Chương 7: Mẩu Gọt Gỗ Và Tiếng Cười Trẻ Thơ
Dưới bóng râm nhạt của mái hiên quán nước chè, ánh mắt Trần Tuấn bắt gặp một tia nhìn buốt lạnh phóng tới từ bên kia ngã tư Hàng Khoai giao cắt với phố Hàng Lược.
Bản năng cảnh giới được trui rèn qua những năm tháng nằm hầm nơi bình độ Vị Xuyên khiến sống lưng anh giật thót một cái. Anh khẽ nghiêng người, chân bước chệch sang nửa bước để bờ vai vuông vức trong tấm áo trấn thủ trần trám che khuất tầm nhìn nhắm thẳng vào bóng lưng gầy gò của Cúc.
Qua làn bụi mờ của dòng người bắt đầu tấp nập buổi sớm, Tuấn nhìn rõ gã đàn ông béo xị mặc chiếc áo khoác bông cổ lông mờ ám đang đứng trước cửa tiệm phở Vạn Lộc. Lão Tài siết chặt hai bàn tay hộ pháp, chiếc nhẫn vàng to bản trên ngón tay béo múp hằn lên dưới ánh sáng ban ngày. Cặp mắt ti hí như mắt lươn của lão nheo lại, găm vào gánh hàng vừa vơi sạch của Cúc với một vẻ hằn học không buồn giấu giếm. Đôi môi thâm sì của lão mấp máy như vừa buông một câu rủa ngầm, rồi lão quay ngoắt người, xốc vạt áo đi thẳng vào trong gian quán u tối, nơi những chiếc bàn gỗ tạp chỉ lác đác vài ba vị khách ngồi chán chường.
Tuấn khẽ nheo mắt, thu trọn từng cử động của lão vào tầm quan sát. Anh không lên tiếng, cũng không để lộ ra vẻ căng thẳng làm Cúc và bà Nhẫn phải bận lòng. Đối với một người lính đã từng đối mặt với họng súng bắn tỉa và những trận pháo kích tơi bời trên sườn núi đá vôi, cái lườm nguýt đầy đố kỵ của một tay mậu dịch viên lọc lõi nơi phố chợ chưa đủ làm anh nao núng. Nhưng sự nham hiểm lẩn khuất sau dáng vẻ xum xoe giả tạo ấy lại là một mối hiểm họa ngầm cần phải đề phòng.
“Anh Tuấn đỡ giúp tôi cái thùng này xuống bậu cửa với nhé,” tiếng Cúc cất lên nhẹ nhàng, kéo Tuấn trở về với thực tại êm ả.
“Vâng, để tôi làm cho.” Tuấn đáp ngắn gọn, cúi xuống thoăn thoắt xếp gọn những chiếc ghế đẩu con con, xếp bát đĩa đã rửa sạch vào ngăn gỗ rồi cùng Cúc thu dọn gánh hàng chuẩn bị cho buổi làm việc chính thức vào sáng hôm sau.
Ba giờ sáng ngày hôm sau.
Tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc điểm ba tiếng trầm đục, ngân dài trên những vòm cây xà cừ rụng lá trơ trụi. Gió mùa đông bắc vẫn thốc từng cơn tê tái qua những ngõ ngách sâu hun hút của khu phố cổ. Mặt đường Hàng Khoai loang loáng nước rỉ ra từ những sọt rau củ của chợ đêm, nhớp nháp và buốt lạnh thấu xương.
Tuấn đã thức dậy từ trước đó nửa tiếng trong gian chái củi chật chội gần bốt nước Hàng Đậu. Vết thương do mảnh đạn cối găm sâu ở bắp chân phải lại nhức buốt âm ỉ theo từng đợt gió lạnh luồn qua khe liếp. Anh ngồi trên mép phản gỗ nén tiếng thở dài, dùng hai bàn tay thô ráp xoa bóp thật kỹ vùng sẹo lồi thâm tím cho đến khi bắp thịt nóng ran lên mới xỏ chân vào đôi dép cao su đúc. Khoác lên mình chiếc áo trấn thủ quen thuộc, Tuấn cài then cửa gỗ cẩn thận rồi rảo bước nhanh về phía xóm trọ của Cúc.
