bác Bảy?”

Bà Bảy đảo mắt nhìn quanh quất, thấy không có ai để ý mới bấm nhẹ vào tay Cúc, nói nhỏ: “Sáng sớm nay, lúc gần bốn giờ tôi sang bên lò mổ lấy mối rau cải, tận mắt tôi thấy thằng tay sai của lão Tài bên Vạn Lộc lượn lờ ở dãy hàng thịt bò đấy! Nó lân la đến chỗ bác thợ mổ râu quai nón, dò hỏi xem dạo này cô Cúc nhập thịt bắp, mua xương ống của ai, mỗi ngày lấy bao nhiêu cân, giá cả thế nào. Lại còn nghe ngóng xem cô đặt bánh phở của lò nào nữa!”

Tim Cúc thót lại một cái: “Thế bác thợ mổ có nói gì không hả bác?”

Bà Bảy bĩu môi một cái, xua tay: “Bác thợ mổ già là bạn thân của cụ Cần ngày xưa, tính tình cương trực lắm, đời nào bác ấy thèm hé răng nửa lời với cái quân bẩn thỉu ấy! Bác ấy chửi đuổi thẳng cổ thằng ranh con đi rồi. Nhưng mà cô Cúc này, tôi lạ gì tính thằng Tài Vạn Lộc. Thời bao cấp nó làm cửa hàng trưởng ăn uống mậu dịch, thói cửa quyền hách dịch đã ngấm vào máu. Nay mở tiệm tư nhân, nó cậy có tiền, lại quen thói bao sân chèn ép người khác. Thấy gánh phở của cô đông khách, cướp hết mối của quán nó, đời nào nó chịu ngồi yên chịu trận! Nó đang tìm cách chặt đứt các mối hàng tươi ngon của cô đấy. Cô phải hết sức cẩn thận, nhớ trông chừng gánh hàng cho kỹ vào!”

“Cháu cảm ơn bác Bảy đã mách nước ạ,” Cúc khẽ thở dài, trong lòng dấy lên bao mối âu lo ngổn ngang.

Bà Bảy vừa quẩy đôi thúng rau đi khuất thì bà Nhẫn bế bé Mây bước sang. Thấy vẻ mặt thất thần, âu lo của Cúc, bà Nhẫn liền đặt bé Mây ngồi lên chiếc ghế đẩu, khẽ nhíu đôi lông mày bạc “Có chuyện gì thế Cúc con? Con bé Bảy nó vừa rỉ tai chuyện gì mà mặt mày con xanh xao thế kia?”

Cúc không giấu giếm, đem toàn bộ câu chuyện bà Bảy vừa kể và bóng đen rình mò rạng sáng nay thuật lại cho bà Nhẫn nghe.

Nghe xong, gương mặt phúc hậu của bà Nhẫn lập tức đanh lại. Bà thở dài một tiếng, đôi mắt từng trải nhìn xoáy sang tiệm phở Vạn Lộc bên kia ngã tư đường “U đã ngờ ngợ từ mấy hôm trước rồi, quả nhiên không sai một ly. Thằng Tài ấy lòng lang dạ thú, lọc lõi và nham hiểm có tiếng ở cái đất chợ Đồng Xuân này. Ngày xưa thời tem phiếu, bao nhiêu thịt phe phẩy, gạo ngon nó đều tuồn ra chợ đen bỏ túi riêng. Bây giờ cơ chế Đổi Mới, buôn bán tự do bung ra, nó cậy có vốn to thâu tóm cái kiốt mặt phố, tưởng một tay che nổi bầu trời. Ai ngờ gánh phở của con tay nghề vượt trội, nước dùng thanh khiết đánh bại cái thứ phở hóa chất của nó, khiến quán nó ế sưng ế sỉa ra đấy. Loại người như nó, thấy người khác hơn mình là lồng lộn lên như phải bỏng, quen thói chèn ép người làm ăn lương thiện rồi!”

Bà Nhẫn nắm lấy bàn tay gầy gò, chai sần của Cúc, siết nhẹ như muốn truyền thêm hơi ấm và sự can đảm: “Con phải hết sức cẩn thận con ạ. Từ nguồn thịt, cọng hành, đến giọt nước dùng ninh qua đêm, đi đâu làm gì cũng phải có người canh gác cẩn mật. Đừng để nó giở trò tiểu nhân hãm hại.”