Ngõ sâu tối om, chỉ có ánh đèn dầu tù mù hắt qua khe cửa liếp của gian nhà nhỏ cuối dãy. Tuấn gõ nhẹ ba tiếng cộc, cộc, cộc vào cánh cửa gỗ ọp ẹp.
“Ai đấy ạ?” Tiếng Cúc vọng ra, có phần cảnh giác.
“Tôi đây, Tuấn đây cô Cúc.”
Cánh cửa khẽ kẹt mở. Ánh sáng vàng vọt từ cây đèn dầu hoa kỳ rọi lên gương mặt thanh tú nhưng còn vương nét mệt mỏi của người thiếu phụ. Cúc vấn tóc gọn gàng sau gáy bằng chiếc cặp ba lá, vạt áo bông sờn cài kín cổ. Thấy Tuấn đứng nghiêm trang trước bậu cửa đúng giờ như một chiếc đồng hồ lên dây cót, khóe môi cô khẽ giãn ra thành một nụ cười ấm áp “Anh Tuấn đến sớm thế. Gió lạnh thế này mà anh đi bộ từ bên bốt nước sang chắc buốt lắm. Mời anh vào nhà uống tạm ngụm nước ấm cho đỡ cóng.”
“Tôi quen dậy sớm rồi, không lạnh đâu cô,” Tuấn bước qua bậu cửa, đảo mắt nhìn quanh một lượt.
Căn phòng trọ rộng chừng mười mét vuông sạch sẽ đến mức tinh tươm. Trên chiếc giường tre kê sát góc tường, bé Mây vẫn đang cuộn tròn như một chú mèo con dưới lớp chăn bông trần đã ngả màu cháo lòng, chỉ để lộ ra chỏm tóc tơ đen nhánh và hơi thở đều đặn, non nớt. Chiếc đòn gánh tre đực hun khói và đôi thùng gỗ thông già đã được cọ rửa sạch bong, xếp ngay ngắn bên cạnh bếp than tổ ong đang ủ trấu liu riu.
Không để lãng phí một phút nào, Tuấn xắn cao tay áo, cất giọng trầm thấp “Việc nặng cứ để tôi làm. Cô Cúc chỉ chỗ bể nước và chỗ để xương, tôi đi gánh nước trước.”
“Dạ, giếng nước khơi của xóm ở ngay chỗ gốc cây bàng rẽ trái ra sân chung đấy anh. Tôi có để sẵn đôi xô tôn ở góc hiên.” Cúc khẽ nói, ánh mắt ái ngại nhìn xuống bước chân hơi tập tễnh của anh: “Anh gánh vừa sức thôi nhé, đường trơn lắm đấy.”
“Cô cứ yên tâm.”
Tuấn cầm đôi xô tôn bước ra khoảng sân chung ẩm thấp. Miệng giếng khơi phủ đầy rêu xanh trơn trượt, nước giếng sâu hun hút bốc lên hơi lạnh ngắt. Đôi bàn tay chai sạn của người lính công binh năm nào thoăn thoắt quăng gầu dây xuống lòng giếng sâu, kéo từng gầu nước đầy ắp lên miệng giếng mà không để phát ra một tiếng va quệt mạnh nào làm kinh động đến giấc ngủ của các hộ xung quanh. Đôi thùng tôn đầy sóng sánh được anh móc vào đòn gánh, nhẹ nhàng nhấc bổng lên vai.
Dù bắp chân phải nhói buốt mỗi khi gót chân chạm xuống mặt nền xi măng lồi lõm, Tuấn vẫn giữ lưng thẳng tắp, bước đi vững chãi như đang hành quân qua bãi lầy. Chỉ trong vòng mười lăm phút, chiếc chum sành lớn cạnh vách đất đã được đổ đầy tràn nước ngọt trong vắt, không vương vãi một giọt ra sàn.
Xong việc gánh nước, Tuấn quay vào góc bếp thì thấy Cúc đang loay hoay trước cái chậu nhôm lớn chứa đầy những gióng xương ống bò tơ còn tươi rói được người quen bên lò mổ ven sông Hồng chở sang giao từ sớm. Khúc xương ống to bản, đặc quánh tủy trắng ngà, trên tay Cúc chỉ có một chiếc dao chặt mỏng mảnh bằng thép nhíp.
“Đưa đây tôi pha cho,” Tuấn bước lại gần, chìa bàn tay to bè ra. “Xương bò tơ phải chém dứt khoát thì tủy mới giữ nguyên mà không bị nát vụn thành dăm xương.”
Cúc ngập ngừng trao chiếc búa sắt nhỏ và con dao chặt to bản cho anh: “Xương cứng lắm đấy anh Tuấn, anh cẩn thận kẻo trượt tay.”
Tuấn khẽ cười. Bàn tay anh đặt từng gióng xương lên súc gỗ nghiến dày cộp dùng làm thớt. Ánh mắt anh tập trung cao độ, cánh tay cuồn cuộn gân guốc giơ cao búa sắt nện xuống sống dao.
Cốp! Cốp!
Từng nhát búa hạ xuống chuẩn xác, gọn gàng và dứt khoát. Tiếng xương gãy giòn tan vang lên đều đặn. Từng khúc xương ống vỡ đôi để lộ ra lớp tủy béo ngậy hồng hào bên trong, các mép chặt phẳng lì không hề có mảnh dăm vụn nào vương vãi. Tuấn làm việc với một tác phong quân ngũ thuần thục, nhanh gọn đến mức Cúc đứng bên cạnh chỉ biết tròn xoe đôi mắt bồ câu, khẽ thốt lên thán phục “Anh chặt khéo quá! Hôm qua một mình tôi chặt đến sái cả cổ tay mà khúc xương vẫn cứ trơ ra, vỡ toe toét cả dăm.”
“Ở mặt trận, chúng tôi phải mở đường công sự, phát tuyến xuyên rừng, việc dùng búa dùng xẻng là cơm bữa,” Tuấn vừa lau sạch lưỡi dao vừa đáp, giọng bình thản. “Khâu sơ chế này cốt ở chỗ giữ cho tủy nguyên vẹn, lúc ninh lâu mới thôi ra hết chất ngọt thanh được.”
Sau khi chặt xong hơn một yến xương bò, Tuấn ngồi xổm bên lò than, chăm chú theo dõi từng động tác của Cúc.
Anh chưa từng thấy người phụ nữ nào nấu nướng với một thái độ cung kính và nghiêm cẩn đến thế. Cúc bắc một nồi nước sôi lớn trên bếp than, thả toàn bộ số xương ống vừa chặt vào chần sơ qua cùng một nhánh gừng đập giập và chút muối hạt. Khi nước sôi ùng ục cuộn lên lớp bọt đen nhớp nháp của máu đọng, cô nhanh tay vớt toàn bộ xương ra chiếc chậu đồng cũ, mang ra vòi nước xối rửa tỉ mỉ từng ngóc ngách cho đến khi những khúc xương trắng tinh, không còn vương một chút màng mỡ bẩn nào.
Nồi ninh chính bằng tôn gò dày dặn được đặt lên bếp than tổ ong. Lần này, Tuấn phụ trách phần thông gió. Anh dùng thanh sắt cời xỉ than, khéo léo kê hai viên gạch chỉ dưới đáy lò tạo thành rãnh đối lưu chuẩn xác như cách làm bếp Hoàng Cầm năm xưa, giữ cho ngọn lửa than đỏ rực mà không bốc khói cay nồng.
Nước mưa trong chum sành được đổ ngập mặt xương. Khi nồi nước bắt đầu sôi tăm tắp, Cúc kéo chiếc ghế đẩu con con ngồi sát bên cạnh. Đôi mắt nâu hiền dịu của cô dán chặt vào mặt nước đang chuyển động lăn tăn. Cứ vài phút, trên mặt nước lại nổi lên những chấm bọt li ti màu xám nhạt. Cúc cầm chiếc muôi nhôm nhỏ, nhẹ nhàng nghiêng cán, hớt từng váng bọt mỏng tanh gạt ra chiếc âu sành đặt bên cạnh. Động tác của cô mềm mại, uyển chuyển như một người thợ thêu đang luồn từng sợi chỉ trên mặt lụa.