Tuấn vừa bưng một chồng bát sạch từ bồn nước bước lên, đặt ngay ngắn vào thùng gỗ. Dường như đôi tai thính nhạy của người lính từng trải nơi chiến trường đã giúp Tuấn nghe không sót một lời nào từ nãy đến giờ. Anh bước tới trước mặt hai người phụ nữ, dáng đứng thẳng tắp như cây tùng trước gió bấc. Ánh mắt anh trầm tĩnh, kiên định như mặt nước hồ mùa đông, nhưng sâu bên trong là ngọn lửa bảo vệ mãnh liệt “U và cô Cúc đừng quá lo lắng. Có tôi ở đây rồi. Chuyện mưu sinh lương thiện của mẹ con cô Cúc, tôi quyết đem cả tính mạng này ra để gìn giữ. Kẻ nào đàng hoàng đến ăn, chúng ta niềm nở đón tiếp; còn nếu đứa nào dám giở trò ma mãnh, đê tiện hòng phá hoại nồi nước dùng hay làm hại đến mẹ con cô, tôi nhất định sẽ không để yên cho chúng!”

Giọng nói của Tuấn không lớn, nhưng từng lời từng chữ thốt ra đều chắc nịch, đanh thép tựa như tiếng kim loại va vào đá tảng. Cúc ngước nhìn người đàn ông trước mặt, lồng ngực dâng lên một luồng cảm xúc ấm áp lạ kỳ. Đôi mắt sâu trầm mặc của anh như một bến đỗ bình yên, xua tan đi phần nào nỗi sợ hãi đang bủa vây tâm trí cô. Giữa chốn phố chợ bon chen đầy cạm bẫy này, có được một người đồng hành trung thực, can trường như Tuấn chính là ân huệ lớn nhất mà ông trời đã ban tặng cho hai mẹ con cô sau những tháng ngày cơ cực, tang tóc.

Cúc nhìn con gái nhỏ đang ngồi ngoan ngoãn trên ghế, đôi tay thơ dại vụng về v**t v* chú chim sẻ gỗ, miệng khẽ lẩm bẩm hát một khúc đồng dao ngây ngô. Cô tự nhủ với lòng mình, dù phía trước có phong ba bão táp đến nhường nào, dù những kẻ xấu xa có giở trăm phương nghìn kế hãm hại, cô cũng phải kiên cường đứng vững. Bát phở này là di sản của cha, là mồ hôi nước mắt của cô và Tuấn, là miếng cơm manh áo để nuôi nấng con gái nên người. Cô tuyệt đối không thể lùi bước!

Bà Nhẫn thở dài một tiếng xót xa, đưa bàn tay ấm áp vỗ nhè nhẹ lên đôi vai gầy guộc của Cúc, giọng bà chùng xuống đầy lo ngại “Thôi thì cứ cẩn tắc vô áy náy con ạ. Ở cái đất chợ búa này, một tấc đất một tấc vàng, người ngay thì ít mà kẻ gian xảo thì nhiều như rươi. Lão Tài không chỉ có tiền, mà nghe đâu sau lưng nó còn có cả đám du côn bến bãi chống lưng, bọn chúng...”

Lời cảnh báo của bà Nhẫn còn chưa dứt thì ngoài đầu ngõ bỗng vang lên tiếng nẹt pô ầm ĩ của mấy chiếc xe máy Simson đang lượn vòng thị uy!

Tiếng động cơ gầm rú xé toạc bầu không khí tĩnh lặng của buổi sáng mùa đông. Tiếng bóp còi inh ỏi kèm theo những cú vặn ga khét lẹt khiến người đi đường hoảng hốt dạt hết sang hai bên mép cống. Khói xăng xả ra mù mịt, nồng nặc mùi dầu khét lẹt, cuộn tròn rồi xộc thẳng vào góc ngõ Hàng Khoai, cuốn theo những ánh nhìn hung hãn, ngạo ngược đang chĩa thẳng về phía gánh phở nhỏ bé của Cúc.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.