“Nước dùng phở bò kinh kỳ không được phép đục, anh Tuấn ạ,” Cúc khẽ thì thầm như sợ làm kinh động đến sự tĩnh lặng của gian bếp nhỏ, đôi mắt phản chiếu ánh lửa than bập bùng: “Thầy tôi ngày xưa dạy, người nấu phở mà lười biếng, để bọt sôi trào cuộn ngược vào trong tủy thì nồi nước coi như hỏng một nửa. Vị ngọt tủy bò phải trong vắt, thanh tao, ăn vào thấy ngọt lịm ở cuống họng chứ không phải ngọt sắc gắt của mì chính hay đường hóa học.”
Tuấn ngồi lặng lẽ lắng nghe. Hơi ấm từ nồi nước dùng bốc lên, mang theo hương thơm ngào ngạt của quế chi nướng vàng, cánh hoa hồi sấy khô, thảo quả đập giập và mấy con sá sùng khô rang thơm đáy chảo mà Cúc vừa thả vào trong một chiếc túi vải màn buộc túm miệng. Làn khói thơm thanh khiết ấy xua tan đi cái lạnh lẽo ẩm mốc của gian phòng trọ xập xệ, quẩn quanh nơi cánh mũi khiến lòng người ta chùng xuống, cảm thấy một nỗi bình yên đến lạ kỳ.
Nhìn dáng vẻ cặm cụi, tỉ mỉ của Cúc, Tuấn thầm cảm phục. Giữa thời buổi kinh tế thị trường mới mở cửa, người người đua nhau làm ăn chụp giật, tìm cách độn thêm bột sắn vào bánh phở, pha thêm đường hóa học và bột ngọt rẻ tiền vào nước dùng như tiệm Vạn Lộc bên kia ngã tư để kiếm lời nhanh chóng, thì người phụ nữ trẻ này vẫn kiên định ôm giữ từng lời dạy nghiêm khắc của người cha quá cố. Đó không chỉ là kế sinh nhai, mà là cái tâm, cái đạo của người làm nghề.“Cô Cúc thật có hoa tay,” Tuấn bỗng cất lời, giọng trầm ấm chân thành: “Hương phở này, nếu ở mặt trận mà ngửi thấy, chắc lính chúng tôi quên hết cả mệt mỏi.”
Cúc ngẩng lên, hai má ửng hồng dưới ánh lửa than hồng. Cô cười e ấp: “Anh Tuấn cứ khen quá lời. Tôi chỉ mong sao nấu được bát phở tử tế, để người lao động bình dân ăn vào ấm bụng, có sức mà mưu sinh. Ngày xưa thầy tôi bảo, bát phở gánh rong là của người nghèo, bán đắt hay gian dối thì trời không chứng, đất không dong.”
Hai người phối hợp với nhau nhịp nhàng như đã từng chung lưng đấu cật từ nhiều năm trước. Một người cẩn thận nếm từng muỗng nước dùng, gia giảm vài hạt muối hột và chút nước mắm cốt cá cơm vàng óng; một người thoăn thoắt lau từng chiếc bát men lam Hải Dương, sắp xếp những đôi đũa tre già vào ống nứa, xếp từng chiếc ghế đẩu gỗ thông vào ngăn chứa của thùng gánh. Kỷ luật ngăn nắp của người lính kết hợp hoàn hảo với sự khéo léo của người phụ nữ Hà thành, khiến gian buồng trọ chật chội bỗng trở nên gọn gàng, ấm cúng lạ thường.
Gần bốn giờ ba mươi sáng.
Từ trên chiếc giường tre, một tiếng cựa mình khe khẽ vang lên. Chiếc chăn bông cộm lên một khối nhỏ, rồi một cái đầu bù xù nhô ra. Bé Mây đã thức giấc.
Cô bé bốn tuổi dụi dụi đôi mắt to tròn đen láy, ngơ ngác nhìn quanh. Nhìn thấy trong nhà có một người đàn ông cao lớn lạ mặt đang ngồi chồm hổm bưng chồng bát sành, cô bé giật mình, vội vàng tụt xuống giường rồi ba chân bốn cẳng chạy vội về phía mẹ, nép chặt sau tà áo bông sờn của Cúc. Đôi bàn tay nhỏ xíu bấu chặt lấy gấu váy mẹ, đôi mắt tròn xoe ánh lên vẻ sợ hãi xen lẫn tò mò nhìn chằm chằm vào người lính lạ.
“Mây dậy rồi đấy à con?” Cúc đặt muôi nước dùng xuống, cúi người xoa đầu con gái, âu yếm dỗ dành: “Đừng sợ con. Chú Tuấn đấy mà. Chú Tuấn tốt bụng sang phụ mẹ nhóm bếp, gánh hàng cho mẹ con mình đấy. Con chào chú đi.”
Bé Mây vẫn không chịu bước ra, chiếc cằm nhỏ rụt sâu vào cổ áo len đỏ sờn tay, nép sau lưng Cúc như một chú chim non sợ gió rét. Đôi mắt con bé cứ lấm lét nhìn vào vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt góc cạnh sạm đen vì sương gió chiến trường và vết sẹo dài mờ mờ nơi bắp chân Tuấn.
Tuấn khẽ sững lại. Anh nhìn thấy sự e dè trong mắt đứa trẻ, trái tim người lính bỗng chùng xuống một nhịp xót xa. Anh biết vẻ ngoài thô ráp, đôi mắt trầm lặng ít cười của mình cùng chiếc chân khập khiễng dễ khiến một đứa trẻ bốn tuổi sợ hãi. Người lính vụng về đứng dậy, lúng túng nhìn đôi bàn tay to bè đầy vết chai sần của mình, không biết phải dỗ dành con bé thế nào.
Bất chợt, ánh mắt anh chạm phải đống củi thông vụn nằm ở góc nhà—những mẩu gỗ thừa Cúc nhặt nhạnh về để nhóm lò. Trong đó có một mẩu gỗ thông vàng ruộm, thớ mịn và khô ráo.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu. Tuấn khẽ mỉm cười, bước lại góc nhà nhặt mẩu gỗ thông nhỏ bằng nắm tay đứa trẻ lên. Anh ngồi xuống bậu cửa, rút từ túi áo trấn thủ ra một con dao nhíp nhỏ—vật bất ly thân của lính công binh dùng để gọt dây cháy chậm và đẽo cán xẻng năm xưa.
Lưỡi dao thép mỏng bén ngót lướt nhẹ trên thớ gỗ thông mềm mại. Dưới bàn tay thoăn thoắt của Tuấn, từng dải phoi gỗ mỏng như cánh ve uốn cong rơi lả tả xuống mặt đất, tỏa ra một mùi nhựa thông thơm ngai ngái, dễ chịu.
Tiếng soạt… soạt… nhịp nhàng của lưỡi dao gọt gỗ lập tức thu hút sự chú ý của bé Mây. Từ sau lưng mẹ, cái đầu nhỏ lắc lư hai chỏm tóc tơ dần dần thò ra. Đôi mắt đen láy mở to, chăm chú nhìn theo từng đường lượn khéo léo của đôi bàn tay thô ráp.
Chỉ mất chừng mười phút, khối gỗ vô tri đã dần biến đổi hình hài. Dưới mũi dao nhíp của Tuấn, một chiếc ức tròn xoe ngộ nghĩnh hiện ra, tiếp đến là cái đuôi nhỏ vểnh cao, đôi cánh khép hờ bên sườn và chiếc mỏ nhọn xinh xắn. Đó là một chú chim sẻ bằng gỗ thông béo tròn, sống động như thật.
Tuấn tỉ mẩn dùng sống dao cạo nhẵn từng góc cạnh, thổi sạch lớp bụi gỗ bám trên lưng chim rồi dùng một mảnh vải mềm chà xát cho đến khi mặt gỗ bóng loáng, nhẵn thín, đảm bảo không còn một chiếc dằm nhỏ nào có thể làm xước làn da non nớt của cô bé.
Anh từ từ hạ thấp người xuống ngang tầm mắt đứa trẻ, xòe lòng bàn tay to bè ra, đặt chú chim sẻ gỗ nhỏ xíu lên trên rồi khẽ mỉm cười “Bé Mây nhìn này. Chú chim sẻ này biết bay đấy nhé. Nó không sợ rét đâu, nó đến để giữ nhà và canh giấc ngủ cho Mây đấy. Mây có muốn cầm thử không?”
Giọng nói của Tuấn trầm ấm, dịu dàng khác hẳn vẻ ngoài gai góc của anh. Ánh mắt anh nhìn đứa trẻ tràn ngập sự trìu mến, ấm áp như ánh lửa than trong lò.
Bé Mây nín thở, đôi mắt tròn xoe dán chặt vào chú chim gỗ xinh xắn. Sự tò mò và niềm thích thú trẻ thơ nhanh chóng đánh bạt nỗi sợ hãi ban đầu. Con bé ngước nhìn mẹ Cúc như để dò hỏi ý kiến. Thấy mẹ gật đầu mỉm cười khích lệ, Mây rụt rè bước từng bước nhỏ ra khỏi chỗ nấp sau lưng mẹ.
Bàn tay nhỏ xíu, mềm mại như búp măng của cô bé chìa ra, cẩn thận nhấc chú chim sẻ gỗ khỏi lòng bàn tay thô ráp của Tuấn. Mặt gỗ thông nhẵn bóng, ấm áp trong lòng bàn tay nhỏ nhắn. Mây v**t v* cái mỏ nhọn, sờ vào đôi cánh nhỏ xíu rồi áp chú chim vào má mình.
“A! Chim sẻ đẹp quá!” Bé Mây reo lên, khuôn mặt bầu bĩnh bừng sáng: “Mẹ ơi, chú làm con chim sẻ đẹp quá này!”
Tiếng cười giòn tan, trong trẻo như tiếng chuông bạc của đứa trẻ vang lên giữa gian phòng trọ nhỏ hẹp, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của đêm đông tàn úa. Con bé ôm chặt món đồ chơi vào ngực, ngước đôi mắt trong veo nhìn Tuấn, rồi cất giọng líu lo không một chút ngập ngừng “Cháu cảm ơn chú Tuấn ạ! Chú chim sẻ này tên là gì hả chú Tuấn?”
“Nó tên là Sẻ Nâu, nó sẽ ở đây chơi với Mây mỗi ngày,” Tuấn đáp, khóe mắt anh bỗng thấy cay cay.
Anh quỳ một chân xuống sàn nhà xi măng lạnh buốt, nhưng trong lồng ngực lại dâng trào một làn sóng ấm áp mãnh liệt chưa từng có. Bao nhiêu năm lăn lộn trên chiến trường ác liệt, chứng kiến bao cảnh đổ nát hoang tàn, đôi bàn tay anh chỉ quen cầm súng đạn, cầm xẻng đào công sự và vuốt mắt cho những người đồng đội vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu núi thẳm. Chưa bao giờ anh nghĩ rằng, đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo này lại có thể làm nên một món đồ chơi nhỏ bé, đem lại tiếng cười thuần khiết đến nhường ấy cho một đứa trẻ thơ.
Tiếng gọi “chú Tuấn” ngọt ngào của bé Mây như một dòng suối mát lành tưới tắm vào tâm hồn cằn cỗi, chằng chịt vết thương của người lính phục viên. Giây phút ấy, Tuấn nhận ra rằng, đây chính là sự bình yên mà anh hằng tìm kiếm bấy lâu nay. Không phải danh vọng, không phải tiền tài, mà là hơi ấm tình người mộc mạc, là tiếng cười trẻ thơ rộn rã bên ngọn lửa than hồng.
Nhìn khóe mắt rưng rưng ngấn lệ của Cúc bên bậu cửa bếp, Tuấn hiểu người phụ nữ góa bụa này hẳn đã phải nén chặt bao nỗi cô quạnh suốt hai năm qua. Sự có mặt vụng về của anh dường như đã phần nào xua bớt nỗi ảm đạm trong căn buồng trọ nhỏ.
“Thôi nào Mây, để chú Tuấn còn làm việc giúp mẹ,” Cúc khẽ lau giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi, nhẹ nhàng nhắc nhở: “Con ra rửa mặt nước ấm rồi ngồi ngoan chơi với chim sẻ nhé, mẹ chuẩn bị dọn hàng ra ngõ đây.”
“Vâng ạ!” Bé Mây líu lo vâng lời, tay vẫn nắm chặt chú chim sẻ gỗ không rời nửa bước.
Đồng hồ điểm năm giờ sáng. Nồi nước dùng đã đạt độ ngọt đậm đà nhất sau nhiều tiếng ninh hầm cẩn thận. Mùi thơm của quế, hồi, thảo quả và tủy bò quyện đặc trong không gian.
Tuấn thoăn thoắt dập bớt cửa gió của bếp than, đặt nồi tôn nước dùng đã đậy nắp thật chặt lên một bên thùng gỗ thông, đầu kia là chiếc thùng đựng bát đĩa, giấm tỏi, hành hoa và những tảng thịt bắp bò luộc chín thơm phức.
“Để tôi gánh cho,” Tuấn bước tới, vai trái tỳ vào chiếc đòn gánh tre đực hun khói, nhẹ nhàng nhấc bổng đôi quang gánh nặng trịch lên vai một cách vững vàng. “Cô Cúc chỉ việc xách cái làn đựng rau và bế bé Mây thôi. Chân cô còn đau, tuyệt đối không được gánh nặng.”
Cúc nhìn tấm lưng rộng vững chãi của anh, lòng dâng lên niềm biết ơn sâu sắc: “Vâng, làm phiền anh quá.”
Tuấn bước ra khỏi cửa ngõ, bước chân vững chắc nhịp nhàng theo nhịp đòn gánh đàn hồi. Không khí buổi sớm buốt lạnh phả vào mặt, nhưng trong lồng ngực anh ngọn lửa nhiệt huyết đang bừng cháy. Anh đi trước dẫn đường, Cúc dắt tay bé Mây ríu rít bước theo sau, hướng về phía đầu ngõ Hàng Khoai—nơi quán nước chè của bà Nhẫn đã bắt đầu đỏ lửa chờ đón họ.
Thế nhưng, khi vừa bước qua khúc quanh ngõ tối dẫn ra cột đèn đường rỉ sét đầu phố, bản năng trinh sát của Tuấn bỗng giật thót.
Dưới ánh sáng vàng vọt lờ mờ của ngọn đèn cao áp, bên cạnh gốc xà cừ cổ thụ đối diện cột điện xi măng, một bóng đen cao gầy đang đứng nép mình trong góc khuất. Kẻ đó mặc chiếc áo khoác gió sẫm màu trùm mũ kín mít, hai mắt láo liên nhìn chằm chằm vào đôi thùng phở trên vai Tuấn và dáng đi của Cúc.
Ngay khoảnh khắc Tuấn dừng bước, ánh mắt sắc lẹm như lưỡi lê của anh quét thẳng vào góc tối, bóng đen kia hoảng hốt lùi lại một bước. Nhận ra mình đã bị phát hiện, gã vội vã quay ngoắt người, co cẳng chạy thục mạng ra phía mặt đường lớn, thoăn thoắt rẽ ngoặt về hướng tiệm phở Vạn Lộc rồi biến mất sau dãy kiốt đóng kín cửa.
Tuấn đứng sững lại giữa làn gió bấc buốt rát, đôi bàn tay siết chặt lấy chiếc đòn gánh tre đực già cứng như sắt. Đôi mắt anh nheo lại, nhìn hút theo bóng đen vừa khuất trong màn sương mờ ảo của phố phường giáp Tết, lồng ngực dâng lên một dự cảm bất an đầy sóng gió.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
